04. Tựa Cơn Gió Mát

18/12/202508:30(Xem: 1376)
04. Tựa Cơn Gió Mát

TỰA CƠN GIÓ MÁT

(phần 1)

 Ngoài trời tuyết đang rơi. Những bông tuyết thật nặng hạt đang tới tấp đổ tạo nên khung cảnh trắng xóa cả một góc trời. Hình ảnh ấy đã gợi lên trong lòng chị Lài những kỷ niệm khó quên về chuyến đi du lịch Canada của vợ chồng chị cách đây khoảng một năm.

Thời gian trôi qua nhanh quá. Hồi ấy, anh Nghiễm, chồng chị, đã rất cảm thương chị vì chị đã quá khổ với chồng con trong bao nhiêu năm ở Việt nam. Rồi qua Mỹ, chị cũng đã cùng anh đi làm không ngưng nghỉ, lo cho con ăn học và để tạo một cơ ngơi ổn định cho gia đình. Nay, tuy nhà chẳng có dư dả gì nhiều, anh cũng đã đề nghị đưa vợ đi du lịch một chuyến. Đồng thời, anh cũng muốn chị đi thăm mẹ một lần nữa cho chị vui, và cũng để làm mãn nguyện mẹ vợ vì bà muốn gặp mặt rể, con lần cuối chứ bà đã quá già rồi. Đấy là điều chị Lài ấp ủ trong nhiều năm nên khi nghe vậy, chị mừng vui quá.

Chương trình tham quan đến nhiều nơi, nhưng lòng chị cứ háo hức mong chóng đến thác Niagara, môt kỳ quan thiên nhiên của thế giới, để được ngắm nhìn cho thỏa lòng ao ước bấy lâu. Lần đi ấy nhằm vào mùa đông nên khí trời buốt giá. Tới Niagara Falls, gió thổi lồng lộng. Những cơn gió mạnh tạt bụi nuớc từ thác đổ xuống, toả lan ra đây đó, nhìn vào thác nước chảy, tựa bức tranh mờ ảo trong sương mù, như cảnh được miêu tả trong Liêu Trai Chí Dị, trông đẹp tuyệt vời. Hai vợ chồng rất thích thú nên dù lạnh đến rét run, họ vẫn say sưa đứng thưởng ngoạn cảnh đẹp ấy. Rồi tới Montréal, tuyết rơi nhiều và lạnh lắm, anh cũng đã đưa chị đi dạo phố để tận mắt thấy cảnh sinh hoạt của một thành phố có cư dân phần lớn nói tiếng Pháp cho chị biết.                                                                                                                                                                                

Xong chuyến du lịch, cả hai vợ chồng rất hài lòng. Nhất là anh chị đã được thăm mẹ già và ngủ lại đêm để chuyện trò với bà. Anh về tiếp tục đi làm ngay để có lợi tức chi tiêu trong gia đình mặc dù lúc này anh cảm thấy mệt do ho. Anh giấu vợ điều ấy vì sợ nói ra, chắc chị sẽ không cho anh đi làm. Đến mấy ngày sau, anh phát sốt và ho nhiều, anh mới nói thật thì đã muộn. Đưa anh vào bệnh viện được hơn hai mươi ngày, anh mất. Chị quá sầu khổ vì cứ tự đổ lỗi cho mình. Như chị đã tự trách vì không biết rõ thời tiết các nơi đến nên đã không chuẩn bị đủ đồ ấm cho anh dùng. Rồi chị cứ nghĩ, do anh chiều chị nên phải đứng thật lâu ngoài trời trước những cơn gió thổi vùn vụt liên hồi để chị ngắm nhìn cảnh thác kỳ vĩ. Còn ở Montréal, anh cũng đã phải đưa chị đi ngắm phố dưới cơn mưa tuyết bất ngờ đổ xuống. Nhiều lúc ngồi buồn ngẫm nghĩ, chị thấy đó có lẽ là chuyến đi định mệnh, để anh làm mọi thứ cho người thân vui lòng trước ngày anh nhắm mắt ra đi.

Chồng chết đã là một nỗi buồn cùng cực. Ai nghe tin cũng đến thăm. Thậm chí bạn bè ở những tiểu bang gần cũng lái xe tới chia buồn. Vậy mà, trong suốt những ngày tang, Đắc, đứa con trai duy nhất của chị, đi làm ở tiểu bang khác không về. Ai  không thấy nó cũng hỏi. Chị phải cố tìm câu trả lời hợp lý nhất để biện bạch cho hành vi thiếu đạo hiếu của con. Riêng chị, chị biết tính con mình. Thật đúng ông bà ta đã có câu: “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính.” Anh chị đều là người rất hiếu thảo với cha mẹ cả hai bên. Còn với người ngoài, anh chị sống biết thương người. Ai cần gì, anh chị đều giúp với sự vô tư. Ngược lại, đứa con trai của chị thì khác. Nó sống rất ích kỷ, chỉ biết sống cho riêng mình. Chính vì vậy nên nó rất xung đột với cha mẹ trong các việc làm từ thiện, phóng sinh...mỗi khi anh, chị kêu gọi con cái đóng góp. Các chị, em gái của Đắc đều vui vẻ, lắng nghe lời cha giải thích lý do ông muốn làm các việc ấy.

Anh Nghiễm không hề xấu hổ về quá khứ nghèo khổ của mình nên chẳng giấu giếm gì các con. Anh kể với chúng đời ông nội sống ở nhà quê cực khổ, vất vả lắm. Nhờ anh có chí, ham học nên ông phải chịu khó đi làm thuê từ làng trên xóm dưới để có tiền cho anh ăn học. Nay qua Mỹ có cuộc sống sung túc, đầy đủ về mọi mặt, con cái chẳng mấy đứa được thành công trong học hành nên anh rất buồn. Anh nghĩ, có lẽ, phúc đức ông bà kém nên vợ chồng anh đã cố gắng làm nhiều việc thiện để may ra có thể thay đổi cuộc đời cháu chắt về sau này. Đắc nghe cha kể rồi, nét mặt hằm hằm, khó chịu, bảo có tiền không để lo cho bản thân, lại đi làm chuyện tào lao. Gia đình chỉ có việc trái ý nhau như vậy đã làm Đắc không thích sống chung. Nó cố tìm việc ở tiểu bang thật xa để tránh gặp người thân. Và từ ấy, chẳng mấy khi nó gọi điện thoại về hỏi thăm cha mẹ. Chị Lài buồn lắm nhưng phải ráng tự an ủi, bây giờ con cái nhiều người ở Mỹ cũng có lối sống thiếu hiếu thảo như vậy.

Đang trong lúc gia đình bối rối, cũng may, có vợ chồng ông anh tinh thần, vừa là người bảo trợ, anh Thể, chị Hân, đã tận tình giúp đỡ mọi thứ trong ngày đau buồn của chị nên đã làm chị thấy an ủi phần nào. Sở dĩ được vậy cũng do anh Thể rất cảm mến anh Nghiễm qua tính tình bộc trực, ngay thẳng, và chẳng bao giờ biết nề hà trong việc giúp người. Vì vậy, gần như suốt những ngày tang, anh luôn túc trực ở nhà quàn để lo mọi thứ. Vị Thầy chủ lễ còn dặn anh thường nhắc nhở chị Lài không nên khóc than quá nhiều để vong linh chồng được nhẹ nhàng ra đi.

Tưởng đâu qua sự việc này, hai gia đình sẽ thêm thân thiết. Không ngờ, từ sau ngày đó, anh Thể cứ mỗi lần gặp mặt chị Lài là lảng tránh. Nét mặt anh có vẻ khó chịu hay ngượng ngùng sao ấy. Chị Lài thấy thật khó hiểu. Chính điều đó, đôi lần, đã làm chị tò mò muốn tìm biết lý do và đã nhìn anh nhiều hơn mỗi khi có dịp tới nhà. Còn chị Hân, không tỏ biểu hiện gì khác, lắm lúc còn có vẻ rất thân tình. Chị Lài thấy sự đối xử nhạt nhẽo của anh Thể như thế nên rất buồn. Đôi khi gặp ngày giỗ chạp được mời đến, chị không có cảm giác thoải mái như lúc chồng còn sống. Do thế, có lần, chị dự định tìm cách từ chối để khỏi tới, cho tâm tư bớt nặng nề. Nhưng rồi lòng chị cứ thấy xốn xang, ray rứt, không đành làm vậy vì nghĩ anh chị ấy đã từng giúp mình quá nhiều.

Chị làm sao quên được ngày mới qua Mỹ, gặp lúc mùa đông, tuyết rơi trắng xóa đầy đường. Vậy mà, anh Thể, chị Hân, tuần nào cũng hai lần, đưa xe lại chở vợ chồng chị đi chợ. Rồi khi anh chị có việc làm và chưa biết lái xe, anh Thể còn cho con tới đưa đi làm giúp. Điều làm chị khó quên và nặng ân nghĩa nhất là chính anh Thể đã tập cho hai vợ chồng chị biết lái xe và đưa đi thi cho tới khi lấy được bằng.

Để đáp lại, vợ chồng chị cũng cố gắng làm nhiều thứ cho anh Thể, chị Hân…để khỏi bị mang tiếng là hờ hững với người đã giúp mình. Cuộc sống hai bên qua lại thân tình như vậy được khoảng hai năm thì vợ chồng anh Nghiễm phải mua nhà ở xa cho tiện con cái học hành, và họ không còn tới lui với nhau thường xuyên nữa...

Việc anh Thể có thái độ khác lạ với chị Lài có nguyên nhân: do chị Hân ghen bóng, ghen gió. Sau khi việc anh Nghiễm xong, chị Hân làm tình, làm tội anh Thể liên tục trong nhiều ngày. Chị bắt bẻ, kể tội anh từ từng cử chỉ, tới lời anh nói với chị Lài. Chị còn cấm chỉ, bắt anh không được tiếp xúc với chị ấy nữa. Anh Thể tình ngay, lý gian, đành nuốt giận chịu trận. Chứ lúc ấy, anh dại dột mở miệng ra bào chữa, thật chẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa. Còn trong số bạn bè của chị Hân, ai ai cũng biết chị Lài bị hàm oan nhưng chẳng người nào có cơ hội nói với chị ta tìm cách đề phòng. Lý do, kể từ ngày dọn nhà đi ở xa, chị Lài ít tiếp xúc với số bạn của chị Hân. Do vậy, họ chẳng có số điện thoại của nhau. Có lẽ biết vậy, chị Hân càng mạnh miệng nói xấu chị Lài nhiều hơn. Chị đem chuyện cha anh Nghiễm ngày xưa là người làm công cho cha mẹ anh Thể ra bêu. Rồi chị rêu rao khắp nơi chuyện thằng Đắc là đứa con bất hiếu, cha chết cũng không về. Chị còn muốn bôi nhọ chị Lài đến tận cùng. Chị kể với mọi người chị Lài là thứ mất nết, lẳng lơ, chồng vừa chết đã có tình ý với chồng chị nên cứ thường lén nhìn trộm hoài...Chị Hân cứ nghĩ nói xấu người là hạ nhục được người và tăng phẩm giá cho mình. Sự thật, khi bạn bè gặp chị, ai cũng có ý khinh thường nhưng không nói ra. Rồi chị cũng nghĩ ghen tuông là biểu thị tình yêu của chị đối với chồng. Không ngờ, anh Thể ngày càng ghê sợ cái tính ghen của vợ. Anh cứ nghĩ vợ chồng anh đã nhận chú thím Nghiễm làm anh em kết nghĩa thì đâu có gì phải e dè. Trái lại, vợ anh thì khác. Người có máu ghen đâu có từ ai, trẻ không tha, già không chừa mà. Còn về bạn bè, họ xầm xì với nhau, bà nào góa bụa đến nhà chị Hân chơi nhiều lần, thế nào cũng bị để ý. Một tiếng cười, một cái nhìn chồng chị từ những người đàn bà này, với chị đều là trơ trẽn, bất chính. Riết rồi tới những bà còn chồng, chị cũng lăm le tỏ ý ghen khiến họ không dám chơi với chị vì sợ có ngày sẽ bị mang vạ .

Cứ sau mỗi lần xung đột với vợ về chuyện ghen tuông, anh Thể làm mặt giận thì chị lại xuống nước, vuốt ve, giả lả. Cách làm ấy như một điệp khúc cũ rích đã làm anh chán ngấy lên đến tận óc. Cũng chính cái lối ghen bóng gió độc đáo của chị đã làm anh Thể trở thành người nhút nhát trước đàn bà, nhất là với những người ngang tuổi hoặc trẻ hơn vợ. Hễ vừa thấy họ, theo phản ứng tự nhiên, là anh nhìn tránh qua chỗ khác. Anh sống trong sự phập phồng lo sợ bị ghen khi ở những chỗ đông người vì lúc nào anh cũng nghĩ có cặp mắt vợ đang theo dõi nhìn mình. Tâm tư anh luôn bị đe dọa bởi những chuyện không đâu khiến nét mặc anh luôn có vẻ đăm chiêu, khắc khổ. Nhưng có một điểm lạ, vợ chồng cứ xung đột hoài về chuyện ấy, vậy mà, không hiểu sao, đường con cái, vợ cứ quen dạ đẻ cách năm đôi. Lấy nhau ngót nghét mười năm, đàn con đã lên tới sáu.

Cũng may, kể từ ngày đứa con trai lớn cho anh chiếc máy vi tính cũ vừa thải ra, anh dùng nó làm bạn giải khuây. Thế nên, đôi khi, anh đã dẹp bỏ bớt những bực bội từ trên trời rơi xuống. Nhờ con chỉ cho cách tìm đề tài để đọc nên anh đã mày mò khám phá đọc nhiều bài rất thú vị. Có lần, anh đọc bài viết nói về thai giáo. Sau đó, anh nghe một số băng giảng Pháp và sực liên tưởng tới trường hợp của mình. Anh suy nghiệm ra hoàn cảnh lúc thụ thai và cả quá trình bé trong bụng mẹ có ảnh hưởng khá lớn đến tâm tính và cuộc đời của đứa trẻ sau này. Nếu sự thụ thai nhằm vào lúc cha mẹ thương yêu, hạnh phúc thì những vong thức tốt sẽ nhập vào. Rồi trong thời kỳ dưỡng thai, vợ chồng sống hòa thuận, đầm ấm, và nếu người mẹ biết giáo dục con ngay thời kỳ còn trong bụng, đứa con sinh ra rất ngoan hiền và có tương lai như cha mẹ ao ước. Còn ngược lại, vợ chồng thường sống bất hòa, những vong oan gia, trái chủ luôn túc trực, chực chờ, gặp cơ hội thuận tiện là hiện diện để sau đòi nợ hoặc trả thù. Nghĩ tới đám con mình, anh Thể thấy có phần nào đúng. Anh rất bực bội khi thấy vợ cứ đi moi móc chuyện nhà người ra xỉa xói, bêu riếu trong khi việc nhà mình có thơm tho gì đâu. Con cái cũng có đứa ngang tàng, ngỗ ngược, bất hiếu. Còn vợ chồng cứ lục đục cãi nhau hoài vì những chuyện không đâu. Việc như thế xảy ra như cơm bữa cho đến một ngày anh Thể tình cờ gặp một người bạn kể về sự thay đổi tính nết thật kỳ lạ của vợ mình. Anh ta bảo vợ anh lúc trước ghen dữ lắm. Nhưng từ ngày hai vợ chồng đi chùa niệm Phật, tự nhiên tính ghen của vợ biến đi hồi nào không hay.

Anh Thể nghe vậy, nghĩ ngay sẽ cố gắng thuyết phục vợ đi chùa thường xuyên. Vợ anh đã thọ Tam quy, Ngũ giới cả hơn năm rồi nhưng chỉ đi chùa vào mấy ngày lễ lớn trong năm. Bạn bè khi nghe chị đã quy y, ai ai cũng lắc đầu. Theo họ, thật ra không phải chị ấy tin Phật mà quy y. Lý do là năm rồi, chị đi chùa nhằm ngày Phật Đản, chùa có tổ chức quy y cho Phật tử nên tiện thể chị ghi tên và Thầy quy y cho luôn. Chính vì lẽ ấy, chị nhận sớ điệp quy y xong là đem về cất kỹ nên chẳng thuộc, nhớ năm giới cần giữ. Do vậy, việc mua gà thả rông trong vườn về nấu cháo, cứ vài tuần một lần, chẳng hề làm chị áy náy. Cũng thế, đối với chị, việc giết những côn trùng như dán, ruồi, kiến... vô phúc xuất hiện trong nhà là chuyện bình thường. Còn về anh Thể, anh cũng đã quy y vào hôm ấy. Anh như “thiên lôi”, vợ bảo gì làm nấy, chứ nào có biết gì về Phật pháp đâu. Nhưng khi nghe Thầy đọc trước và yêu cầu mọi người lặp lại từng giới luật, anh thích nhất ở đoạn: “... chẳng những không được nói dối mà không được nói lời thêu dệt, không nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác...”. Lúc đó, anh thầm mong sao vợ mình chừa được tính xấu nói những từ độc ác. Nhưng sau hơn một năm qua, chị vẫn chứng nào tật ấy. Giờ, nghe bạn nói, anh mừng vui như vớ được của quý, biết đâu vợ đi chùa, bỏ được tật ác khẩu. Nếu được vậy, coi như trời thương, cho anh thoát khỏi tai ách, nặng còn hơn hạn sao La Hầu này, đã đeo đẳng anh tới hơn nửa đời, chưa một tuần ngưng nghỉ.

Ước mơ tâm tính vợ được cải đổi, bước đầu đã thành sự thực chỉ một tuần lễ sau. Chị Hân đã chịu đi chùa nhưng không vào khu chánh điện. Trước tiên, chị đến khu vực nhà bếp. Chị đưa mắt đảo quanh nhìn đây đó để cố tìm hiểu xem ai là người có quyền hạn ở đây. Vậy là từ đó, cứ chủ nhật tới chùa làm công quả, chị thường săn đón, hỏi việc nọ, việc kia để lấy lòng, gây cảm tình với người ấy. Chỉ khoảng hơn nửa năm sau, chị đã chiếm được một vị thế ngang tầm với những người đã ở trong ban trai soạn thời gian dài. Chị nấu chay không ngon mấy vì chưa có kinh nghiệm. Nhưng tuần nào chị được cắt cử chịu trách nhiệm nấu ăn phục vụ cho Phật tử, chị không muốn nghe bất cứ ai đóng góp ý kiến vào. Thành thử món ăn không đạt yêu cầu như mọi người khác làm. Đã vậy, khi xong việc rồi, tối về chị gọi điện thoại tới mọi nơi bạn đạo, hỏi đồ ăn chị nấu ăn ngon không. Ai lấy lòng chị, khen ngon, thì thôi chị hả hê vui thích. Còn người nào thẳng thắn góp ý để chị làm hợp khẩu vị hơn, chị lại ghét cay, ghét đắng. Từ ngày có thêm chị vào, khâu nhà bếp trở nên xào xáo, chia bè, chia cánh. Chị không cần biết, vẫn tiếp tục cách kiểu ngon ngọt, lấy lòng người có quyền hành.  

(phần 2)

Kể từ ngày chị Hân chuyển hướng tìm một chỗ đứng vững chắc trong trai đường, anh Thể bớt khổ vì những đay nghiến ghen tuông. Nhưng, ngược lại, anh phải chịu cảnh đinh tai nhức óc, suốt ngày ở nhà cứ nghe chị lải nhải nói xấu người nọ, người kia. Rồi khi, chị đã bứng được những “cây cổ thụ” đi rồi, con đường chị đi thật thênh thang, không vướng vít. Chị lại bắt anh Thể phải chở chị đến chùa thật sớm vào các ngày thứ Bảy và chủ nhật để chị lo làm đồ bán gây quỹ cho chùa. Mới ngày đầu tiên, anh Thể đã thấy đây là một cực hình vì tới chùa anh chẳng biết làm gì cho hết giờ ngoài việc giúp ghi phiếu công đức cho những ai hộ trì Tam Bảo. Thời gian dài sau đó, có lúc anh rất khổ tâm. Nhiều người như có vẻ tránh né anh khi muốn tới cúng chùa. Có người nhìn anh với cặp mắt chẳng chút thiện cảm. Anh đoán hậu quả này có lẽ do những gì vợ anh làm ở nhà bếp, từ chỗ có ác cảm với chị rồi đâm ghét lây tới anh.                                                                                                               

Đang buồn bực vì chịu cảnh tai bay, họa gởi “ghét ai, ghét cả tông chi họ hàng.” thì có một anh bạn đạo mới quen tới hỏi thăm anh. Anh ta nói chuyện rất thân tình, cởi mở, vui vẻ làm anh Thể tự nhiên thấy vui lên. Anh ta tự giới thiệu là Phùng, có vợ tên Ánh. Rồi anh kể sơ về vợ mình. Chị ấy ngày trước không hiểu đạo nên sống rất phóng túng, tiêu xài bạt mạng trong cuộc sống đua đòi. Nay, nhờ gặp bạn đạo giúp đỡ, chị ấy đã biết sửa đổi. Rồi anh Phùng khuyên anh lúc rảnh rỗi nên tìm hiểu thêm về Phật pháp để tu tập tốt hơn và cũng để ngăn ngừa những sai phạm.  

Trong suốt lúc chuyện trò, anh Thể ngồi chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng đưa ra vài ý kiến chứng tỏ mình cũng có tìm hiểu về đạo Phật. Anh Phùng rất vui, đã cho anh một quyển sách để đọc, quyển Làm Chủ Vận Mệnh, và bảo cần ghi những điều hay vào một quyển sổ để lưu giữ, thỉnh thoảng nên xem lại. Cầm quyển sách bạn đưa, anh Thể không ngăn được niềm vui sướng và tự hứa sẽ cố gắng làm theo lời bạn.

Chỉ trong ngày đầu tiên, anh đã đọc ngấu nghiến hết quyển sách. Thật có quá nhiều điều thú vị. Đề tài đã cho anh nhận thức mới: vận mệnh có thể cải đổi từ xấu thành tốt qua việc thực hành ba điểm chính yếu: Sửa đổi lỗi lầm, Tích chứa phước thiện và Học đức khiêm tốn. Tuy nhiên, có một điều làm anh cứ suy nghĩ mãi: bỏ qua việc làm sai trái của một người tưởng là mình nhân từ, hỷ xả nhưng thật ra đó là việc ác. Để làm sáng tỏ điều này trong sách kể câu chuyện: “Có một vị Tể tướng làm quan rất thanh liêm, công chính nên khi từ chức về quê ai ai cũng kính quý. Vậy mà, có một người nhà quê, sau khi uống rượu, đã mắng ông. Vị Tể tướng đã không bắt lỗi vì cho đó là người say. Không ngờ, người nhà quê này hổ ngươi, cứ tưởng quan Tể tướng ta chửi còn chẳng sao thì làm điều gì cũng chẳng sợ. Thế là, thời gian sau, người ấy gây án nặng, phạm tội chết. Lúc này, vị Tể tướng biết sự việc mới hối hận, tự trách do ông không trị nó khi phạm tội nhỏ để ngăn ngừa tội lớn về sau nên nay đã gây họa cho người nhà quê kia. Vậy mới thấy tâm thiện mà làm việc ác là thế.”. Sau đó, anh còn được bạn bè giải thích thêm rằng một việc làm vừa lợi mình, lợi người hay chỉ lợi người là việc thiện. Còn làm việc gì chỉ lợi mình, hại người là việc ác. 

Từ câu chuyện đó, anh Thể diễn suy, rõ ràng lâu nay mình đã phạm lỗi quá nặng. Anh đã âm thầm bỏ qua nhiều sai lầm của vợ. Tưởng đâu làm như thế để cho êm cửa, êm nhà, không ngờ vợ chẳng thấy chỗ sai nên cứ theo đà làm tới. Giờ, anh rất khổ tâm, không biết phải làm sao để vợ thấy chỗ quấy của mình. Dùng lời lẽ trực tiếp khuyên chị, quả là rất khó bởi vì chị chẳng bao giờ chịu nhận lỗi. Thêm một điều nữa cũng đã làm anh ray rứt không kém. Anh nhớ lại lời anh Phùng nói, người làm công quả ở nhà bếp nếu không hiểu đạo, không khéo chỉ phạm một lỗi lầm thì bao nhiêu công đức tạo được sẽ đổ trôi sông, trôi biển hết. Anh Thể nghĩ vợ mình khó tránh khỏi điều này vì chị có bao giờ muốn tìm hiểu Phật pháp đâu. Ở nhà, giờ rảnh là chị mở băng xem ca nhạc hoặc coi phim bộ. Anh mong mau chóng tới chủ nhật để hỏi ý kiến anh Phùng và cũng muốn nhờ anh ấy cho mượn quyển sổ, ghi chép hết những điều hay cần biết.

Gặp bạn được rồi, anh Thể vui lắm. Đêm hôm đó, anh lân la tới chỗ vợ đang xem phim để gợi chuyện. Thật may, lúc ấy, cuốn phim cũng vừa hết tập. Anh hy vọng có nói gì chắc chị sẽ không càu nhàu, và anh bắt ngay vào chuyện. Anh bảo từ ngày thằng Việt cho anh chiếc máy vi tính cũ, anh đã tìm đọc được nhiều bài giảng Phật pháp thật hay. Ngoài ra, thời giờ nhàn rỗi ở chùa anh cũng đọc được quyển “Làm Chủ Vận Mệnh” rất thú vị. Thấy chỗ nào hay, cần nhớ để tu tập, cốt tránh những sai phạm anh đều ghi hết vào sổ. Anh mong chị có thời giờ nên xem qua những điều ấy để việc đến chùa thật sự có lợi ích. Chị Hân nghe xong, giãy nảy xua tay lia lịa, nói chị không thừa hơi đâu mà xem. Chị bảo việc làm của chị ở nhà bếp quá nặng nhọc, vất vả, mỗi chủ nhật phải trông coi nấu ăn phục vụ cho cả năm, sáu chục Phật tử, công đức nào bằng. Chị nói với giọng chắc nịch khiến anh Thể có vẻ hơi nhụt chí. Nhưng bỗng một ý nghĩ thoáng qua đầu, anh vội đi vào phòng và lấy quyển sổ mượn của anh Phùng ra xem. Anh đọc chậm từng đoạn để cố tìm xem vợ mình có vấp phải tội lỗi nào ghi trong ấy không. Cuối cùng, anh thấy một tựa đề có hai chữ “Thường Trụ” thật lạ và chú ý đọc để tìm hiểu: “Tội trộm cắp của Thường Trụ”. Thì ra đó là tội ăn cắp đồ của Tam Bảo. Rồi anh đọc đoạn tiếp nói về tội dùng phí phạm các tiện nghi của chùa. Anh nghĩ ngay chắc vợ sẽ không tránh khỏi những lỗi ấy. Anh liền đưa quyển sổ cho vợ và nói

-Mình phải đọc những điều này để thấy người làm trong trai soạn mà không biết những giới cấm, thật là nguy hiểm.                                                                                                                                                  

Nghe chồng nói với nét mặt nghiêm trọng, chị Hân cầm đọc: “Kinh Quán Phật Tam Muội nói trộm cắp đồ vật của Tam Bảo, tội ấy lớn hơn tội giết tám vạn bốn ngàn cha mẹ, ...” Và câu tiếp theo: “Lãng phí điện nước của chùa, tội này ngay Phật cũng không thể cứu giúp được.”(1) Lúc ấy, nét mặt chị biến sắc. Chị cố làm vẻ bình tĩnh, mở phim ra coi tiếp, nhưng chỉ được một lát, rồi lại tắt. Từ lúc đó cho đến khi đi ngủ, chị không nói một lời nào. Thấy vậy, anh Thể vừa vui, vừa lo. Vui vì biết vợ đã thấy chỗ sai quấy của mình. Còn lo là lỡ vợ phạm một tội quá nặng, biết làm sao đây?

Chị Hân nằm trằn trọc không ngủ được. Nhiều suy nghĩ đã đến với chị. Cuối cùng, chị cho là anh Thể dàn cảnh để làm chị sợ. Cho nên, tắt đèn nằm chừng gần nửa giờ, bỗng dưng chị Hân bật mình ngồi dậy, mở đèn. Chị hằm hằm lôi anh Thể và nói:

-Ông đừng nhờ người viết để hù dọa tui nghe chưa.  Đừng tưởng con này dễ tin đâu.

Anh Thể chưng hửng tưởng vợ đã biết lỗi của mình. Không ngờ, giờ chị lại nói vậy. Anh biết muốn đưa những bằng chứng xác thực để vợ tin, phải tốn nhiều thời gian, mà lúc ấy đêm đã khuya nên anh bảo vợ đi ngủ và không bào chữa gì hết.

Sáng hôm sau, chờ vợ dậy, cả hai ăn sáng xong, anh mở máy vi tính ra và bảo chị đọc bài: “Tội Trộm Cắp Của Thường Trụ.” Đọc xong, chị không hó hé một lời chống đối nào. Tâm chị bấn loạn, quay cuồng nghĩ mãi tới chỗ:“Nếu có chúng sanh trộm cắp tài vật, lúa gạo, đồ ăn thức uống, y phục của Thường Trụ, cho đến một vật không cho mà lấy;  kẻ đó phải đọa địa ngục vô gián trong ngàn vạn ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được.” Chị nghe như có một luồng cảm giác rất lạ chạy từ đầu lan xuống khắp cơ thể. Dường như nỗi sợ hãi đã làm chị choáng váng. Sỡ dĩ vậy vì chị nhớ ít nhất đã vài lần chị ngang nhiên lấy vật phẩm Phật tử cúng dường đem về nhà nấu ăn. Rồi tới việc làm đồ chay bán để gây quỹ cho chùa, chị muốn đưa bao nhiêu cho Thầy là tùy ý chị. Chị rất lo lắng số tiền giữ lại bất chính dùng vào việc khác coi như phạm tội “không cho mà lấy”. Còn việc dùng điện, nước của chùa chị xài bất kể, chẳng bao giờ có ý thức cần nên tiết kiệm của đàn na tín thí. Chị nhớ nhiều lần cho vòi nước chảy vào thau lớn để dùng, chị lại vào bếp lo chuyện khác nên nước chảy tràn cả ra ngoài rất lâu. Rồi tới dùng điện, mỗi lần vào phòng vệ sinh, chị mở đèn và quạt hút hơi, chừng xong chị ra chớ không bao giờ tắt điện. Ngoài ra, cứ theo như lời chị Ánh nói, chị đang lo việc đổ bỏ thức ăn ở chùa cũng thuộc tội phí phạm của Tam Bảo nữa. Chị biết chẳng những chị mà nhiều Phật tử vào giờ ăn, họ tự lấy thức ăn và cứ lấy thật nhiều, ăn không hết rồi đổ.                                                                                                            

Anh Thể ngồi chăm chăm nhìn sự biến đổi trên nét mặt vợ. Chị biểu hiện nỗi lo lắng rất rõ rệt.  Anh biết chị đang căng thẳng tinh thần nên bỏ đi chỗ khác. Sáng hôm sau, lựa lúc chị có vẻ bớt lo, anh khuyên chị nên đọc thêm những điều ghi trong sổ. Chị ngoan ngoãn nghe theo:

                                   Long Thần, Hộ Pháp ở bên ta.

                                    Lành, dữ ta làm khó giấu qua.(sưu tầm)

                                    Bất chợt làm điều gì thật nhỏ,

                                    Biết là việc ác, phải lìa xa.                                                                                                                                                                

Đọc đến đây, chị ngừng vì chị liên tưởng ngay tới hai vị Long Thần, Hộ Pháp được tôn trí bên trong chùa. Có lần, chị nghe một ai đó nói, một người phạm tội có thể qua mặt được lưới pháp luật, nhưng không bao giờ lọt qua được con mắt của những kẻ khuất mày, khuất mặt. Chị nghĩ Long thần, Hộ Pháp có lẽ nằm trong số những vị ấy. Nếu quả đúng vậy thì bao lâu nay, chị đã làm biết bao điều sai trái, chắc họ đều biết cả. Chị nhớ có những lúc trước đây chị rất sợ những người làm đồ ăn ngon đem cúng dường cho Thầy. Lý do chị nấu thức ăn rất xoàng nên lo Thầy không còn tín nhiệm chị nữa. Như có lần, Thầy có chuyện gì hay do mệt, Thầy không vui vẻ hỏi chuyện chị như nhiều lần trước, chị về buồn lo đến cả tuần. Vì thế, để đối phó với những ai hay đem thức ăn cúng dường, chị đã lần lần tìm cách làm khó dễ như trách sao không báo chị biết trước, hay chê món ăn ấy Thầy không thích, hoặc bảo đồ đựng không sạch sẽ, tinh khiết...Điều này đã làm những người có nhiệt tâm với chùa, muốn tìm chút công đức, kể cả những người đã phục vụ nấu ăn lâu năm, dần dà, thấy cảnh trái tai gai mắt, người làm việc chùa mà có lối tỏ vẻ “công thần” nên không thích và bỏ chùa không tới nữa. Cuối cùng, chỉ còn những người mới chịu ép mình dưới quyền chị. Vậy là, từ đó, chị có quyền uy hơn. Bất cứ ai muốn hỏi điều gì đều phải tới chị. Có người  cần tiếp xúc với Thầy, chị không muốn cho gặp, liền bảo Thầy đi vắng. Chị miên man nghĩ tới những điều lầm lỗi. Tới đây, chị sợ quá và không muốn nghĩ nữa.                                                                                                                                                                                                                                                                

Lúc này, trong đầu chị tự nhiên nhớ lời nói của anh Phùng: “Một khi đã biết việc mình làm không thể che giấu được, vậy nên lúc khởi làm việc thiện, cẩn thận chú ý đến tâm vì tâm vô cùng quan trọng. Nếu đem tâm chân thật và khiêm nhường ra làm thì phước báu sẽ được hưởng trọn vẹn. Còn như khởi tâm làm vì danh, vì lợi, tất không sao tránh khỏi  biểu lộ tính kiêu căng. Mọi sự sẽ chẳng được gì, chỉ uổng phí công sức mà thôi. Do đó phải gắng nhớ thuộc điều này:

                                    Những lúc định làm việc thiện gì,

                                    Chớ vì danh lợi, dẫn mình đi.

                                    Tâm luôn chân thật và khiêm tốn,

                                    Có vậy phước lành hưởng trọn y.                                                                                                                                                   

Không cần tốn nhiều thời giờ suy nghĩ, chị Hân nhớ rành rành việc chị đã bỏ bao công sức và toan tính mới tìm được một chỗ đứng vững chắc trong ban trai soạn hoàn toàn chỉ vì muốn cầu danh. Chị rất thích được khen nên làm việc rất hăng say. Chị tự nhận mọi việc chị làm đã không phát xuất từ tấm lòng vô tư phục vụ cho tập thể. Đôi khi, muốn lấy lòng một số người, chị đã dễ dàng để họ tự tiện lấy thức ăn đem về nhà. Thậm chí chị còn lấy món ăn đặc biệt dấm dúi riêng cho họ nữa. Tất cả những điều này phạm vào tội lấy đồ của chùa để làm lợi ích cá nhân. Còn có lúc chị thấy mình làm được nhiều việc cho chùa nên sinh tâm ngã mạn, kiêu căng. Nay ngồi nhớ lại, chị thấy lòng buồn rười rượi. Rồi chị uể oải đưa mắt đọc đoạn tiếp:

Phần nói về cúng dường cho người xuất gia: “Cuộc sống của họ đã sống rất thoải mái rồi, mình lại đi cúng dường thêm cho họ thì thường thường hay có lỗi lầm. Nên biết  rằng con người trong hoàn cảnh thanh bần, tu hành thường còn một tí đạo tâm. Sau khi danh văn, lợi dưỡng đưa đến thì đạo tâm không còn nữa, tâm tham sẽ nổi dậy. Như vậy, chúng ta đã hại nhóm người tu hành này rồi.” (3) 

(phần cuối)

Chị Hân đọc xong, rồi thở dài, buông mạnh quyển sổ xuống bàn. Lâu nay, chị thường cúng dường tiền cho Thầy để mong được Thầy quí trọng, chứ nào phải Thầy gặp khó khăn, thiếu thốn gì đâu. Nay chị mới biết, làm vậy công đức không chắc được hưởng mà tội thì đã thấy rõ ràng. Tiếp, mấy ngày sau, anh Thể cho chị đọc một đoạn trong bài pháp kể câu chuyện một vị tăng thường nhận tiền cúng dường của vị trưởng giả nhưng tu không tốt. Đến khi chết hóa thành cây có mọc nấm để trả  nợ cho người thí chủ ấy. Chị đọc vừa xong thì nổi da gà và người lạnh toát vì chị rất lo sẽ hại tới Thầy.

Từ nãy giờ, đọc tới đâu, suy ngẫm lại chị đều thấy mình phạm lỗi cả. Giờ chị mới thấy thật là một sai lầm lớn cho những ai đi chùa, chỉ biết lo làm công quả, tưởng vậy là đủ, rồi không chịu tìm hiểu Phật pháp, để rồi vấp phải những tội nặng nề mà không hề hay biết. Chị chán nản không muốn đọc tiếp nữa. Tâm tư chị rối bời vì không biết làm cách nào gỡ cho được những tội đã gây ra. Chị trông anh Thể chở mấy đứa cháu đi học mau về để chị hỏi ý kiến. Chị tin anh có thể giúp chị được vì từ ngày hai vợ chồng đi chùa, chị thấy anh Thể thích đọc sách Phật, nghe băng giảng của quí Thầy và chịu khó lên mạng tìm đọc những đề tài Phật giáo.

Quả đúng như chị dự đoán, sau một hồi suy nghĩ, anh Thể đã cố nhớ những điều đã đọc được trong quyển Làm Chủ Vận Mệnh và quyển Tịnh Độ Vấn Đáp (4) để chỉ cho chị. Anh bảo chỉ có cách chí thành sám hối những lỗi lầm thì tội sẽ tiêu trừ. Ngoài ra, đối với việc ăn cắp vật thực của chùa về nấu ăn, cần phải mua các thứ đã dùng đem trả lại vào chùa. Còn việc dùng lãng phí điện nước của Tam Bảo, sau khi sám hối nên cúng dường một số tịnh tài sao cho tương xứng để xin chuộc lỗi sai phạm ấy.

Anh Thể còn cẩn thận bảo vợ cần ghi nhớ một vài điều, lỡ sau này có phạm lỗi thì làm: thứ nhất, phải biết hổ nhục khi làm sai; thứ hai, tâm luôn khắc khoải lo sợ việc sai phạm ấy. Cuối cùng phải tha thiết sám hối lỗi đã gây. Để ghi nhớ mãi trong tâm, anh bảo vợ hãy học thuộc phần tóm tắt này:

                                               Lỗi lầm: cải đổi làm sao?

                                   Khởi tâm hổ nhục khi nào làm sai.

                                                Tâm lo lắng nghĩ ngợi hoài.

                                    Chí thành sám hối tội sai tiêu liền. (5)  
Chị Hân ngồi chăm chú nghe anh Thể giải thích, lòng lâng lâng vui sướng vì trút được nỗi lo lắng đã đè nặng trên tâm tư chị. Chị mong mau tới ngày cuối tuần để thực hiện những điều chồng dặn. Vì anh ấy bảo để việc sám hối mang lại kết quả tốt nên đến chùa đối trước Phật mà sám hối vì nơi ấy có cả Long Thiên, Hộ Pháp chứng giám, chắc sẽ tốt hơn làm việc ấy trước bàn thờ Phật ở nhà.

Kể từ sau ngày ấy, chị Hân không còn coi thường việc tìm hiểu Phật pháp nữa. Do đó, một tuần nọ, có Hòa Thượng ở Tiểu bang khác đến thăm chùa và bố thí một thời pháp, chị lên ngồi nghe chứ không bỏ như trước kia. Lần đầu tiên, chị được nghe Pháp nên mọi thứ đối với chị đều lạ và rất hay. Chiều hôm đó, xong việc chùa ra về, một số điều Thầy thuyết giảng cứ vang vang trong đầu chị. Thầy có đề cập đến thuyết nhân quả và chị còn nhớ câu Thầy dẫn dụ trong Kinh Pháp Cú: “Nếu nói hay làm với tâm ác, đau khổ sẽ theo liền với ta như bánh xe lăn theo dấu chân con bò kéo xe.” Rồi một lúc sau, Thầy dặn dò  đại chúng, sống lúc nào cũng phải nhớ làm điều tốt. Đừng bao giờ tỏ ý khinh khi, dè bỉu những người không được may mắn như mình. Chẳng hạn, gặp những mảnh đời bất hạnh, lúc nào ta cũng phải biết thương họ. Vì họ đã tạo nghiệp ở đời trước nên nay phải chịu những quả báo như vậy. Và lúc gần cuối giờ, Thầy khuyên mọi người cần nên tu tâm để dọn những thứ như tham, sân, si, ngã mạn, nghi ngờ, tà kiến ra khỏi ngôi nhà tâm linh của mình cho tâm được thanh tịnh.

Trong những điều chị nhớ, duy chỉ có phần “phải biết thương những mảnh đời bất hạnh” đã làm lòng chị xốn xang, ray rứt. Vì đã có lần, một vài bạn đạo tỏ sự bất bình về việc chị đã nghi oan chị Lài. Họ còn kể chị nghe câu chuyện “Nồi cơm của Nhan Hồi.” và lời than của Không Tử: “Trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu đúng sự thật.”(6) Và họ kết luận: “ Thấy vậy mà không phải vậy.” Có lúc chị tin lời nhận xét của họ. Nhưng không hiểu sao, mỗi khi máu ghen nổi lên, chị như người mù, người điên, cấu xé chồng, rồi mắng chửi đối tượng thậm tệ. Từ khi nghe lời Thầy giảng, chị đã tỏ ra ân hận và đã sám hối về tội ác khẩu của mình. Rồi tiếp đến, chị Ánh nói cho chị những lời khuyên được tóm tắt thật gọn, bảo chị học thuộc để luôn nhớ chừa bỏ tật xấu kia:

                                            Đừng nói những lời ác,

                                            Vu khống và xuyên tạc,

                                           Làm tổn hại kẻ khác,

                                          Ấy mới là con Phật.(7)

            Với anh Thể, những lời khuyên như vậy chưa đủ sức thuyết phục để vợ từ bỏ những cơn ghen, hiện như một núi lửa đang tạm ngưng hoạt động, nhưng những dòng nham thạch cực nóng vẫn âm ỉ chảy bên trong chỉ chờ “đủ duyên” là nó trào lên một cách khủng khiếp. Nghĩ vậy nên anh nhờ chị Ánh nói rõ cho vợ nghe về nhân quả báo ứng. Hy vọng nghe xong, chị Hân có thể sợ mà chấm dứt thói xấu tệ hại này. Đúng vậy, từ ngày nghe chị Ánh giãi bày, chị Hân thấy lo vì khi mình xử ác với ai thì rồi mình sẽ nhận quả báo như vậy trong kiếp này hoặc ở một kiếp khác.

Chị nhớ rành rành câu chuyện chị Ánh kể về nhân quả. Có một cặp vợ chồng nọ, anh chồng thù hận vợ đến độ đi đâu về, thấy cây chổi tre là anh cầm lên đánh vợ tới tấp mà không cần có nguyên nhân. Chị vợ rất khổ tâm nhưng vẫn cắn răng chịu đựng. Một ngày kia, chị gặp một thiền sư đắc đạo, mới đem chuyện nhà ra hỏi, cầu mong ngài nói rõ ngọn nguồn. Thiền sư cho biết trong một kiếp xa xưa người chồng là một con lừa, còn chị vợ là ông chủ. Do lừa kéo cối xay chậm chạp nên bị người chủ đánh không thương tiếc. Lừa âm thầm ghim mối hận thù nên trong kiếp này được làm người, gặp lại và tự nhiên thấy mặt vợ là nổi trận lôi đình. Chị Hân lo mình đã hành hạ, mắng nhiếc chồng quá quắt như bao lâu nay, chắc sau này cũng sẽ bị quả báo như vậy. Chị còn lo hơn khi thấy anh lầm lầm, lì lì mỗi khi chị đay nghiến, chì chiết anh. Kiểu chịu đựng ấy sao giống con lừa kia, cam lòng chịu sự đối xử tàn ác để rồi khi gặp cơ hội thì rửa hận một cách không nhân nhượng. Rồi chị liên tưởng tới việc chị nghi oan cho chị Lài. Chị nghĩ dại lỡ anh Thể chết, thế nào chị cũng bị một bà nào đó ghen và nguyền rủa chị như chị đã làm với chị Lài vậy. Chị nhắm mắt lại, không dám nghĩ nữa vì thấy ghê rợn quá. Và cũng từ đó, nhờ bạn đạo chỉ cho, chị mới thấy sự vô lý về căn bệnh ghen bóng, ghen gió của mình. Vì ghen là tự đánh giá mình thua kém người kia. Ấy là tính tự ty mặc cảm. Không nên giữ. Mà thật đúng vậy, lắm khi chị ghen cả với những người thua kém chị xa về nhan sắc, công việc làm ăn...Cho nên cổ nhân đã dạy: “Đáng thương lớn nhất của đời người là tự ty”. Chị tự nhủ, từ nay, phải dứt khoát bỏ tính xấu này đi.

Chị Hân ngồi ngẫm nghĩ có một số lỗi lầm, chị chỉ cần luôn thành tâm sám hối, mọi việc kể như yên. Nhưng có một điều anh Thể đã nhắc chị phải sám hối thật nhiều. Chị đã làm theo mà sao lòng vẫn cứ thấy bất an. Bởi sự sai lầm này có ảnh hưởng đến niềm tin của Phật tử vì đối với họ chùa là nơi không tranh chấp, hơn thua. Thế mà, chị đã gây bất hòa trong ban trai soạn. Ngoài ra, cũng nhờ bạn đạo, chị còn biết tội này nặng lắm ở một khía cạnh rất huyền bí. Nguyên nhân là vào thời điểm có sự gay cấn với nhau ở nhà bếp, tâm của mọi người lúc nào cũng nóng giận nên đã đưa năng lượng xấu này vào thức ăn. Người thọ hưởng là chư Tăng và Phật tử. Họ sẽ có trạng thái tâm như người làm bếp là cũng bực rực, khó chịu, không yên nên việc tu tập không đạt hiệu quả. Ấy là một tội lỗi thật tế nhị mà ít người biết được. Do đó, theo lời khuyên của một vài đạo hữu, chị đã đối trước Phật mà sám hối điều ấy. Ngoài ra, chị đã gọi điện thoại đến những người vì chị mà bỏ chùa để xin lỗi và mong họ đi chùa trở lại.

Trong thời gian này, chị đã cố gắng tu tâm cốt sao cho tâm hồn được nhẹ nhàng, thư thái. Chị biết, tu tâm là rất khó nhưng bạn bè đã khuyến khích chị “Chiến đấu có gian nan, chiến thắng mới vinh quang.” nên dù gì chị cũng phải quyết tâm sửa đổi. Vì vậy, những người trước đây nghe đến tên chị đều phải lắc đầu, le lưỡi thì nay họ cũng rất ngạc nhiên biết chị lo tu tập để sửa đổi tính tình. Còn một ít người hồi xưa có vẻ khinh khi chị qua những tật xấu, giờ lại có vẻ ngưỡng mộ chị. Họ nể phục chị có tính tốt là chịu nhận lầm lỗi để cải đổi. Họ biết được vậy qua những lời nói chị giao tiếp với bạn bè thời gian gần đây. Chị  nói chị rất tin luật nhân quả. Do đó, chị rất thích đi chùa dự các buổi sám hối vào giữa tháng và cuối tháng âm lịch để tiêu trừ những tội đã làm. Đồng thời, cũng nhờ vào thời gian này, Thầy Trụ Trì đọc lại năm giới luật (8) để nhắc cho Phật tử nhớ và giữ tốt, đã giúp chị luôn thấy tội ác khẩu của mình mà sửa đổi và cũng ngăn chị giết hại chúng sinh dù là côn trùng nhỏ bé. Chị còn nói, chị thích nhất đã học được câu: “cây nghiêng về đâu, sẽ ngã về đó”. Câu này luôn cảnh tỉnh chị, không nên thường xuyên làm điều xấu, chẳng hạn nếu như thường biểu lộ tính nóng nảy, hằn học, sân hận thì khi chết sẽ đọa ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Còn tâm lúc nào cũng nghĩ làm điều lành thiện và niệm Phật hằng ngày, thì khi lâm chung rất hy vọng niệm tốt sẽ luôn hiện diện trong tâm. Sau đó, mình sẽ được về cảnh giới an lành.

Thế rồi, một đêm, ngồi nhìn bóng trăng Rằm qua cửa kính, tự nhiên chị Hân thấy lòng nao nao buồn. Có lẽ, chị chợt nhớ một sự việc xảy ra tại ban trai soạn mùa Phật Đản vừa qua. Chị tiếc là đã hiểu luật nhân quả quá trễ nên đã tạo không biết bao nhiêu nghiệp ác. Rồi chị nghĩ lại lối sống của mình trong suốt gần năm muơi năm qua, tâm lúc nào cũng hừng hực lửa nóng đưa đến từ ghen tuông, đố kỵ, cố chấp, ngã mạn, bắt bẻ, hơn thua, ... Chị nghĩ chính những tính nhỏ nhen, hẹp hòi ấy, ngoài việc làm khổ kẻ khác, còn dắt dẫn chị tạo nhiều tội lỗi. Ngoài ra, chính mình tự giày vò tâm tư mình nên điều đó đã phá hoại thân xác chị hết đau bệnh này tới bệnh kia. Thêm vào, bạn bè lần lần đều xa lánh cả. Còn sau khi nhờ gặp duyên may, biết những hành động ấy thật vô lý, xấu xa, chị đã cố sửa đổi cách sống. Chị biết thương những người gặp điều bất hạnh, ráng thực tập nghĩ tới những điều tốt của mọi người để dẹp bỏ tính nói xấu người, cố giữ gìn từng lời nói và cách ứng xử để tập tính khiêm nhường và cố gắng nói lời ái ngữ...Từ đó chị có thêm những bạn mới, lòng chị luôn cảm thấy vui sướng, nhẹ nhàng, thanh thản.

Chị liên tưởng những cảm giác lúc này đây sao giống khi phải trải qua những ngày nắng hạn, trong lòng bực rực, được những cơn gió nồm bất chợt thổi đến, làm lòng hưng phấn, sảng khoái lạ thường. Giờ có những cảm giác tuyệt vời ấy, chị không quên ơn những người bạn đạo và chồng. Chị mong ai đã trải qua những năm tháng như chị, hãy thử thực hành sửa đổi những điều chị đã từng trải để có những phút giây thật an lạc cho tâm hồn. Chị cũng tha thiết muốn những ai có người thân làm điều sai trái, hãy mạnh dạn làm như chồng chị để giúp họ quay về nẻo chính. Nghĩ đến đây, chị nhớ ngay tới bài thơ một bạn đạo vừa tặng. Vì nó đã diễn đạt rất hợp với hoàn cảnh của chị nên một luồng cảm giác lâng lâng dạt dào tràn ngập tâm tư khi chị từ từ nhẩm đọc lại từng câu:

                                   Bao năm sống, lửa sân hừng hực,

                                   Học Phật rồi, bừng tỉnh cơn mê,

                                   Tu tâm: thần dược Phật kê,

                                   Tựa cơn gió mát thổi về trong tâm./.

Phần đọc thêm:

(1) Trang 196- Tịnh Độ Vấn Đáp. Hòa Thượng Tịnh  Không. Thích Nhuận Nghi dịch.

(2) Hai câu này ở trong sách Làm Chủ Vận Mệnh. Dịch giả: Thượng Tọa Thích Minh Quang.

(3) Trang 217-Tịnh Độ Vấn Đáp

(4) Trang 197 – Tịnh Độ Vấn Đáp có ghi: Lãng phí tội ấy rất nặng, tự mình biết lỗi phụ trả lại thì không có vấn đề.

(5) Chương “Sửa Đổi Lỗi Lầm” trong sách Làm Chủ Vận Mệnh.                                                                                 (6) Nồi cơm của Khổng Tử: Xin tóm tắt: Một lần nọ, Thầy trò Khổng Tử đi du thuyết từ nước Lỗ sang nước Tề. Đó là vào thời kỳ Đông Chu. Các nước chư hầu loạn lạc, nhân dân lầm than, đói khổ. Thầy trò của Khổng Tử cũng lâm vào cảnh bữa đói bữa no. Thật may, ngày đầu, thầy trò đến nước Tề, được một hào phú nghe danh  Không Tử từ lâu, đã cho một ít gạo. Khổng Tử sai Nhan Hồi nấu cơm. Bỗng Khổng Tử nghe tiếng động từ nhà bếp vọng lên và đã đưa mắt nhìn tới chỗ đó. Rồi ông thấy Nhan Hồi, người đệ tử ông rất tin yêu, lấy đũa xúc cơm bỏ vào tay nắm từng nắm nhỏ. Xong Nhan Hồi nhìn quanh và bỏ cơm vào miệng ăn. Khổng Tử thấy vậy cứ ngỡ người học trò đạo cao, đức trọng của mình đã ăn vụng. Ông đau khổ vì niềm tin bị sụp đổ. Nhưng cuối cùng, Nhan Hồi mới cho biết sự thật là khi ông mở vung nồi cơm thì một luồng gió thổi đến làm bồ hóng và bụi trên trần rơi vào nồi cơm. Ông nghĩ nếu đổ cơm bẩn đi thì huynh đệ của ông sẽ ăn thiếu nên ông chịu ăn phần cơm dính bụi kia. Khi Khổng Tử biết sự thật mới than như ở trên. 
(7) Lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma như sau: “Là con Phật, nếu không nói được những gì Phật nói, hãy im lặng như chính pháp. Đừng nói những lời ác, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, làm tổn hại kẻ khác...”  
(8)Năm giới cấm: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối (bao gồm nói không thật tức vọng ngôn, nói lưỡi hai chiều, thêu dệt và ác khẩu, không uống rượu.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/07/2025(Xem: 2687)
Bài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông: vùng vằng chống chọi với những cái được thấy và được nghe là chưa biết đạo. Sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.
28/06/2025(Xem: 3951)
Nếu bạn từng tự hỏi: “Tại sao người này đến với mình? Tại sao người kia lại rời xa?” Câu trả lời nằm ở hai chữ: Nhân Duyên.
27/06/2025(Xem: 4319)
Ông Chủ Chánh Báo là thuộc về con người. Y Báo: Cảnh vật có, do nơi Chủ làm. Cảnh Tốt: tạo thân thể, sức khỏe tốt luôn. Tâm thường An lạc đời hoàn toàn tốt thôi !
27/06/2025(Xem: 4285)
Duyên lành để những bài chia sẻ chánh pháp này đến với nhiều người hữu duyên là nhờ vào Xá Lợi Đức Phật, Vầng Mây Sáng Rỡ Đại Hỷ, thắp sáng bầu trời Đại Nam, mang niềm vui hỷ lạc đến cho hàng triệu người Việt Nam trong việc cùng nhau hoan hỷ cung nghinh, cung tiễn, tôn trí, an trí, chiêm bái xá lợi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cùng với công tác phục vụ hỗ trợ cho những đoàn người hành hương của các ban tổ chức, các đội ngũ tình nguyện viên, cảnh sát giao thông, cảnh sát an ninh và các biên tập viên đài truyền hình vv.
25/06/2025(Xem: 2872)
Trong cái nhìn của thế gian, cái chết là điểm kết thúc. Nhưng dưới ánh sáng Phật pháp, cái chết chỉ là một bước chuyển – từ hiện hữu này sang hiện hữu khác, từ duyên cũ sang duyên mới.
23/06/2025(Xem: 3879)
Xá lợi Đức Phật là kết tinh từ Đại Từ Đại Bi Đại Trí (mà Ngài đã chứng đạt, khi thành tựu thập ba-la-mật viên mãn qua vô lượng kiếp tu Bồ Tát Đạo).
20/06/2025(Xem: 3868)
Trong màn đêm tối đen như mực vì vô minh, con người sống trong đau khổ, phiền não do ái dục, tham ái chi phối. Con người sống trong nỗi sợ hãi, sân hận, gièm pha, đố kỵ nghi ngờ, tà kiến, kiêu mạn, tranh giành hơn thua lẫn nhau, danh vọng, địa vị, tiền tài, lợi dưỡng vv.
20/06/2025(Xem: 3645)
Khi xã hội càng văn minh, con người càng rời xa tâm linh. Chúng ta mãi mê bị mắc lừa bởi ảo giác về thực tại và cái bản ngã rồi chúng ta hụp lặn theo định hướng và kỳ vọng xã hội. Bên cạnh đó, chúng ta bị nhốt trong hai nhà tù lớn: tham dục và tham ái. Đây là hai xiềng xích trói buộc và dẫn dắt chúng ta trôi lăn trong vòng luân hồi.
20/06/2025(Xem: 3341)
Khả năng tâm linh là khả năng cảm nhận, liên kết và tương tác với những thực thể, năng lượng hay thông điệp thuộc về thế giới phi vật chất. Nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản thân, mục đích sống và mối quan hệ với các chúng sinh khác hay vũ trụ. Đây là một quá trình đòi hỏi chúng ta nhận biết và rèn luyện bản thân. Những người có khả năng tâm linh là những người có thể cảm nhận những hiện tượng siêu nhiên. Một số người có sẵn khả năng đặc biệt này ngay từ còn nhỏ.
20/06/2025(Xem: 3470)
Bất chấp những ngày nắng mùa hè oi bức, những đêm khuya khoắt, trời mưa, đường sá xa xôi, bệnh tật, tuổi già sức yếu vv mà lòng thành kính với Đức Phật của dòng người nối đuôi nhau, vượt lên trên mọi khó khăn, gian nan, trở ngại, nhất tâm một lòng chiêm bái xá lợi Phật trong niềm hân hoan hỷ lạc. Chứng kiến dòng người với hai tay chắp lại cung kính, vừa đi nhiễu quanh, vừa xá lạy tháp thờ xá lợi Phật. Khoảnh khắc thành kính và thiêng liêng này khiến lòng ‘tôi’ xúc động. Dường như thể, đức tin vào Phật pháp, đang soi rọi trong từng bước chân của người hành hương.