Pháp Hoa Văn Cú (PDF) - update

31/10/202519:40(Xem: 3439)
Pháp Hoa Văn Cú (PDF) - update
PHÁP HOA VĂN CÚ
THÍCH NHƯ ĐIỂN
NGUYỄN MINH TIẾN
Việt dịch và chú giải
Viên giác Tùng Thư - Đức Quốc
United Buddhist Publisher

Nhà xuất bản Liên Phật Hội - California, Hoa Kỳ
Xuất bản lần thứ nhất: Tháng 8/2025
Phap Hoa Van Cu-bia

Lời tựa
bản Sớ giải kinh Pháp hoa
của Đại sư Trí Khải, núi Thiên Thai
Kính Trung Sa-môn Thần Quýnh thuật



Trước hết thưa rằng: chân lý tột cùng không có danh xưng, có danh xưng thì lưu truyền khắp bốn phương trời; Phật thừa không lay động, động thì hiện trong ba cõi. Chứng đắc giáo pháp thì muôn sự ngưng lặng tịch nhiên, nhưng phương tiện nên dùng bốn pháp tất đàn[1] tùy cơ duyên hóa độ. Không toan tính mưu cầu mà dẫn dắt chúng sinh, công đức ấy thật vĩ đại thay!

Đức Thế Tôn Đại Hùng ra đời, vì một đại sự nhân duyên mà thuyết giảng kinh Diệu pháp liên hoa. Thế nhưng, các loài cây thuốc chẳng giống nhau, đối với người bệnh thì sự thích nghi không đồng nhất, sự nhận hiểu giáo pháp cũng khác biệt. Cho nên, thi hành pháp phương tiện mà Chuyển pháp luân nơi Lộc uyển, nói pháp Tứ đế; hiển bày lẽ thật nơi đỉnh Linh Thứu, ba lần biến hóa Tịnh độ.[2] [Giáo pháp của Thế Tôn] ý chỉ thâm sâu, ngôn từ trọn đủ. Bậc đáng tôn kính thuyết đạo cao vời, làm sáng tỏ thọ lượng [Như Lai] từ bản môn xưa vô lượng kiếp, [giúp] thấu hiểu nghĩa thật của hình tích gần đây nơi Bồ-đề Đạo tràng.[3] Mưa pháp tuôn nhuần, khuyến thiện phá ác, diễn bày khắp chốn, bỏ đi những điều phương tiện quyền thuyết trước đây, như người bắt cá bỏ nơm, thợ săn vất lưới; khai mở chỉ bày giúp chúng sinh nhận hiểu, thể nhập tri kiến Phật, được lợi ích hiện đời, như người đã bắt được cá, thợ săn đã bắt được thỏ. Bồ Tát số nhiều như vi trần, đạo quả ngày càng tăng trưởng, sinh tử biến dịch ngày càng giảm dần.[4] Hàng Thanh văn nơi am tranh [nghe pháp rồi] hổ thẹn với pháp Tiểu thừa, mừng vui tiếp nhận Đại thừa. [Trong Pháp hội,] Bồ Tát Dược Vương thiêu cánh tay cúng dường, đức Như Lai Đa Bảo hiện toàn thân chứng minh [lời Phật], trọn vẹn cùng cực, nhỏ nhiệm tinh vi, chẳng thể dùng lời mà nói hết được.

Có bậc Đại sư ở núi Thiên Thai, pháp hiệu Trí Khải, thuở xưa từng đối trước Như Lai tự thân được nghe kinh điển này. Đại sư chứng đắc quả vị hàng Ngũ phẩm,[5] danh tiếng vang dội qua hai triều vua.[6] Ngài không cần trải qua các giảng đường mà đã thấu hiểu Phật thừa. Được sức tổng trì,[7] vui thích giảng thuyết giáo pháp không cùng tận. Ngài thường ở điện Thái Cực của vua Trần, trước mặt vua giảng giải kinh Nhân vương Bát-nhã,[8] bậc thiên tử quỳ gối,[9] trăm quan cùng tán thán. Lại như pháp quán tâm thích [của Đại sư][10] thật khéo lìa hai mặt có không, lấy chân tánh làm khuôn phép, dựa theo sự chiếu soi tự thân mà thấu triệt. [Đại sư] giảng giải danh xưng, trình bày tông chỉ đều khác người xưa, nêu lên năm tầng nghĩa[11] để khảo xét nghĩa lý [kinh điển], đều là phát huy Thánh giáo.

Từ khi Đại sư Trí Giả[12] ra hoằng pháp đến hơn 30 năm, chỉ [trước tác] duy nhất sớ giải kinh Duy-ma.[13] Cho đến đời nhà Tùy, vâng sắc chỉ của Tùy Dạng Đế mới soạn ra bản văn huyền diệu này. Chỉ riêng phần ghi chép của Pháp sư Quán Đảnh đã hợp thành 20 quyển. Không có trí tuệ thì không thể phán xét, đó là lời chân thật.

Sau khi Đại sư viên tịch hơn trăm năm,[14] đến năm Mậu Tý (748), niên hiệu Thiên Bảo [thứ 7] đời nhà Đường, có Hòa Thượng Huyền Lãng[15] ở chùa Thanh Thái thuộc quận Đông Dương, là hàng trưởng lão trong đạo pháp,[16] trí tuệ và công hạnh song toàn;[17] công phu tu tập và nghiêm trì giới luật nỗ lực tinh cần như nhau;[18] uyên thâm cả nội điển và ngoại điển. Ngài đạt được năng lực thuyết pháp như ngài Phú-lâu-na,[19] thấu đạt nghĩa Không như ngài Tu-bồ-đề.[20] Mỗi lần giảng đến bản văn này, ngài thường lặng lẽ than rằng: “Nếu quán xét nơi nghĩa lý thì thật là sâu xa, khế hợp Phật thừa, nhưng tìm hiểu vào cấu trúc văn chương thì thường không theo thứ lớp thích hợp. Hoặc văn tương tục mà nghĩa dứt đoạn; hoặc văn theo sau mà nghĩa đã nêu trước; hoặc dùng văn trường hàng để mở đầu chương; hoặc theo sau mới nêu ý nghĩa; hoặc trong kệ trước đã kể đủ số, nhưng phần theo sau lại không thấy nêu tên. Nhưng thánh ý [của Đại sư] thật khó suy lường, nên chỉ dám cung kính tin nhận mà thôi.

Nay nhân vì những người đến nghe giảng pháp nhiều lần thưa thỉnh khuyến khích: ‘Bậc thượng căn dễ đạt ngộ, cứu xét vào nghĩa lý sâu xa mà không mê lầm, nhưng đối với hàng trung căn, hạ căn, nếu phải tìm theo câu văn liền sai lệch ý chỉ. Ví như có sự so sánh, thay đổi sắp xếp lại thì điều đó hẳn sẽ rộng làm lợi ích cho rất nhiều người.’ Hòa thượng nhiều lần suy đi tính lại những lời trên, xét thấy thật là việc chẳng đặng đừng, mới một lòng cầu nguyện với Đại sư xem việc này có thể làm được không. Nhân vì trong mộng được sự chiêu cảm [đồng thuận] nên mới bắt đầu sắp xếp chỉnh sửa lại [bản văn này]. Nhưng hết thảy đều tùy theo từng chỗ mà sắp xếp thích hợp, thành tâm lượng xét, chẳng phải cẩu thả vì muốn có sự giống hay khác nhau mà tùy tiện theo ý mình thêm bớt trong văn bản.

Mong sao các bậc học giả đời sau thấu hiểu cho ý nguyện ban đầu, truy chỗ cốt yếu, tìm phần thiết thực, chọn lấy vàng ròng mà vất bỏ đá sỏi; thuyết pháp chân thật, chẳng dối lừa người. Vì giúp thêm chánh pháp nhiệm mầu lan tỏa rộng, nơi ngọn Đan Khâu[21] trọn thành việc thêm bớt sửa sang,[22] ắt là trăm pháp giới ngàn như thị, hết thảy cùng tự nhiên khế hợp;[23] dù hóa thành hay bảo sở[24] đều đến được bến bờ giải thoát. Cậy nhờ có Bồ Tát Di-lặc quan tâm [thưa hỏi], Pháp vương tử Văn-thù hồi đáp.[25] [Nay] dùng nghĩa sáu bộ Túc luận[26] làm rõ thêm cho luận Phát trí,[27] nêu một lời xưng tán đúng thật như kinh Xuân Thu.”[28]

Bọn chúng tôi là [Sa-môn] Thần Quýnh và các đồng sự, cùng thu thập, chọn lọc văn xưa, an nhiên thanh thản trong lẽ thật, không một người nào là không cùng phát tâm [Bồ-đề] trước đức Phật Không Vương thuở xưa, như mười sáu vị sa-di đều thay Phật giảng nói [kinh Pháp hoa].[29] [Gặp được kinh này] khác nào như đóa hoa trong bóng tối gặp được ánh mặt trời, dứt trừ nạn khổ, vun bồi châu báu.

Nay thật lòng hổ thẹn không có được văn tài như Nhạn Môn,[30] sao có thể trộm nhìn vào chỗ sâu xa uyên áo như mày rồng? [Nhưng làm việc này] chỉ vì mong muốn [giúp cho] người tham cứu nghĩa lý diệu huyền có thể thấm nhuần trong dòng đạo pháp, được căn bản vững chắc.


__________________________________________


CHÚ THÍCH


[1] Bốn pháp tất đàn, tức tứ tất đàn (四悉檀), chỉ bốn phương thức giáo hóa, gồm thế giới tất đàn, vị nhân tất đàn, đối trị tất đàn và đệ nhất nghĩa tất đàn. Các phần về sau trong sách sẽ giảng giả kỹ các phương pháp này.

[2] Trong phẩm Hiện tháp báu của kinh này, khi đức Phật Thích-ca Mâu-ni triệu tập các phân thân, vì muốn đủ chỗ dung chứa nên đã ba lần biến hóa cõi Ta-bà này thành ra thanh tịnh và rộng lớn.

[3] Nguyên tác dùng chữ Già-da (伽耶), Phạn ngữ Gayā, tức Bồ-đề Đạo tràng, nơi đức Phật thành đạo. Đoạn này nói lên một phần ý chính của kinh Pháp hoa là “khai cận hiển viễn”, “khai tích hiển bản”, như sẽ giải thích ở phần sau.

[4] Nguyên tác dùng “tăng đạo tổn sinh” (增道損生) là cách nói theo giáo lý tông Thiên Thai, cho rằng đây là lợi ích của việc tu tập theo kinh Pháp hoa. Theo giáo lý này, hàng Bồ Tát tu tập lần lượt trải qua các giai vị từ Sơ trụ lên đến Diệu giác, đạo lực ngày càng tăng tiến (tăng đạo), vô minh đoạn trừ dần nên sinh tử biến dịch ngày càng giảm bớt đi (tổn sinh).

[5] Tức Ngũ phẩm đệ tử vị (五品弟子位), là giai vị Ngoại phàm trước Thập tín, là hành vị thứ nhất trong 8 hành vị của Viên giáo, tương đương với Quán hành tức trong Lục tức vị. Giai vị này gồm 5 phẩm chuyên tâm tu hành thực tiễn nên gọi là Ngũ phẩm đệ tử vị. Năm phẩm là Tùy hỉ phẩm, Tụng đọc phẩm, Thuyết pháp phẩm, Kiêm hành lục độ phẩm và Chính hành lục độ phẩm.

[6] Tức triều đại nhà Trần và nhà Tùy. Vua nhà Trần là Thủy Hưng Vương (始興王) quy y với Đại sư. Sau khi nhà Tùy diệt nhà Trần thì Tùy Văn Đế và con là Tấn vương Dương Quảng (sau là Tùy Dạng Đế) cũng đều quy y với Đại sư.

[7] Nguyên tác là đà-la-ni (陀羅尼), dịch nghĩa là tổng trì, có khả năng nắm giữ.

[8] Tức Nhân vương Hộ quốc Bát-nhã Kinh (仁王護國般若經), do ngài Cưu-ma-la-thập Hán dịch, gồm 2 quyển. (ĐCT, T8, 245). Đại sư Trí Khải có soạn sớ giải kinh này, gồm 5 quyển. (ĐCT, T33, 1705).

[9] Nguyên tác dùng “vạn thặng” (萬乘 - muôn cỗ xe), chỉ bậc thiên tử, vì chư hầu xuất binh chỉ dùng ngàn cỗ xe, bậc thiên tử mới dùng đến muôn cỗ xe.

[10] Quán tâm thích: là một trong bốn phương thức giải thích được Đại sư Trí Khải vận dụng xuyên suốt trong việc nhận hiểu kinh văn. Thứ nhất là nhân duyên thích, nhận hiểu theo nhân duyên; thứ hai là ước giáo, tức dựa vào giáo nghĩa; thứ ba là bản tích, tức phân biệt theo ý nghĩa bản môn ban sơ và tích môn là hình tích hiển lộ hiện tại; thứ tư là quán tâm, tức dựa vào quán xét tâm để nhận hiểu.

[11] Ngũ nghĩa hay ngũ trùng nghĩa là phương thức tìm hiểu kinh văn do ngài Trí Khải đề xướng và vận dụng, bao gồm các bước tuần tự như sau: 1. Thích danh (giải thích tên gọi), 2. Biện thể (phân biệt bản thể, tính chất), 3. Minh tông (làm sáng tỏ tông chỉ, khuynh hướng), 4. Luận dụng (phân tích, bàn luận về công năng, ứng dụng), 5. Phán giáo (xác định, sắp xếp vào loại giáo pháp nào).

[12] Trí Giả là tôn hiệu của Đại sư Trí Khải. Năm 591, Tấn vương Dương Quảng xin thọ Bồ Tát Giới với Đại sư, nhân đó vua Tùy dâng đức hiệu cho ngài là Trí Giả.

[13] Tức Duy-ma kinh lược sớ (維摩經略疏), gồm 10 quyển. (ĐCT, T38, 1778).

[14] Từ điển Phật Quang ghi rằng Đại sư Trí Khải sinh năm 538 và viên tịch vào năm 597. Ở đây nói hơn trăm năm nhưng thực tế là đến khoảng 150 năm.

[15] Nguyên tác chỉ ghi là Lãng Hòa Thượng (朗和尚), chính là Hòa thượng Thích Huyền Lãng (釋玄朗 - 673-754) ở chùa Thanh Thái, quận Đông Dương, tên tự là Tuệ Minh. Ngài là một vị cao tăng uyên bác đời Đường, viên tịch vào niên hiệu Thiên Bảo thứ 13 (754), thọ 82 tuổi, 61 tuổi Hạ. Tự truyện của ngài được ghi đầy đủ trong Tống Cao Tăng Truyện, quyển 26. (ĐCT, T50, 2061, tr.875b, d.26.)

[16] Nguyên tác dùng “pháp môn chi mi thọ” (法門之眉壽) để chỉ bậc trưởng thượng, cao tuổi trong đạo pháp.

[17] Nguyên tác dùng “lương trì chi mục túc” (涼池之目足) để chỉ cho bậc có đầy đủ trí tuệ (như mắt sáng) và công hạnh, sự hành trì (như đôi chân đi). Đây có lẽ là lấy ý từ Trí Độ luận, quyển 83: “Thí như nhiệt thời thanh lương trì, hữu mục hữu túc giai khả nhập.” (譬如热时清凉池,有目有足皆可入 。- Ví như lúc trời nắng nóng có hồ nước trong mát, những ai có mắt sáng, có chân đi đều có thể vào hồ.)

[18] Nguyên tác dùng “thừa giới câu cấp” (乘戒俱急), chỉ công phu tu tập tùy theo các thừa, gồm Tiểu thừa, Trung thừa (hay Duyên giác thừa), Đại thừa, và việc nghiêm trì giới luật đều xem trọng như nhau. Vì cầu Phật đạo mà nỗ lực tinh tấn tu tập theo các thừa gọi là thừa cấp (乘急), người xem trọng giới luật gọi là giới cấp (戒急). Trong chúng sinh được phân biệt bốn hạng người: Một là xem trọng cả giới luật và công phu tu tập (thừa giới câu cấp), hai là xem trọng công phu tu tập hơn giới luật (thừa cấp giới hoãn), ba là xem trọng giới luật hơn công phu tu tập (thừa hoãn giới cấp), bốn là hạng phàm phu, xem thường cả công phu tu tập và giới luật (thừa giới câu hoãn). Trong quyển 2 sẽ nói rõ hơn về việc này.

[19] Nguyên tác dùng “Mãn Từ chi bảo khí” (滿慈之寶器), Mãn Từ hay Mãn Từ tử tức là ngài Phú-lâu-na, một trong 10 đại đệ tử, được Phật khen ngợi là “Thuyết pháp đệ nhất”. Do đó, “bảo khí” ở đây chính là khả năng thuyết pháp như Phú-lâu-na.

[20] Nguyên tác là “tọa Không Sinh chi thạch thất” (坐空生之石室). Không Sanh” tức là ngài Tu-bồ-đề, một trong 10 đại đệ tử, được Phật khen ngợi là “Giải không đệ nhất”. Do vậy, câu này hàm ý là thấu đạt nghĩa Không giống như ngài Tu-bồ-đề.

[21] Đan Khâu (丹丘), trong Pháp hoa Kinh Văn Cú Phụ Chánh Ký (法華經文句輔正記) (Vạn Tục Tạng, T28, 593, tr.634b, d.13), ngài Đạo Xiêm (đời Đường) cho biết: “Đan Khâu giả, Xích Thành sơn dã.” (丹丘者赤城山也 - Đan Khâu là tên khác của núi Xích Thành) và nói rõ: “Cứ thời thiêm tước xứ thật Quốc Thanh tự, Đan Khâu danh giai cố dĩ tiêu địa, kim Quốc Thanh tự thuộc Đan Khâu lý. (據時添削處實國清丹丘名佳故以標地今國清寺屬丹丘里 - Nơi thật sự diễn ra việc chỉnh sửa văn bản là chùa Quốc Thanh, vì Đan Khâu là tên đẹp nên dùng để nêu nơi chốn, hiện nay chùa Quốc Thanh thuộc làng Đan Khâu.) Thiên Thai sơn ký (天台山記) (ĐCT, T51, 2096, tr.1054b, d.9-10) của Từ Linh Phủ đời Đường nói: “Tự Thiên Thai quán đông hành nhất thập ngũ lý, hữu Xích Thành sơn, sơn cao tam bách trượng.” (自天台觀東行一十五里,有赤城山,山高三百丈 - từ chùa Thiên Thai đi về phía đông 15 dặm có núi Xích Thành cao 300 trượng).

[22] Nguyên tác dùng thiêm tước (添削). Thiêm là thêm vào, tước là cắt gọt bớt đi. Pháp hoa văn cú ký (法華文句記) quyển 1, phần thượng (ĐCT, T34, 1719, tr.151b, d.13-15) giảng giải: “Thiêm vị thiêm phá cổ sư cập dẫn kinh luận, vị xích phi dĩ hiển thị. Tước vị tước kì phồn trường cập thành văn thể, sử văn ước nhi nghĩa phong.” (添謂添破古師及引經論。謂斥非以 顯是。削謂削其繁長及成文體, 使文約而義豐。- Thiêm là ý nói thêm vào phá bỏ [chỗ không đúng] của những bậc thầy trước, cùng dẫn chứng kinh luận để phá bỏ chỗ sai, hiển bày chỗ đúng. Tước là nói cắt gọt những chỗ phức tạp, dài dòng, cùng thành tựu văn thể, làm cho văn được ngắn gọn mà ý nghĩa phong phú.)

[23] Nguyên tác dùng “bách giới thiên như” (百界千如), theo giáo lý Thiên Thai tông, là thuật ngữ để chỉ cho hết thảy muôn pháp trong thực tại. Theo Thiên Thai tông, do sự sai biệt về nghiệp lực mà chúng sinh phải thọ sinh trong những cảnh giới khác nhau. Tất cả có 10 pháp giới từ thấp lên cao là: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, a-tu-la, cõi người, cõi trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát và Phật. Mười pháp giới này, trong mỗi một pháp giới lại có sự phân chia thành mười pháp giới bên trong đó, cộng thành 100 pháp giới nên gọi là “bách giới”. Trong mỗi pháp giới lại có đủ mười loại sự lý khác biệt (thập như thị), cộng thành ngàn như thị.

[24] Nguyên tác dùng các biểu tượng “hóa thành” và “bảo sở” là lấy ý từ phẩm Thí dụ Hóa thành, đức Phật ví các quả vị quyền thừa như hóa thành, không có thật, chỉ quả vị nhất thừa hay Phật thừa mới là đích đến chân thật, nơi có châu báu (bảo sở).

[25] Ở đây nói một phần nguyên nhân phát khởi kinh này, khi đức Phật hiện điềm lành phóng quang thì ngài Di-lặc thưa hỏi, đức Văn-thù giải đáp.

[26] Tức Lục túc luận (Aḍpadaśāstra), sáu bộ luận căn bản, bao gồm: 1. Dị môn Túc luận (20 quyển); 2. Pháp uẩn Túc luận (12 quyển); 3. Thi thiết Túc luận (chưa có người Hán dịch); 4. Thức thân Túc luận (16 quyển); 5. Phẩm loại Túc luận (18 quyển); 6. Giới thân Túc luận (3 quyển). Trừ ra bộ thứ ba chưa có người Hán dịch, 5 bộ còn lại đều được ngài Huyền Trang dịch sang Hán ngữ.

[27] Luận Phát trí, tức Phát trí luận (Abhidharma-jñāna-prasthāna), gồm 20 quyển, hiện còn trong Đại Chánh Tạng (ĐCT, T26, 1544). Luận này thường được nhắc đến cùng với Lục túc luận như 7 bộ luận căn bản nhất. Lục túc luận bàn giải chi ly, văn nghĩa nhỏ nhặt nên gọi là Túc luận (ví như chân đi), còn Phát trí luận văn nghĩa đầy đủ, bao quát, nên gọi là Thân luận (ví như cả thân hình). Cả 7 bộ luận này, một bộ chưa dịch, còn 6 bộ đều do ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường, nên vào thời Đại sư Trí Giả thì chưa có. Hàm ý của ngài Thần Quýnh ở đây có lẽ là cho biết Hòa thượng Huyền Lãng đã có sử dụng các bộ luận này khi hiệu chỉnh.

[28] Nguyên tác dùng “bao Xuân Thu chi nhất ngôn” (褒春秋之一 言). Kinh Xuân Thu là một tác phẩm thuộc Lục Kinh của Nho gia, gồm: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu. Điểm đặc sắc của Kinh Xuân Thu là luôn nhắm đến 2 mục đích rõ rệt: bao (褒) là ngợi khen, tán dương, đối với những việc tốt; và biếm (貶) là chê bai, quở trách, đối với những việc xấu. Về sự khen chê của Kinh Xuân Thu, Nho gia đời sau cho rằng một lời khen của Xuân Thu ắt vinh quang ngàn đời, một lời chê của Xuân Thu là trừng phạt như lưỡi đao chém dứt khoát, phải muôn đời ô nhục. Do ý nghĩa này nên trong bài dùng “bao Xuân Thu chi nhất ngôn” để chỉ lời xưng tán, ngợi khen xứng đáng, hàm ý sự tán dương, khen ngợi là đúng thật, đáng tin cậy.

[29] Đây là lấy ý trong kinh Pháp hoa, quyển 3 có đoạn chép lời Phật dạy: “Thị thập lục Bồ Tát Sa-di thậm vi hy hữu... Thị thập lục Bồ Tát, thường nhạo thuyết thị Diệu pháp liên hoa kinh.” (是十六菩薩沙彌,甚為希有... 是十六菩薩,常樂說是妙法蓮華經。 - Mười sáu vị Bồ Tát Sa-di này thật rất ít có... Mười sáu vị Bồ Tát này thường ưa thích thuyết giảng kinh Diệu pháp liên hoa.” - (ĐCT, T9, 262, tr.25b, d.11-19) Vị sa-di cuối cùng thứ 16 chính là tiền thân của đức Phật Thích-ca Mâu-ni.

[30] Nguyên tác dùng “Nhạn Môn chi bút” (雁門之筆) để chỉ văn tài của Đại sư Tuệ Viễn (慧遠 - 334-416), vốn quê ở Nhạn Môn (雁門) nên thường xưng là Nhạn Môn tăng. Ngài là bậc văn tài lỗi lạc hiếm có, hiện còn để lại rất nhiều tác phẩm trong Đại Chánh Tạng.

pdf-download
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/09/2021(Xem: 10156)
Tăng đoàn Phổ Môn và Suối Từ (Texas) dưới sự hướng dẫn của Thiền sư Thích Thông Hội và Thiền Sư Thích Diệu Thiện đến viếng thăm, tụng kinh, ban pháp thoại và thiền hành với Ni chúng Hương Sen (Riverside, California) vào thứ hai ngày 13 tháng 09 năm 2021. Chương trình bắt đầu bằng bài kinh Bát Nhã do tăng đoàn Suối Từ và Phổ Môn tụng. Chùa Hương Sen tụng bài Kinh Tám Điều Giác Ngộ của Bậc Đại Nhân và Lục Hòa. Sau đó, Thiền sư Thích Thông Hội ban bài pháp thoại nói về tên của Chùa Hương Sen với ý nghĩa giác ngộ như sau:
16/09/2021(Xem: 9214)
Qua Covid-19, đến biến thể Delta, hoành hành khốc liệt, đã “minh bạch” nhiều vấn đề, khiến cho toàn thế giới suốt hai năm (2020-2021) phải chịu nhiều khủng hoảng về nhiều mặt và đầy hoang mang lo sợ. Các nhà khoa học cũng phải cuốn cuồng nghiên cứu, thử nghiệm, các nhà lảnh đạo hàng đầu thế giới với binh hùng tướng mạnh, tiện nghi vật chất hiện đại, thực hiện nhiều biện pháp, nhưng cũng chưa có gì khả quan, hữu hiệu, để ngăn ngừa dịch bệnh, mà phải thực hiện với một “thông điệp” được lặp đi lặp lại: “Bịt miệng, thường rửa tay và ở yên một chỗ” thì mới mong được an ổn. Cách đây hơn 26 thế kỷ, sau khi chứng ngộ dưới gốc cây Bồ Đề tại Bodh Gaya, Đức Phật đã biết, nhìn thấy và hiểu tận tường sự vận hành của vũ trụ, nên bài Pháp đầu tiên tại Vườn Lộc Uyển là Tứ Diệu Đế (TDĐ) (Khổ - Tập - Diệt – Đạo) đã nói rõ lên được thực tế của “trần gian” chúng ta. TDĐ chỉ rõ sự thật về cuộc sống khổ đau của con người, về nguồn gốc nguyên nhân dẫn đến đau khổ, về sự chấm dứt đau khổ và phương pháp t
12/09/2021(Xem: 9536)
LUẬN ĐIỂN CỦA ATISHA súc tích nhưng bao hàm rộng rãi đem những vấn đề cốt yếu đến với nhau của những giáo huấn của ba lần Chuyển Pháp Luân, như đưa ra một cách tóm tắt trong chương hai. Nó được sáng tác ở Tây Tạng bởi một đạo sư Ấn Độ là Atisha Dipamkara theo lời thỉnh cầu của Jhangchup Wö, sau đó là người cai trị miền tây Tây Tạng. Jhangchup Wö đặc biệt thỉnh cầu một giáo huấn thật sự nổi tiếng vì sự thậm thâm của nó cũng như trong sáng của nó, vì thế nó có thể làm lợi lạc cho dân tộc Tây Tạng nói chung. Atisha súc động sâu xa và hoan hỉ vì sự chân thành thỉnh cầu của Jhangchup Wö, và đáp ứng lời thỉnh cầu ấy ngài đã sáng tác ra luận điển súc tích này.
10/09/2021(Xem: 12523)
Thưa quý vị, Con virus corona đang khiến cả thế giới hoảng loạn chao đảo. Nhưng Phật dạy: “Không có gì là ngẫu nhiên”. Dường như nó cũng là một sự sắp xếp tưởng như vô tình mà lại hữu ý để loài người nhận ra những điều quan trọng, điều gì đó lớn hơn con virus... Mỗi ngày, con virus lần lượt phơi bày tất cả sự thật mà chúng ta từ lâu đã không có khả năng nhìn thấy hoặc cố tình quên đi. Mỗi ngày, nếu để ý, ta sẽ thấy mỗi diễn biến của nó đều điểm vào những sai trái mà con người đã bày ra khi đến thế giới này. Nó bóc trần lần lượt những dối trá, vốn luôn được che đậy kỹ càng. Giờ đây con người nhận ra không có gì dấu giếm được dưới ánh mặt trời.
08/09/2021(Xem: 13137)
Hành trình 10 năm ăn thuần chay của giáo viên trường tiểu học Luo Yuliang (小學羅裕良), nhằm mong muốn việc sinh nở của vợ được suôn sẻ. Thường nhật tại tư gia, đến bữa ăn vợ chồng thầy giáo luôn "Bên mâm cơm chay" (鍋邊素), cho đến khi cơ hội cho ba đứa trẻ cắp sách đến trường, chúng cũng được cung cấp các bữa ăn chay. Sau đó, đã mở ra một phong trào mới cho gia đình 5 nhân khẩu đều ăn hoàn toàn thuần chay.
06/09/2021(Xem: 13443)
Nữ cư sĩ Mazie Keiko Hirono Thượng nghị sĩ Phật tử đầu tiên của quốc gia Hoa Kỳ Nữ cư sĩ Mazie Keiko Hirono Thượng nghị sĩ Phật tử đầu tiên của quốc gia Hoa Kỳ 1Hình 1: Cư sĩ Phật tử Mazie Keiko Hirono thời còn là cô bé với mẹ, tỉnh Fukushima, Nhật Bản, vào khoảng năm 1949. Ảnh: Mazie Hirono Đây là tự truyện do Nữ cư sĩ Mazie Keiko Hirono Thượng nghị sĩ Phật tử đầu tiên của quốc gia Hoa Kỳ kể rằng: "Được đặc ân và trách nhiệm khi tôi phục vụ người dân Hawaii tại Thượng viện Hoa Kỳ. Là một người nhập cư và trưởng thành trong hoàn cảnh khó khăn, tôi chưa từng bao giờ cảm nghĩ, đối với con đường quan lộ đến Thượng viện Hoa Kỳ. Đồng thời, những kinh nghiệm của tôi cho thấy những cơ hội có sẵn đáng kinh ngạc ở Mỹ, và thúc đẩy tôi mong muốn được đền đáp.
04/09/2021(Xem: 46073)
Thiền Sư Khánh Hỷ (1066- 1142) Đời thứ 14 của Thiền Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi Một vị Tăng Thống thời Vua Lý Thần Tông Đây là Thời Pháp Thoại thứ 281 của TT Nguyên Tạng từ 6.45am, Thứ Bảy, 04/09/2021 (28/07/Tân Sửu) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️ Múi giờ : pháp thoại của TT Trụ Trì Thích Nguyên Tạng (trong thời gian cách ly vì đại dịch Covid-19) về chư vị Tổ Sư Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam…) - 06: 45am (giờ Melbourne, Australia) - 01:45pm (giờ Cali, USA) - 04:45pm (giờ Montreal, Canada) - 11:45pm (giờ Paris, France) - 03:45am (giờ Saigon, Vietnam) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹 💐🌹🥀🌷🍀💐🌼🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 Youtube: Tu Viện Quảng Đức (TT Thích Tâm Phương, TT Thích Nguyên Tạng, Melbourne, Australia) https://www.youtube.com/channel/UCxfUXUxU65FtOjrehu9zMMw Facebook: https://www.facebook.com/ThichNguyenTang/
02/09/2021(Xem: 10113)
Lại một quyển sách khác nữa được điểm, để giới thiệu đến với mọi người, nhất là những người ít có thời gian để đọc một quyển sách dày mấy trăm trang, thì đây là một bài giới thiệu tóm tắt về tác giả và tác phẩm. Sách dày 360 trang, nhưng nếu in hai mặt thì số trang chỉ bằng một nửa mà thôi. Bởi lẽ khi Lotus Media ở Hoa Kỳ tái bản năm 2020 do Uyên Nguyên trình bày, muốn làm cho quyển sách dịch ra Việt ngữ của Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải trang trọng hơn, để tỏ lòng với người đã khuất, cũng như muốn cho độc giả thâm nhập sâu hơn với ngôn ngữ của Thiền, nên mới cho chúng ta nhiều không gian thoáng mát như vậy, để khi đọc và khi gấp sách lại tư duy những lời dạy ngắn gọn, rất dễ hiểu của Thiền Sư Bankei Yotaku một cách sâu sắc hơn nữa.
02/09/2021(Xem: 8679)
Chánh là ngay thẳng. Tư (思) và Duy (惟) đều thuộc bộ tâm. Tư duy là quá trình vận hành của não bộ giúp con người suy nghĩ, xem xét, giải quyết những sự vật, hiện tượng trong cuộc sống. Chánh Tư duy là suy nghĩ, xem xét, giải quyết đúng vấn đề. Người có chánh tư duy dễ dàng thực hiện thành công mục tiêu lý tưởng của mình. Hành trì chánh tư duy luôn đem lại chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, bởi tư duy là cơ bản của lời nói và của hành động
02/09/2021(Xem: 12463)
Phần này (32B) bổ túc cho bài viết “Tiếng Việt từ TK 17: nên mười tuổi và nên hoa” (phần 32) về hai cách dùng bình lang (tân lang, cây cau) và (đảo) Côn Lôn/Côn Nôn. Các dữ kiện cho thấy khuynh hướng lẫn lộn n và l đã từng xẩy ra cho đến ngày hôm nay. Trong tuần lễ soạn phần bổ túc (giữa tháng 8 năm 2021), người viết (Nguyễn Cung Thông/NCT) còn thấy trên các mạng truyền thông hiện tượng lẫn lộn n và l như trong các utube ở phần sau. Hi vọng loạt bài viết này là động lực cho người đọc tìm hiểu sâu xa hơn và khám phá nhiều điều thú vị về tiếng Việt phong phú của chúng ta.