Kinh Tứ Thập Nhị Chương (PDF)

28/10/202513:14(Xem: 2690)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương (PDF)

Kinh Tứ Thập Nhị Chương
Kinh Tu Thap Nhi Chuong-bia
LỜI ĐẦU SÁCH

    Kinh Tứ Thập Nhị Chương là bốn mươi hai bài kinh do hai ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan dịch. Hai ngài này là người Ấn Độ, sang Trung Hoa vào thời đại nhà Tiền Hán, tức Hán Minh Đế. Trong quyển  Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập một, trang 52, tác giả Nguyễn Lang do nhà xuất bản Lá Bối ấn hành năm 1973, trong đó có đoạn nói về Kinh Tứ Thập Nhị Chương, theo giáo sư Nguyễn Lang cho rằng: “Kinh này hình thức và nội dung đã khác nhiều với Kinh Tứ Thập Nhị Chương lưu hành ở thế kỷ thứ hai. Nhiều tư tưởng Thiền và Đại thừa đã được thêm vào”. Nghĩa là có những đoạn văn không giống nhau. Ở đây, chúng tôi không có trích nêu dẫn chứng rườm rà, vì xét thấy không cần thiết trong lời nói đầu này. Vẫn theo giáo sư Nguyễn Lang, thì Kinh Tứ Thập Nhị Chương, xét theo thể tài, không phải là được dịch từ một cuốn kinh Phạn Ngữ, mà là được trích dịch từ nhiều bản kinh Phạn Ngữ. Ông dẫn chứng nêu ra nhiều đoạn khác nhau, để minh định rằng quyển kinh mà hiện lưu hành và đã được nhiều Phật tử tụng đọc học hỏi có thể xuất hiện vào thế kỷ thứ tư hoặc thứ năm, chớ không phải vào thế kỷ thứ hai.

   Dù có khác nhau về thời gian xuất hiện, nhưng nội dung cũng không có gì thay đổi. Sở dĩ gọi 42 bài kinh là do vì chư tổ rút ra từ những bài kinh rải rác khác để đúc kết thành 42 bài kinh cho người học dễ hiểu và dễ nhớ để thật hành. Kinh này, là một trong ba bộ kinh mà người mới xuất gia vào chùa đều phải học. Ngoài kinh này ra, còn có hai bộ kinh khác là Kinh Di Giáo và bộ Luận Qui Sơn Cảnh Sách, mà trong thiền môn thường gọi là Phật Tổ Tam Kinh. Có thể nói, kinh này như là quyển kinh gối đầu giường mà người xuất gia nào cũng phải học. Vì nội dung của kinh nghiêng nặng dạy cho người xuất gia. Tuy nhiên, nói thế, không có nghĩa là người cư sĩ tại gia không học được. Nếu người cư sĩ tại gia học và hành trì thì cũng mang lại nhiều lợi ích rất lớn. 

   Trong mùa An Cư năm nay (2025) tức năm Ất Tỵ, chư Tăng, Ni Tổ Đình Phước Huệ có nhã ý muốn chúng tôi giúp cho các vị đó học bộ kinh này, nên chúng tôi cố gắng biên soạn theo hình thức giảng giải sơ yếu từng câu để cho học chúng tiện bề theo dõi học hỏi. Vẫn biết bộ kinh này đã có nhiều nhà dịch và giảng giải như: Hòa Thượng Thích Thanh Từ, cố Đại lão Hòa Thượng Tuyên Hóa, Cố Hòa Thượng Thích Hoàn Quan, Thượng Tọa Tuệ Hải v.v... Dĩ nhiên, tùy theo sự hiểu biết nhận thức của mỗi vị mà có sự trình bày hướng dẫn mỗi cách khác nhau. Riêng bản thân chúng tôi, nhớ lại xưa kia, khi còn ở trong Phật học viện, chúng tôi cũng có được chút cơ may là học bộ kinh này với cố Hòa Thượng Thích Hoàn Quan. Kinh này chính do Ngài dịch và giảng giải. Nay thể theo sự yêu cầu của chư Tăng, Ni chúng Phước Huệ, vẫn biết sở học của mình vẫn còn giới hạn kém khuyết, nhưng với tinh thần “Kiến hòa đồng giải” theo sáu phép Lục Hòa Phật dạy, mà chúng tôi mạo muội cố gắng biên soạn kinh này để trao đổi chia sẻ cùng với quý huynh đệ, gọi là người đi
trước hướng dẫn người đi sau, chỉ có thế thôi.

   Trong khi biên soạn, chắc chắn chúng tôi không sao tránh khỏi những điều lỗi lầm sai sót, nếu có, kính mong các bậc Cụ nhãn Cao minh Thiện hữu tri thức xa gần, hoan hỷ niệm tình thứ lỗi và chỉ giáo cho. Soạn giả xin hết lòng tri ân đa tạ.

   Nhân đây, chúng tôi cũng xin thành kính tri ân Thượng tọa Thích Phước Viên đã giúp cho phần kỹ thuật trình bày và in ấn, Thượng tọa Thích Minh Từ giúp cho phần phác họa hình bìa. Chúng tôi cũng không quên kính cảm ơn Sư Cô Phước An và Thức xoa ma na Vạn Tường đã tận tâm giúp cho phần sửa bản in. Đồng thời, chúng tôi cũng xin chân thành tri ân chư Tôn Đức Tăng, Ni, quý liên hữu trong hai đạo tràng: Phước Huệ và Quang Minh, cũng như quý Phật tử xa gần đã phát tâm hỷ cúng tịnh tài góp phần ấn tống quyển kinh này. Chúng tôi xin hết lòng tùy hỷ tán thán công đức của toàn thể liệt quý vị.

   Nguyện đem công đức pháp thí này hồi hướng về cho pháp giới chúng sanh đồng trọn thành Phật đạo.

   Kính nguyện cầu hồng ân Tam bảo gia hộ cho chư Tôn liệt vị thân tâm thường lạc, vạn sự hanh thông, tùy tâm mãn nguyện.

Khởi soạn ngày 28/3/2025
Pháp Lạc Thất
Cẩn bút
Tỳ kheo Thích Phước Thái

pdf-download
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/07/2025(Xem: 3633)
Theo Luật Nhân Quả, vợ chồng, con cái đến với nhau phần nhiều qua hai con đường ĐÒI NỢ và BÁO OÁN. Nhiều người không hiểu như vậy nên khi trong nhà xảy ra nhiều chuyện không ưng ý thì than trời trách đất và khổ sở khôn cùng. Ai tin sâu Luật NHÂN QUẢ, khi gặp hoàn cảnh như vậy hãy TỰ NHỦ mình đã gieo NHÂN kiếp xa xưa, nay đủ DUYÊN, mình phải lãnh QUẢ.
27/07/2025(Xem: 2615)
Lời dịch giả: Bài thơ "Chơn Đế" được Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) sáng tác, in trong Tạp chí Liên Hoa, số 9, tháng 9 năm Ất Mùi, tức là năm 1955. Tạp chí Liên Hoa thành lập năm 1955, với Thượng toạ Thích Đôn Hậu trú trì chùa Linh Mụ ở Huế làm chủ nhiệm, Thượng toạ Thích Đức Tâm làm chủ bút, và Ni sư Thích Nữ Diệu Không làm quản lý. Trong bài này, Ni sư ký tên tác giả là Diệu Không.
27/07/2025(Xem: 3048)
Lời mở đầu của người chuyển ngữ Vu Lan là một ngày lễ lớn của Phật giáo, nhắc nhở chúng ta tưởng nhớ đến cha mẹ, nhất là đối với mẹ, một người mang nặng đẻ đau, bồng bế mình, nuôi nấng mình từ thuở bé. Ngoài tình mẫu tử ra thì cũng còn có cả tình phụ tử. Cài lên áo mình một cánh hoa hồng không nhất thiết chỉ là để tưởng nhớ đến công ơn của cha mẹ mà đôi khi còn phải nhìn vào chính mình xem mình có xứng đáng cài lên áo mình cánh hoa hồng ấy hay không.
27/07/2025(Xem: 2686)
Indonesia không phải là một quốc gia nổi tiếng với Phật giáo; Phật tử chỉ chiếm một thiểu số rất nhỏ trong dân số đất nước với 0,7%, quá nhỏ bé so với 87,5% dân số theo đạo Hồi. Mặc dù quần đảo hiện nay tạo nên Cộng hòa Indonesia từng nằm dưới sự cai trị của đế chế Srivijaya (650–1377) và Majapahit (1293–1527) chủ yếu theo đạo Phật, người ta thường cho rằng tất cả những gì còn sót lại từ thời kỳ đó chỉ là một số ngôi đền và bảo tháp nằm rải rác, gần như đổ nát.
22/07/2025(Xem: 3080)
Lời dịch giả: Bài viết "Chơn Tâm, Vọng Tâm" được Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) viết, in trong Tạp chí Liên Hoa, số 9, tháng 9 năm Ất Mùi, tức là năm 1955. Tạp chí Liên Hoa thành lập năm 1955, với Thượng toạ Thích Đôn Hậu trú trì chùa Linh Mụ ở Huế làm chủ nhiệm, Thượng toạ Thích Đức Tâm làm chủ bút, và Ni sư Thích Nữ Diệu Không làm quản lý. Trong bài này, Ni sư ký tên tác giả là Diệu Không.
18/07/2025(Xem: 3172)
Lời dịch giả: Bài viết "Bi Và Ái" được Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) viết, in trong Tạp chí Liên Hoa, số 3, ấn hành cuối tháng 8/1955. Tạp chí Liên Hoa thành lập năm 1955, với Thượng toạ Thích Đôn Hậu trú trì chùa Linh Mụ ở Huế làm chủ nhiệm, Thượng toạ Thích Đức Tâm làm chủ bút, và Ni sư Thích Nữ Diệu Không làm quản lý. Trong bài này, Ni sư ký tên tác giả là Thích Diệu Không. Ni trưởng là dịch giả nhiều kinh và luận, cũng là một nhà thơ xuất sắc.
18/07/2025(Xem: 3060)
Namo Buddhaya Người ''biết rõ''.. là người giàu có từ bên trong. ..Người đời thường mải miết theo đuổi những thứ có được: tiền bạc, tài sản, danh tiếng, quyền lực… Họ gọi đó là thành công, là giàu có. Nhưng rồi bao nhiêu người, sau khi có tất cả, lại vẫn cảm thấy trống rỗng?
17/07/2025(Xem: 3522)
Cuốn theo tám ngọn gió đời, Tâm ta loạn động, chẳng hồi nào ngơi. Được khen: vui vẻ, tươi cười. Bị chê: sân dậy, giận người chê ta.
17/07/2025(Xem: 2788)
Bài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông: Khi tính người tịch diệt, thì tính trời hiển lộ. Sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.
16/07/2025(Xem: 2818)
Hầu hết các loài trên hành tinh này đều thiếu khả năng trí tuệ để xây dựng hệ thống niềm tin. Ví dụ, mèo và chó không nghĩ về ý nghĩa cuộc sống của chúng và có xu hướng sống hạnh phúc miễn là chúng nhận được những gì chúng cần ngay tại thời điểm hiện tại. Điều này khiến Loài Người Thông Tuệ (Homo sapiens) trở thành loài duy nhất trên Trái đất có khả năng tham gia vào các quá trình tư duy phức tạp và tạo ra các hệ thống tôn giáo và triết học. Do đó, việc có tôn giáo là một đặc điểm riêng của con người mà không có ở bất kỳ loài vật nào khác.