Tìm hướng đi lên

01/04/201312:47(Xem: 9061)
Tìm hướng đi lên

 

TÌM HƯỚNG ĐI LÊN

Thích Minh Thông

Có một bài thuyết pháp của Đức Thế Tôn mà không thấy sách sử ghi lại, bài thuyết ấy cũng tại Vườn Nai, xứ Ba La Nại, được nói ra trước bài kinh Tứ Diệu Đế chỉ vài giờ. Bài thuyết pháp ấy không lời. Khi Đức Thế Tôn bước từng bước chân an lạc trở về Vườn Nai, các vị trong nhóm ông Kiều Trần Như đã tiếp nhận được ánh sáng hạnh phúc đó và đã chuyển hóa được năng lượng tiêu cực đang phát khởi trong tâm bằng cách quỳ dài xuống đất để đón tiếp. Không một lời nào mà như sấm sét rền vang, uy lực của sự chứng ngộ đã chinh phục được tất cả mọi ngoại cảnh dù điên đảo nhứt. Đức Thế Tôn vẫn từ hòa trong chiếc y vàng cũ kỹ, bước tới nhẹ nhàng hơn cả loài nai chúa trong vườn, đưa cánh tay từ mẫn đến để nâng đỡ những người bạn cố tri đang thủ lễ. Trong năm người đang quỳ sát đất, ai cũng nhận được bài học tình thương mầu nhiệm này từ một bậc Đạo sư cao cả.

Những bước chân an trú trong chánh định, những cánh tay từ mẫn của Đức Thế Tôn và các vị Thánh tăng qua nhiều thế hệ vẫn tiếp tục biểu hiện để giáo hóa hàng vạn chúng sanh sau này đến bờ giải thoát. Ta hãy ghi nhận điều này thật sâu sát để biết rằng ba tạng giáo điển mà Đức Thế Tôn đã nói ra chỉ là phương tiện thôi. Sau này nhiều vị Tổ sư đã tránh cách phô diễn giáo pháp bằng ngôn từ diễm lệ, sợ người nghe kẹt vào nên có khi hét, có khi đánh, có khi lặng thinh câm lời mà vẫn chuyển hóa tích cực tập khí của người học đạo, mở con mắt chánh kiến của họ ra và đẩy họ tới chân trời thênh thang giải thoát. Tổ sư muốn chúng sanh quay về với chính mình để thực tập. Bằng tất cả tình thương, các ngài không muốn bất kỳ một ai mê muội dong ruổi đắm đuối tìm cầu sự giải thoát trong ngôn từ, văn cú, vì trong đó không có chất liệu nào là giải thoát cả. Áp dụng được như vậy thì mới xứng đáng đứa con giỏi của Đức Thế Tôn, tiếp nối Thế Tôn với trách nhiệm hoằng pháp. Chúng ta nhất định không để cho ngôn từ, văn cú lừa dối và kềm hãm ta. Chúng ta phải khai triển lối thuyết pháp vô ngôn thì công trình hoằng pháp của chúng ta mới gặt hái được nhiều kết quả, mới có thể làm tròn trách nhiệm, nối thành dòng thánh được. Đi bất cứ nơi nào thì ta cũng bước những bước chân an lạc như đang đi trong cõi tịnh độ. Ngồi bất cứ nơi đâu ta cũng ngồi cho vững vàng như đang ngồi dưới cội bồ đề, tâm ý không chút lãng sao. Trong khi nằm, trong khi nói, trong khi ăn… đều có hỷ có lạc thì chúng ta không cần phải lo ngại gì thêm nữa khi nghĩ tới chuyện hoằng pháp. Còn nếu trong các uy nghi đó, không có sự thành công, chúng ta vẫn còn đi trong tương lai, ngồi trong quá khứ, nằm trong mộng, đứng trong mơ thì chúng ta chưa đủ tư cách thay thế bao thế hệ tổ tiên của chúng ta để đi chia sẻ giáo pháp giải thoát của Đức Thế Tôn. Giáo pháp của Đức Thế Tôn có công năng giải thoát, người ta sẽ không tin nếu mình không có chút giải thoát nào hết. Mình không giải là một nhà truyền giáo. Mình mới học xong vài bộ kinh, thông suốt vài bộ luận, thuộc lòng vài bài thi kệ mà vội vàng bước ra thuyết giáo thì tội cho Đức Thế Tôn quá, tội cho gia nghiệp đạo Phật quá. Chúng ta hãy sống với đời sống của chính mình. Đời sống của chính mình không phải là đời sống của một pháp sư hay một Giảng sư, mà là đời sống của một tu sĩ, một hành giả. Một hành giả có rất nhiều sự tự do. Hành giả không bị ái dục, không bị tà kiến, không bị lối hưởng thụ trần tục lôi kéo. Hành giả có sự bảo hộ của giới luật. Vì giới luật có công năng bảo vệ sự tự do, nên giữ được điều giới nào thì ta có tự do nơi điều giới đó. Ví dụ như giữ gìn giới dâm dục thì hành giả sẽ được vững chãi đối với sự quyến rũ của ái dục, không có thứ cám dỗ nào thuộc về ái dục có thể xâm phạm hay làm nhiễm ô được hành giả. Giới luật chính là sự thực tập chánh niệm. Ý thức được điều này không nên làm, điều kia cần nên gìn giữ không cho sai phạm, là năng lực hùng hậu để đưa hành giả vào chánh định rồi phát sinh trí tuệ. Có trí tuệ thì không còn sợ lạc vào tà kiến. Bước vào con đường thuyết giáo làm chủ được tư duy và nói năng, không bị sa lầy vào tà kiến thì chúng ta đã đủ sức mạnh để làm hết tất cả những gì mà người hoằng pháp cần phải làm. Ai là người hoằng pháp? Câu trả lời là tất cả con của Đức Thế Tôn. Con của Đức Thế Tôn thì phải biết đi như Đức Thế Tôn đã đi, ăn như Đức Thế Tôn đã ăn, ngồi như Đức Thế Tôn đã từng ngồi. Con của Đức Thế Tôn thì phải đủ sự vững chãi, thảnh thơi và tình thương lớn. Con của Đức Thế Tôn thì phải thông minh, không bao giờ lập lại lời Thế Tôn đã nói như một cái máy, cho dù đó là những lời thuộc về đạo đế, là đệ nhứt nghĩa đế. Con của Đức Thế Tôn là phải đi tới sự chứng đạo như Đức Thế Tôn đã tới. Con của Đức Thế Tôn phải là một với Thế Tôn. Chúng ta không ngồi trong nhà của Thế Tôn, không mặc áo của Thế Tôn, không ăn cơm của Thế Tôn, không biết sử dụng ngôn ngữ từ hòa của Thế Tôn, không có khả năng lắng nghe bền bỉ của Đức Thế Tôn thì chúng ta không đủ tư cách để thay mặt Đức Thế Tôn làm bất cứ điều gì cả. Đức Thế Tôn không cho phép chúng ta dẫn dắt con cháu chúng ta đi tới chân trời giải thoát bằng con đường ngôn luận, lý thuyết suông. Đức Thế Tôn sẽ quở trách nặng nề nếu chúng ta đổ thừa tất cả những gì chúng ta nói ra đều là tuệ giác của Đức Thế Tôn, còn chúng ta chẳng có gì cả…

Chúng ta hãy tìm hướng đi lên và mở đường cho thế hệ con cháu tiếp nối có một tương lai. Chúng ta phải thiết lập lại lối hoằng pháp sao cho chính người san sẽ giáo pháp và người tiếp nhận giáo pháp đều có lợi ích. Chúng ta hãy đi với tư cách của một đàn chim, hay một dòng nước thì chúng ta sẽ vững vàng hơn, an ninh hơn và thành công hơn. Chúng ta đừng làm một con chim lẻ loi, hay một giọt nước đơn độc, vì như thế chúng ta sẽ không đủ sức vượt qua cơn bão dữ hay có thể đi về tới đại dương. Sức mạnh hòa hợp an2m tựa vững chắc cho chúng ta. Chúng ta làm gì, nói gì cũng với tư cách của Tăng đoàn chứ không phải là tư cách cá nhân. Chúng ta có khả năng sống chung an lạc với Tăng đoàn thì chúng ta mới đủ sức thiết lập đời sống hạnh phúc cho chúng sanh được. Thực tập uy nghi giới luật là điều căn bản cần thiết để chế tác định tuệ, chúng ta hãy noi gương Đức Đạo Sư của chúng ta: trước khi bắt đầu một cuộc thuyết giáo thì Ngài đã chuyển hóa và trị liệu những khổ đau của chúng sanh đang có mặt bằng sự tỏa chiếu của ánh sáng chánh niệm trước rồi. Chúng ta phải làm được chuyện này. Chúng ta không có chuyện nào quan trọng bằng chuyện này. Không làm được chuyện này thì chúng ta làm chuyện gì khác cũng là phi pháp, cũng là tà mạng. Khả năng hùng biện sẽ không là gì hết và có khi là tai hại nếu chúng ta không chế tác được chất liệu vững chãi đó cho chính mình. Đức Thế Tôn thường khen thầy Phú Nâu Na là một người hoằng pháp giỏi. Thầy Phú Lâu Na không phải vì có tài hùng biện giỏi mà thầy thành công, chỉ tại vì thầy là người có tình thương lớn, có sức chịu đựng lớn, có khả năng chuyển hóa những khó khăn bên ngoài bằng năng lực im lặng sấm sét của mình. Thầy Phú Nâu Na thuyết giáo như là thầy đang sống cho chính mình vậy. Thầy đi vào cuộc đời vững chãi như là thầy ngồi bên cạnh Đức Thế Tôn vậy, tại vì đi đâu thầy cũng mang cả Tăng đoàn theo cả. Nụ cười tươi mát, ánh mắt bao dung, cử chỉ nhún nhường mềm mỏng đều là những bài thuyết pháp hùng hồn nhứt của thầy. Chúng ta hãy chọn phong cách người hoằng pháp như thầy Phú Lâu Na thì nhất định chúng ta sẽ thành công. Chúng ta hãy tìm cho mình một hướng đi đích thực, hướng mà Đức Thế Tôn đã từng đi, thầy Phú Lâu Na, thầy Long Thọ, thầy Lâm Tế, thầy Khương Tăng Hội… đã từng đi. Chúng ta hãy đi với tư cách của người tiếp nối tiền nhân cũng là người mở đường cho con cháu của chúng ta.

Trích: Nội San CHUYỂN PHÁP LUÂN, 01-2004, GHPGVN.

---o0o---

Source: http://www.budsas.org/

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/09/2011(Xem: 16601)
* Trong thời mạt pháp, nếu chỉ tu môn khác không kiêm cầu Tịnh Độ, tất khó giải thoát ngay trong một đời. Nếu đời này không được giải thoát bị mê trong nẻo luân hồi, thì tất cả tâm nguyện sẽ thành hư tưởng. Đây là sự kiện thiết yếu thứ hai, mà hành giả cần lưu ý.
15/09/2011(Xem: 15656)
Ngài Achaan Chah là một trong những vị đại sư nổi tiếng của đất nước chùa tháp Thái Lan. Ngài duy trì lối tu học truyền thống như thời của Đức Phật còn tại thế. Sự minh triết và đức hạnh của một vị thiền sư đã làm cho danh tiếng của Ngài vươn xa tới nhiều châu lục. Hiện nay, pháp thiền của Ngài - Thiền Minh sát tuệ - đã lan tỏa mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới. Tác phẩm A Still Forest Pool(Tâm Tĩnh Lặng), do hai môn đệ người Mỹ của Ngài là Jack Kornfield và Paul Breiter đã kết tập từ những bài giảng của Ngài và được xuất bản bằng tiếng Anh lần đầu tiên vào năm 1985. Mặc dù tác phẩm đã ra đời trên hai mươi năm, nhưng trí tuệ chân thực vẫn luôn tồn tại mãi với thời gian. Bài giảng sau đây, người dịch trích từ tác phẩm trên và xin giới thiệu cùng bạn đọc.
15/09/2011(Xem: 13204)
Xưa, có người Bà la môn nọ ở với hai người vợ. Vợ đầu sinh được con trai, đã mười hai tuổi; vợ hai đang mang thai, sắp đến kỳ sinh nở, chưa rõ trai hay gái. Chẳng may Bà la môn nọ qua đời. Đứa con trai nói với bà hai rằng: “Tiểu mẫu! Tài sản mà cha tôi để lại, bao gồm vàng bạc hay thóc lúa..., tất thảy bây giờ đều là của tôi, tiểu mẫu không được gì hết!”.
14/09/2011(Xem: 21407)
Từ bi là điều kỳ diệu và quý giá nhất. Khi chúng ta nói về từ bi, thật đáng khuyếnkhích để lưu ý rằng bản chất tự nhiên của con người, tôi tin, là từ bi và hiềnlành. Đôi khi tôi tranh luận với bạn bènhững người tin rằng bản chất con người là tiêu cực và hung hăng hơn...Khi chúng ta nói về từ bi, thật đáng khuyến khích để lưu ý rằng bản chất tự nhiên của con người, tôi tin, là từ bi và hiền lành.
08/09/2011(Xem: 15639)
Sân hận và thù oán là hai trong số những người bạn gần gũi nhất của chúng ta. Khi còn trẻ, tôi đã có một mối quan hệ rất gần gũi với giận dữ. Cuối cùng tôi thấy nhiều sự bất hòa (!) với giận dữ. Bằng việc sử dụng ý thức thông thường, với sự hỗ trợ của từ bi và tuệ trí, bây giờ tôi có một biện luận đầy năng lực để đánh bại sân hận... Một cách tự nhiên, cảm xúc có thể tích cực và tiêu cực. Tuy nhiên, khi nói về sân hận hay giận dữ, v.v..., chúng ta đang đối phó với những cảm xúc tiêu cực.
07/09/2011(Xem: 12419)
Hôm nọ, một người giáo viên nổi tiếng quay trở về nhà sau bài thuyết trình quan trọng mà ông vừa trình bày trước một nhóm các đồng nghiệp đáng kính của mình, đang đi nhưng lòng ông say sưa với những lời tán thưởng mà thính giả đã dành tặng cho ông. Thói quan đã đưa ông đến con đường đi bộ dọc theo bờ biển. Đang tản bộ trên bờ biển thì ông bắt gặp một cậu bé.
04/09/2011(Xem: 21053)
DỄ là nói chẳng nghĩ suy KHÓ là cẩn trọng những gì nói ra. DỄ làm đau đớn người ta KHÓ sao hàn gắn bao là vết thương! DỄ là biết được Vô thường KHÓ, lòng cứ vẫn tơ vương cuộc trần, DỄ là độ lượng bản thân KHÓ sao dung thứ tha nhân lỗi lầm!
02/09/2011(Xem: 24149)
Có 2 người đàn ông bị bệnh nặng, ở cùng phòng bệnh viện. Một người đàn ông được phép ngồi trên giường để truyền dịch vào mỗi buổi chiều. Và chiếc giường này được đặt cạnh một cái cửa sổ. Ngườiđàn ông còn lại thì phải nằm trên giường suốt cả đời.Hai người đàn ông rất thường xuyên nói chuyện với nhau. Họ nói về vợ con, gia đình, nhà cửa, công việc, sự phục vụ trong quân đội, những nơi mà họ từng đi nghỉ mát…
01/09/2011(Xem: 12481)
Một con chó có thể không hiểu được đạo lý làm người nhưng con người có thể lấy bài học từ con chó để nghiền ngẫm lại chính họ...". Đây là thông điệp từ câu chuyện thú vị về chú chó Faith, từng lên hình bìa tạp chí People, được cộng đồng mạng truyền tay nhau những ngày qua. Qua đó, Báo NLĐO muốn chia sẻ với quý độc giả rằng hãy sống nhân ái và đừng bao giờ đầu hàng số phận!
28/08/2011(Xem: 13474)
“Chẳng có ai cả” là một tuyển tập những lời dạy ngắn gọn, cô đọng và thâm sâu nhất của Ajahn Chah, vị thiền sư lỗi lạc nhất thế kỷ của Thái Lan về pháp môn Thiền Minh Sát.