Dân Tộc Thời Covid

09/08/202107:39(Xem: 8123)
Dân Tộc Thời Covid


vietnam covid-19-2

DÂN TỘC THỜI COVID



Dịch bệnh là một chu kỳ, từng  tồn tại với nhân loại từ xa xưa như dịch tả, dịch bại liệt, Sốt Rickettsia, Sốt vàng da. Lao,sốt rét, dịch hạch,dịch cúm, dịch aids, đậu mùa, yết hầu..

Những loại dịch thường xuất hiện vào những vúng có đời sống thiếu vệ sinh; tuy nhiên dịch virus Corona, aids không phát xuất từ điều kiện sống mà do hoạt động, hành xử của con người đối với con người, con người đối với thiên nhiên với nhiều lý do khác nhau.

Các nhà khoa học đã tìm ra vaccine cho bệnh đậu mùa vào năm 1796, tuy nhiên, vi khuẩn dịch có thể tùy biến; cũng thế virus Corona hiện nay, không chỉ là loại dịch nguy hiểm giết hàng chục triệu người, ngay cả dịch đậu mùa, dịch Aids, cúm… đều tổn thất nhân mạng vô số người trên toàn thế giới.

Virus Corona hiện nay đặt nhiều nghi vấn phát sinh từ động vật hoang dã như dơi hay từ phòng thí nghiệm do con người tạo ra, tất cả đều là duyên cớ theo từng chu kỳ sống của loài người để cân bằng sinh thái khi trái đất chịu quá tải và sự bạc đãi của con người.

Nói theo học thuyết Tôn giáo, hậu quả là do nguyên nhân, có nguyên nhân mới có hậu quả. Theo lời phán xét của cậu bé tiên tri Abhigya Anand người Ấn Độ, con người đã sống xa rời Thiên nhiên, phá hoại môi sinh, sát hại sinh vật quá nhiều, đã làm đảo lộn trật tự không gian sống.

Thật vậy, con người đã tạo ra khí thải nhà kính cho khối băng Bắc cực tan chảy, nhiệt độ trái đất gia tăng, nhiều vụ cháy rừng; sinh vật hoang dã bị truy sát; lạm dụng sinh hóa trong công nghiệp thực phẩm…dùng cho người và động vật.Những điều mà con người hãnh diện cho sự tiến bộ khoa học kỷ thuật, lấn áp mọi liên đới thiên nhiên; đã đưa sự sống mất căn bản nguồn gốc, chính thiên nhiên là nguồn gốc nuôi dưỡng mọi sinh loại trên tinh cầu, dĩ nhiên, hậu quả tất yếu phát sinh nhiều hiện tượng bất toàn cho cuộc sống. Trong đó tư duy, tình người suy giảm và lòng tham, hiếu sát, tranh đấu, giết hai lẫn nhau làm cho cuộc sống mất cân đối, khổ đau, bệnh tật phát triển theo từng chu kỳ.

Giải quyết dịch bệnh bằng phương án trấn áp theo y học cũng chỉ là giải pháp tạm thời, vì vi khuẩn hay mọi virus sẽ biến thể, chạy theo đuôi một hiện tượng đã xảy ra không phải là giải pháp tối ưu nếu không ngăn chận từ nguyên nhân ban đầu.

Hãy nhìn lại những bộ tộc cách ly với thế giới khoa học hiện đại, họ sống thọ, không bệnh tật, chẳng hạn người Hunza có tuổi thọ trung bình là 120, thậm chí tuổi thọ của một người có thể chạm ngưỡng 160. Hunza là một bộ tộc sống riêng lẻ ở vùng núi phía bắc Pakistan. Chẳng hạn như một bác sĩ người Scotland tên là Robert McCarrison khẳng định người Hunza sống thọ nhờ ăn chay. Nhận định này cũng được nhiều bác sĩ khác đến đây đồng tình. Một vị bác sĩ khác là John Clark đã dành 20 tháng sống chung cùng người Hunza, tiết lộ sự cô lập cũng giúp bộ tộc này tránh khỏi bệnh tật thông thường. ( Tuổi Trẻ)

Bộ tộc sống thọ trên 100 tuổi nhờ ăn chay

Một bộ tộc còn lạc hậu nhưng có một lối sống khác thường và nhiều quan niệm sống rất đáng để tất cả chúng ta phải suy ngẫm.truyền thống ăn chay của bộ tộc từ ngàn xưa, họ quan niệm: “Quả đất là nơi sinh sống của muôn loài, vậy tại sao loài người lại bắn, giết, ăn thịt các loài khác? Mọi loài vật đều biết đau đớn, tại sao lại ăn “cái đang đau khổ?”.

Đó chính là bộ tộc thiểu số người da đỏ có tên là Kogi, có nguồn gốc từ nền văn minh Tairona. Bộ tộc này trú ngụ trên dãy núi Sierra Nevada, Colombia, nơi quanh năm mây mờ bao phủ. Đó là vùng núi hoang vu, ít người dám bén mảng tới vì họ sợ thần linh quở phạt. (VnExpress) Họ không tăng canh, không tích lũy lương thực,nên không có lòng tham tranh đoạt lẫn nhau, họ sống thanh thảng, hài hòa với thiên nhiên, những yếu tố đó, chúng ta cho là bộ tộc kém văn minh thực ra  họ văn minh về đạo đức và nhân bản hơn xã hội con người hiện nay, do vậy tuổi thọ là điều tất yếu khi bệnh tật không hiện hữu đối với họ.

Ngày nay, có trên 10 bộ tộc sống biệt lập với thế giới hiện đại, trong đó phải nói Bhutan không xa với xã hội tiện nghi của con người, nhưng vẫn giữ được nếp sống hòa nhập với thiên nhiên, không sát hại sinh vật, thảo mộc là thực phẩm chính, luôn bảo tồn rừng xanh.Từ nhà vua đến thường dân đều thuần chay.Tuy nằm giữa hai quốc gia khổng lồ là Trung Quốc và Ấn độ, vẫn không hề chịu ảnh hưởng đời sống bại tục.

Từ bài học này, suy ra, bệnh tật là do cách sống, thái độ sống của chúng ta tác hưởng đến môi trường và con người chung quanh. Trở về với thiên nhiên là trở lại tánh thiện lương của con người mà Mạnh tử bảo “nhân chi sơ tánh bản thiện”. Dân tộc ta vốn xuất thân từ nông nghiệp, nhưng đã chịu ảnh hưởng nếp sống và tác phong của xã hội công nghiệp; cuốn hút vào vòng xoáy mà tinh thần không thể an lành ổn định, thể chất sinh lý được nuôi dưỡng quá nhiều độc tố bởi máu huyết hận thù và đau khổ của những sinh vật có trình độ thấp kém hơn ta;Phá rừng, dòng nước nhiễm hóa chất…đó là nguyên nhân dịch bệnh phát triển.

Dân ta  chạy theo nền văn minh vật chất thay vì duy trì văn minh tinh thần Tổ tiên ta từng sống, có lẽ thời đại ngày nay, chúng ta đã không bị cuốn vào vòng xoáy nhân quả bất tận của Thiên tai, dịch bệnh.

 

MINH MẪN 
27/7/2021         

 

 


facebook-1


***
youtube

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/02/2025(Xem: 4524)
Khi nào bạn thấy tâm và cảnh vốn là không, bạn sẽ thấy bất kỳ nơi nào cũng là Niết Bản. Lời dạy đó là từ một bài thơ của Thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) khi ngài dạy ý chỉ Thiền tông cho vua Trần Nhân Tông. Lời dạy đó cũng là đúc kết từ nhiều Kinh khác nhau do Đức Phật truyền dạy.
10/02/2025(Xem: 7730)
Trong tạng kinh Nikàya (Pali), cụ thể là Kinh Tương Ưng Bộ Samyutta Nikàya, Tương Ưng Nhân Duyên, những gì Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật chứng ngộ, thấy biết như thật tương ưng với những gì chư Phật quá khứ đã chứng ngộ và thấy biết như vậy. Thế Tôn gọi đó là TÙY TRÍ (Tùy trí chư Phật quá khứ: thấy biết giống như chư Phật quá khứ đã thấy, đã chứng ngộ). Đấng Thiện Thệ cho rằng những ai Tùy Trí như vậy sẽ có Pháp Trí (tức là Pháp Trí như vậy do Tùy Trí Chư Như Lai mà có, nên tràn đầy ánh quang minh hay Pháp Quang).
06/02/2025(Xem: 9938)
XUÂN VÀ CON ĐƯỜNG CỦA BỒ TÁT ĐI Pháp thoại Hòa thượng Thích Thái Hòa giảng cho Phật tử ngày mùng 2 tết Giáp Thìn, tại Tịnh Nhân Thiền đường, Tự viện Phước Duyên - Huế Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Đương Lai Hạ Sanh Từ Thị Di Lặc Tôn Phật.
05/02/2025(Xem: 7116)
Trời xuân ấm vạn nẻo đường Đất xuân ấm giữa vô thường thế gian; Non xuân đứng giữa núi ngàn, Nước xuân chảy giữa muôn vàn điệu ru;
05/02/2025(Xem: 6683)
Trong cuộc sống chúng ta thường lẫn lộn giữa thực tế và ước mơ, thế nhưng ước mơ cũng có thể giúp chúng ta nhìn vào thực tế một cách thực tế hơn, hoặc ngược lại thì thực tế đôi khi cũng có thể khơi động và làm sống lại các ước mơ của mình trong quá khứ. Câu chuyện mà tôi sắp thuật lại dưới đây nêu lên các ước mơ của một người mẹ hiện lên với mình như một sự thực, và các ước mơ của một người con mãi mãi vẫn là ước mơ.
05/02/2025(Xem: 6969)
NẾN VU LAN THẮP SÁNG GIỮA ĐỜI THƯỜNG Trong truyền thống Phật giáo, lễ Vu lan là ngọn nến hiếu hạnh thắp sáng giữa đời thường để cho ai có mắt thì được thấy, có trí thì được sáng tỏ, có tâm thì cảm và có tình, thì tình thêm sáng đẹp, rộng và sâu.
05/02/2025(Xem: 9011)
CÁC PHÂN KHOA PHẬT GIÁO Tôi viết bài này, xin chia sẻ đến những ai muốn quan tâm đến lãnh vực giáo dục trong Phật giáo, nhưng chưa có điều kiện để nghiên cứu.
04/02/2025(Xem: 4471)
Có một bài thơ khó hiểu trong Thiền Tông. Bài thơ có tên là Ngũ Vị, có khi gọi là Động Sơn Ngũ Vị, và có khi gọi là Ngũ Vị Quân Thần. Bài thơ khó hiểu phần vì dùng nhiều chữ xưa cổ, nhiều hình ảnh thi vị, và vì chỉ cho một số chặng đường tu học trong Thiền Tông. Bài này sẽ tham khảo nhiều giải thích để làm sáng tỏ bài thơ này.
03/02/2025(Xem: 5711)
Đầu Xuân nghe nhạc phẩm "Xuân nầy con không về" do con mình từ xa gửi về, gợi nhớ lại những năm tháng lao lý. Lần đầu tiên trong đời vào nằm trong nhà lao ở vùng hiu quạnh nơi rừng xanh xa lạ. Một cuộc đời tù mà không có tội trong buổi giao thời của đất nước sang trang. 30 năm làm tu sĩ, trãi qua nhiều Tỉnh thành, từ thôn quê đến phố thị, qua bao mùa Xuân trên đất nước chiến chinh, cũng bao lần nghe nhạc Xuân, kể cả nhạc phẩm "Xuân nầy con không về", thế mà lòng không khỏi xúc động khi nghe văng vẳng giữa đêm khuya, từ nhà dân, có lẽ xa lắm, vọng lại.