42. Định Tâm

04/01/201910:27(Xem: 27934)
42. Định Tâm

Định Tâm

(giọng đọc Hồng Ánh)

 

 

Không suy nghĩ cũng là một trạng thái rất quan trọng, giúp tâm quân bình và sâu sắc.

 

 

 Nhìn rõ thực tại

 

Tâm ta giống như con khỉ, hết chuyền cành này đến cành khác mà không bao giờ chịu đứng yên. Dù tâm giúp ta cảm nhận, suy tưởng, hiểu biết, thể hiện tình cảm, hay quyết định, nhưng nó không phải là một cỗ máy để cho ra số lượng sản phẩm càng nhiều càng tốt. Hạn chế của ta là thường không biết nên để tâm lên đối tượng nào và ở mức độ bao nhiêu cho vừa đủ. Mức độ vừa đủ không chỉ để giải quyết được vấn đề, mà nó phải tương ứng với nguồn năng lượng dự trữ của ta đang có. Bởi ta còn phải chi tiêu năng lượng cho những vấn đề quan trọng khác nữa. Phần lớn suy nghĩ chỉ đốt cháy năng lượng, khiến ta thêm căng thẳng rồi nhận thức lệch lạc mà không giải quyết được vấn đề gì cả. Cho nên, không suy nghĩ cũng là một trạng thái rất quan trọng, giúp tâm quân bình và sâu sắc.

 

Triết gia Descartes đã từng phát biểu:"Tôi suy nghĩ, vì thế tôi đang có mặt". Nhiều người cũng đồng thuận với quan điểm này. Họ căn cứ vào dòng suy nghĩ để thấy được sự có mặt của mình. Nghĩa là con người phải luôn suy nghĩ, nếu không suy nghĩ thì đó không còn là một thực tại sống động nữa. Cũng như những người già thường hay kiếm việc gì đó làm để thấy mình đang hiện hữu, để thấy mình không phải là kẻ bất tài vô dụng trong mắt con cháu. Thật ra, họ chỉ cần ngồi đó và mỉm cười vui vẻ với con cháu, hoặc luôn tỏa ra năng lượng bình yên và vững chãi là đủ thấy họ đang có mặt rồi. Đó mới chính là sự có mặt đích thực. Cũng vậy, khi nhìn một đóa hoa, đâu cần suy tư thì ta mới cảm nhận được sự có mặt mầu nhiệm của nó. Đôi khi, chính những dòng suy tưởng mông lung đã kéo ta ra khỏi thực tại và đánh mất thực tại. Có xác mà không có hồn thì đâu thể gọi là sự có mặt.

 

Khi nhìn đóa hoa, nếu ta không suy tưởng, không bị tương lai hay quá khứ kéo đi, chỉ thấy rõ đây là một đóa hoa đang nở trong buổi sáng hôm nay thì đó là trạng thái có mặt hoàn toàn - tức định tâm. Định tâm là tâm đang đứng yên trong thực tại, có thể nhận biết rất rõ những gì đang xảy ra trong ta và xung quanh ta. Nếu duy trì khả năng chuyên chú trên một đối tượng nào đó đã chọn lựa trong thực tại, với một thời gian đủ lâu mà không có bất cứ ý niệm nào kéo đi thì ta sẽ tạo ra được định lực - sức mạnh của sự chuyên chú. Tâm chuyên chú mạnh mẽ có khả năng phát ra năng lượng chiếu sáng lên đối tượng, nên càng nhìn ta sẽ càng nhận rõ được cấu trúc hoạt động hay bản chất thật của nó.

 

Đời sống luôn có vô số lực hấp dẫn lôi kéo tâm ta chạy lang thang suốt ngày ở bên ngoài. Đến khi lên bàn ăn, giường ngủ, ta vẫn tiếp tục để tâm mình chìm nổi trong những dự án kế hoạch, hay miên man với những hình ảnh ngọt ngào của quá khứ. Theo thời gian, ta dần đánh mất thói quen nghỉ ngơi hay thói quen để tâm chuyên chú vào một đối tượng. Trái lại, ta cho rằng càng nghĩ ra được nhiều ý tưởng mang lại lợi nhuận thì ta càng tài giỏi. Làm như thể con người sinh ra chỉ để làm việc và kiếm tiền. Thế nên, chậu kiểng trước nhà khô héo đã lâu ta cũng không thấy. Chiếc áo đã sứt nút mà ta cũng không hay. Trong nhà có bao nhiêu người đang có mặt ta cũng không rõ. Ta đứng đây để làm gì hay có hẹn với ai hôm nay ta cũng không nhớ. Thật tệ! Ta cũng hay tự trách mỗi khi phát hiện ra mình bị đãng trí. Nhưng ta cũng tự bào chữa bằng những lý do rất xứng đáng, rồi lại tiếp tục thả tâm rong ruổi, để nó tự do đi tìm nơi trú ẩn nào mà nó yêu thích.

 

Thật tiếc! Nếu ta chú tâm vào ánh nắng thì nắng sẽ ấm hơn. Ta lắng lòng nghe tiếng chim hót thì tiếng chim sẽ trong hơn. Ta hết lòng bưng tách trà uống thì trà sẽ thơm nồng hơn. Sự có mặt đích thực của thân lẫn tâm sẽ giúp cho đối tượng có giá trị hơn và chính ta cũng sẽ được thừa hưởng nhiều hơn. Một sự thật rất sâu sắc nữa là khi tâm an định, chấp nhận có mặt 100% trong giây phút hiện tại, nó sẽ kết nối được với những năng lượng an lành có sẵn trong vũ trụ. Nó làm cho những năng lượng độc hại trong ta lắng dịu và nâng dậy những phẩm chất quý giá trong chiều sâu tâm hồn. Đặc biệt, định lực giúp ta duy trì lâu bền khả năng quan sát những phiền não, từ lúc phát sinh đến khi tan biến. Nghĩa là không có định lực thì ta không thể thấu hiểu phiền não. Không thấu hiểu thì không thể tháo gỡ.


Nghệ thuật định tâm

 

Để rèn luyện cho mình thói quen định tâm, điều kiện trước tiên là ta phải bớt bận rộn. Phải tự cho mình một cơ hội lớn tìm về chính mình. Ta không thể ra lệnh cho tâm mình dừng lại, trong khi ta vẫn còn muốn nắm bắt quá nhiều thứ. Một không gian nhẹ nhàng và tĩnh lặng sẽ giúp ta dễ dàng đem tâm mình trở về, kết thành một mối với thân. Thân ở đâu thì tâm ở đó. Cũng như khi ta dùng chiếc kính lúp đón nhận những tia nắng song song, chúng sẽ hội tụ thành một điểm. Sau đó ta lấy nhúm rơm khô để phía dưới kính lúp, chùm ánh sáng hội tụ ấy sẽ đốt cháy nhúm rơm khô. Sự tập trung cao độ của tâm ý có khả năng đốt cháy phần nào phiền não, làm cho ta trở nên nhẹ nhàng, trầm tĩnh và sáng suốt hơn.

 

Ta cần cố gắng tập luyện sống chậm, nhưng cũng đừng quá chậm một cách mất tự nhiên. Mỗi khi mở vòi nước, đóng cánh cửa, mở ti-vi hay đặt tách trà xuống, ta đều quan sát kỹ những đối tượng ấy. Đặc biệt, phải ghi nhận rõ những gì xảy ra trong tâm ta suốt tiến trình xảy ra. Hãy cắt mỗi hành động ra thành từng phần nhỏ để thực nghiệm việc định tâm dễ dàng hơn. Thí dụ, khi bưng tách trà lên, ta chia làm 3 giai đoạn để chú tâm: bưng lên, đưa tới và uống. Trong khi uống, ta cũng chia làm 3 giai đoạn: vừa uống, đang uống và uống xong. Bất cứ ở  nơi đâu hay làm việc gì ta cũng nên áp dụng bài thực tập chia nhỏ từng hành động để quan sát, trừ những việc có tính chất nguy hiểm hay quá khẩn thiết.

 

Tập quan sát bước chân mình khi đi trong phòng cũng là cách để rèn khả năng định tâm. Chỉ cần thả lỏng hai tay theo chiều cơ thể và bắt đầu chú ý vào bước chân đi trong 3 giai đoạn: nhấc chân lên, đưa tới, đặt chân xuống. Ta cũng có thể chia mỗi động tác như vậy thành 3 lần nhỏ hơn nữa, để sự chú ý của ta càng thêm mạnh mẽ: phần đầu - phần giữa - phần cuối của việc nhấc chân lên, phần đầu - phần giữa - phần cuối của việc đưa chân tới, phần đầu - phần giữa - phần cuối của việc đặt chân xuống. Nên nhớ ta chỉ dùng tâm để cảm nhận mà không nên nhìn xuống bước chân. Bài tập này tuy hơi khô khan, nhưng nếu kiên trì chừng nửa giờ ta sẽ gặt hái kết quả rất bất ngờ. Sự chậm rãi sẽ giúp tâm ta không dễ dàng thay đổi đối tượng, đủ thời gian để nhìn thấu đối tượng và chính ta hơn.


Hơi thở mầu nhiệm

 

Những bậc tu thiền thành công từ nhiều thế hệ luôn xem hơi thở là sự lựa chọn hàng đầu để định tâm. Hơi thở không chỉ là một tiến trình sinh lý mà nó còn là nhịp cầu nối với các tiến trình tâm lý. Nghĩa là thông qua hơi thở, ta có thể biết được những trạng thái biến đổi của tâm mình. Điều thú vị là ta có thể cảm nhận hơi thở một cách trực tiếp mà không cần đến sự can thiệp của tư tưởng hay kinh nghiệm có sẵn. Ta đừng quên hơi thở là một tiến trình tự nhiên. Dù ta không dùng ý chí can thiệp thì hơi thở vẫn vào ra theo nhịp độ riêng của nó. Do vậy, khi chọn hơi thở làm đối tượng chú tâm, ta phải tôn trọng tính tự nhiên của nó. Ta chỉ cần nhận biết và hiểu biết nó chứ không ép buộc nó phải như thế này hay thế kia. Thực tế ta cũng hay vấp váp trong khi thở, muốn áp đặt hơi thở theo ý mình. Ta muốn nó dài hơn hoặc ngắn hơn, muốn nó êm dịu hay nhẹ nhàng hơn. Đó là một thái độ sai lầm cần phải tránh. Ranh giới giữa hơi thở tự nhiên và hơi thở có nhồi nặn rất mong manh, ta phải tinh tế lắm mới nhận ra. Nên nhớ ta chỉ đơn thuần quan sát nó, đừng đọc lầm bầm trong tâm bằng một câu nào đó để nhắc nhở hay tưởng tượng thêm điều gì khác.

 

Muốn quan sát rõ, trước tiên ta phải nhận diện rõ hơi thở của mình như thế nào. Hãy chú tâm vào sự phình xẹp của bụng: hơi thở đi vào bụng sẽ tự động phình lên, hơi thở đi ra bụng sẽ tự động xẹp xuống. Cách thở này thường chỉ phù hợp với một số ít người, nó làm cho ta dễ hồi hộp vì phải rượt đuổi theo nó. Vả lại, cách theo dõi này sẽ không làm cho ta cảm nhận hơi thở một cách trực tiếp. Hầu hết các vị hành thiền thường chú tâm vào chỗ phần chóp mũi, ngay vành trong của mũi hoặc ngay phía môi trên. Điều này còn tùy thuộc vào chiếc mũi của mỗi người. Hãy hít vào một hơi cho thật dài và sâu, rồi ghi nhận không khí bên ngoài đi vào. Cố gắng cảm nhận xem nó chạm vào phần nào của chiếc mũi rõ ràng nhất. Đó chính là điểm cần ghi nhớ để quan sát hơi thở khi ta để nó thở tự nhiên trở lại hay trong những lần tập sau. Nhờ vậy, tâm ta khỏi chạy lung tung để tìm kiếm hơi thở. Đuổi theo hơi thở sẽ rất mệt mỏi, mà cũng không bao giờ đuổi kịp vì nó cứ trôi mãi.

 

Hãy tập quan sát mối liên hệ rất tinh tế giữa hơi thở, ý muốn điều khiển hơi thở và cả thái độ muốn ngưng sự điều khiển. Ban đầu ta sẽ thấy hơi khó chịu. Dần dần ta sẽ cảm nhận được giá trị của hơi thở tự nhiên hoàn toàn khác biệt với hơi thở bị điều khiển. Qua đó, ta học hỏi được rất nhiều về thái độ hay mong muốn và áp đặt của mình. Quan sát hơi thở một cách tinh vi như thế trong thời gian ngắn, ta sẽ không còn muốn điều khiển nó nữa. Thời gian đầu, việc quan sát hơi thở sẽ làm cho ta rất dễ chán nản vì cảm thấy nó thật là vô vị. Nhưng nếu kiên trì và thở đúng cách, từ từ ta sẽ thấy nó rất đa dạng và kỳ diệu vô cùng. Sự thật không có hơi thở nào giống với hơi thở nào cả. Chúng biến hóa rất tinh xảo. Với tâm hời hợt hay thành kiến mà cho rằng nó cũng chỉ có như vậy thôi thì chắc chắn ta sẽ không thể nào thấy và thấu hiểu được nó. Cho nên, quan sát hơi thở không chỉ là quan sát đường nét mà ta còn quan sát đến cả nội dung của nó. Đó thật sự là một bản nhạc hòa tấu giữa những trạng thái hổn hển rồi lắng dịu, sâu rồi cạn, gấp gáp rồi nhẹ nhàng.

 

Trong quá trình thực tập, nhiều lúc ta có cảm tưởng không nhận ra được hơi thở của mình. Đừng quá lo lắng! Hãy chú tâm trở lại ngay điểm mà ta đã chọn, ở phần đầu chóp mũi hay sự phồng xẹp của bụng, bằng vài hơi thở mạnh tạm thời thì ta sẽ nắm bắt được ngay. Nên nhớ, ta đừng bao giờ tự trách móc bản thân mình trong khi thiền tập. Điều đó chẳng lợi ích gì cả, vì chúng chỉ là kết quả của quá trình sống trong lãng quên của chính ta đó thôi. Chỉ cần tự nhắc nhở thường xuyên là được. Thỉnh thoảng trong tâm ta sẽ hiện lên hình ảnh, âm thanh, nhận xét, lo lắng, tiếc nuối, buồn tủi, hoang mang Khi đó, ta có thể tạm thời rời hơi thở để chú tâm lên những đối tượng mới ấy. Trong trường hợp thấy mình không còn chút định lực nào, thì hãy tạm thời "ngó lơ" những biến động bất chợt xung quanh mà dành hết ưu tiên cho việc định tâm trên hơi thở. Còn nếu ta đã sẵn sàng

quan sát thì chỉ nên quan sát từng hiện tượng tâm lý một, chứ đừng gom hết chúng lại.

 

Khi những đối tượng ấy phai mờ, ta lại đem tâm trở về với hơi thở. Hơi thở bấy giờ là đối tượng chính. Nó là điểm tựa an toàn nhất của ta sau mỗi chuyến đi thăm những lĩnh vực khác, dù đó là những phản ứng xảy ra trên thân hay trên tâm. Ta đừng nóng vội trong khi thực hành, đừng quá mong muốn giải quyết những phiền não. Nhờ chút định lực tích góp từ hơi thở, mỗi chuyến quan sát những biến động mạnh như thế sẽ cho ta thêm một kinh nghiệm mới về bản chất vô thường và vô ngã của mọi sự vật và hiện tượng. Quan sát bằng tâm không mong cầu hay chống đối, thuần túy bằng thái độ tìm hiểu và khám phá, sẽ cho ta nhiều cái thấy rất tuyệt vời về chính mình và cuộc sống. Trước giờ, với cái tâm đầy xáo động và đặc sệt phiền não đã khiến ta không tài nào biết được những thứ ấy.

 

Một điều cần lưu ý là những lúc ta kinh nghiệm được hơi thở của mình một cách sâu sắc, bất chợt ta sẽ nghe trong tâm hình như có rất nhiều tiếng gào thét hay những mớ âm thanh hỗn loạn. Hoặc ta thấy mình chới với như chiếc xe đang lao đầu xuống vực thẳm mà ta không thể điều khiển. Không có gì lạ cả. Thật ra, lúc nào trong tâm ta cũng hỗn loạn, cũng đầy dẫy những cuộc xung đột hay những khoảng trống chơi vơi như thế. Chỉ vì ta chưa bao giờ nhìn kỹ vào đó thôi. Hãy cứ duy trì bài thực tập của mình, mỉm cười quan sát những âm thanh lạ lùng ấy như sự trở lại của phiền não. Rồi ta sẽ vượt qua.

 

Xung quanh ta còn biết bao người vẫn đang sống bằng sự may rủi của hoàn cảnh, vẫn không biết cái gì đang tàn phá bên trong. Nhìn họ có vẻ như không có vấn đề, nhưng thực chất là họ đang bị trói buộc và điều khiển. Còn ta, tuy phải đối diện với những phiền toái bên trong, nhưng ta đang trên con đường tháo gỡ chúng. Hãy biết chăm sóc bản thân ngay từ bây giờ, đừng đợi đến khi phiền não bùng vỡ và gây ra bao tổn thất nặng nề rồi ta mới loay hoay tìm kiếm giải pháp thì đã muộn. Đến khát nước mới chịu đào giếng thì phải chịu chết khát thôi. Điều cần lưu ý nữa là chính thái độ thực tập đúng đắn mới quyết định nên sự thành công chứ không phải do sự nhiệt tình quá mức. Tham vọng trong thiền tập cũng như trong bất cứ lĩnh vực nào cũng đều là áp lực dẫn tới sai lầm.

 

Như vậy, chỉ khi nào tâm yên định thì ta mới có thể quan sát lâu bền và thấu đáo mọi cấu trúc phiền não. Từ đó ta mới biết mình nên làm gì và không nên làm gì để chuyển hóa chúng. Và chỉ đến khi nào năng lực chú tâm và năng lực quan sát đã trở nên thuần thục thì hạt mầm trí tuệ mới bắt đầu hé nở. Khi ấy ta mới nhìn thấy rõ thân phận mình và cuộc đời đúng như bản chất chân thật xưa nay của nó. Ta sẽ không còn khổ đau nữa.

 

 

Bao năm còn trôi nổi

Không bến đỗ bình yên

Thuyền về neo chốn cũ

Thấy đất trời an nhiên.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/07/2015(Xem: 29793)
Trong sinh hoạt thường nhật ở Chùa ai ai cũng từng nghe qua câu “Ăn cơm Hương Tích, uống trà Tào Khê, ngồi thuyền Bát Nhã, ngắm trăng Lăng Già “, do đó mà nhiều người thắc mắc “Thuyền Bát Nhã” là loại thuyền như thế nào? Bài viết này sẽ giải đáp đôi điều về nghi vấn ấy. Nói theo Thập Nhị Bộ Kinh, Thuyền Bát Nhã là pháp dụ, tức lấy thí dụ trong thực tế đời thường để hiển bày pháp bí yếu của Phật. Thuyền là chỉ cho các loại thuyền, bè, ghe đi lại trên sông, trên biển. Còn Bát Nhã là trí tuệ, một loại trí tuệ thấu triệt cùng tận chân tướng của vạn pháp trên thế gian là không thật có, là huyền ảo không có thực thể, mà nói theo Đại Trí Độ Luận thì mọi thứ trên thế gian này như bóng trong gương, như trăng dưới nước, như mộng, như sóng nắng… để từ đó hành giả đi đến sự giác ngộ giải thoát vì giác ngộ được chân lý “Nhất thiết pháp vô ngã”. Do vậy, Thuyền Bát Nhã chính là con thuyền trí tuệ có thể chuyên chở chúng sanh vượt qua biển khổ sanh tử để đến bến bờ Niết bàn giải thoát an vui.
01/07/2015(Xem: 32668)
Chủ đề Một Cõi Đi Về, Thơ và Tạp Bút tập hai, một lần nữa, được cái cơ duyên thuận lợi hân hạnh ra mắt quý độc giả. Cách đây ba năm tập một đã được xuất bản vào năm 2011. Hình thức và nội dung của tập hai nầy, cũng không khác tập một. Nghĩa là chúng tôi cũng chia ra làm hai phần: Phần đầu là thơ và phần sau là những bài viết rải rác đã được đăng tải trên các tờ Đặc san Phước Huệ. Tờ báo mỗi năm phát hành ba kỳ vào những dịp đại lễ như: Phật Đản, Vu Lan và Tết Nguyên Đán. Do đó nên những bài viết có những tiêu đề trùng hợp và nội dung có chút ít giống nhau. Tuy nhiên, mỗi bài đều có những sắc thái hương vị riêng của nó. Ngoài ra, có những bài viết với những tiêu đề khác không nằm trong phạm vi của những ngày đại lễ đặc biệt đó. Nay chúng tôi gom góp tất cả những bài viết đó lại để in chung thành một quyển sách tập hai nầy. Về ý nghĩa của chủ đề nói trên, chúng tôi cũng đã có trình bày rõ trong tập một. Ở đây, chúng tôi không muốn lặp lại. Điều quan trọng mà chúng tôi muốn nói ở đây là
01/07/2015(Xem: 15480)
Có những tiếng những lời những âm thanh nghe hoài không chán, nghe mãi không quên, không nghe thì trông ngóng đợi chờ. Tiếng nói của người thương kẻ nhớ kẻ đợi người mong, âm thanh của những ngọt ngào êm dịu, lời ru miên man đưa ta về miền gợi nhớ, những yêu thương da diết chôn dấu trong từng góc khuất, những trăn trở buồn vui có dịp đi qua. Và còn nữa, những thứ mà lúc nào ta cũng trông mong, lời khen tán thưởng tiếng vỗ tay tung hô của thiên hạ.
29/06/2015(Xem: 27982)
Như truyền thông đại chúng đã loan tải vào ngày 24 tháng 4/ 2015 một trận động đất xảy ra tại đất nước Nepal đã làm thiệt mạng gần 9.000 nạn nhân, và làm sập hư trên 100.000 ngôi nhà, trong hiện tại có trên 200.000 người không nhà cửa, và hàng ngàn trẻ em mồ côi cha mẹ. Nhìn thấy cảnh đời bể dâu tang thương đổ nát của người dân Nepal, Hòa Thượng Hội Chủ Thích Như Huệ đã ra thông tư, cũng như tâm thư kêu gọi lòng từ tâm của người con Phật. Sau gần 2 tháng kêu gọi, với tấm lòng tùy tâm của đồng hương Phật tử xa gần trong và ngoài nước Úc, cũng như 37 tự viện thành viên của Giáo Hội đã đem đến kết quả với số tiền cứu trợ là $ 304.900. Úc Kim. Phái Đoàn Cứu Trợ Nepal thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan đã lên đường vào tối ngày 8.6.2015 tại sân bay Melbourne.
29/06/2015(Xem: 10246)
Thời tiết mùa hè năm nay bất thường. Đã có những ngày quá oi bức, và cũng có những ngày lù mù, không mưa không nắng, gió se lạnh. Khí hậu đôi khi cũng tác động vào lòng người, khiến họ dễ bẳn gắt, khó chịu. Những người đã nuôi dưỡng từ lâu sự kỳ thị, thành kiến, hay tỵ hiềm nào đó, có thể bị thời tiết nóng bức châm ngòi cho sân hận và sự bạo động. Đã có những cuộc khủng bố đơn phương hoặc nhân danh tổ chức (thế tục hay tôn giáo) diễn ra khắp hành tinh trong những tháng năm qua.
27/06/2015(Xem: 16660)
Qua 4000 năm Văn Hiến của dân tộc thì trên 2000 năm, Phật giáo có mặt, đồng hành cùng dân tộc. Tính từ thời lập quốc họ Hồng Bàng – Kinh Dương Vương tên nước là Xích Quỷ (năm 2879 trước c.n) đến thời nhà Lý vào năm 1010-1225 đã là 4000 năm, đến nay cũng gần 5.000 năm. Từ thời lập quốc ở Trường Giang, bị Hoa tộc lấn dần cho đến Hùng Vương qua 18 đời, đất nước Văn Lang chỉ còn lại Bắc Việt và Bắc Trung Việt ngày nay.Quê hương vốn ở Hồ Động Đình, do Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh 100 con lập quốc. Kinh Dương Vương là con của Đế Minh và Vụ Tiên, là cháu ba đời của Thần Nông, mà Thần Nông là một trong Tam Hoàng thời thượng cổ.Như thế, Lạc Long Quân là con của Kinh Dương Vương, Kinh Dương Vương là họ Hồng Bàng, lấy quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương truyền ngôi cho Lạc Long Quân, Lạc Long Quân truyền cho Hùng Vương, lấy quốc hiệu là Văn Lang. Từ thời kinh Dương Vương lập quốc đến nay, dân tộc trãi qua 11 lần thay danh đổi hiệu:
24/06/2015(Xem: 41148)
Lời vàng của Thầy tôi, một Hướng dẫn vào các sự Chuẩn bị cho Tâm-yếu của Phạm Vi Bao La từ Đại Viên Mãn, trình bày các con đường của bốn trường phái chính của Phật Giáo Tây Tạng mà không có bất kỳ mâu thuẫn nào giữa chúng.
23/06/2015(Xem: 17647)
Câu hỏi: Lý do tại sao Trịnh Hội lại đi học tu? Có phải bị mất phương hướng cuộc đời hay chán cuộc đời nhiều phiền toái?(Than Nguyen ) Trả lời: Xin chào anh Than Nguyen. Có hai lý do chính thưa anh. Thứ nhất vì cách đây 3 năm mình có lời cầu nguyện với chư Phật là nếu cho mình cơ hội làm xong công việc giúp những thuyên nhân Việt Nam cuối cùng tại Thái Lan, mình sẽ xuống tóc để cảm ơn. Thứ hai là, một công hai việc, mình muốn và cần một thời gian tĩnh lặng để xem mình thật sự muốn làm gì trong suốt quãng đời còn lại.
23/06/2015(Xem: 16237)
Hơn hai mươi năm trước, khi đọc được bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế nói về tiếng chuông Chùa Hàn San ở Tô Châu bên Trung Hoa, tôi cứ thắc mắc không hiểu tại sao thơ Đường có không biết bao nhiêu bài thơ tuyệt tác, vậy mà bài thơ chỉ bốn câu này lại gây ra bao nhiêu cuộc bút đàm tốn bao nhiêu giấy mực. Hay tại vì ngôi Chùa ở bến Cô Tô này đã quá nổi tiếng chăng? Nhưng đã ngờ thì phải cố mày mò tìm cho ra lẽ. Tôi tìm đọc thêm những câu chuyện chung quanh quả Đại hồng chung và tiếng chuông Hàn San. Nhiều huyền thoại đọc thật thú vị nhưng sao thấy nó cứ thực thực hư hư! Trong số ấy có một câu chuyện nói rằng, tiếng chuông chùa Hàn San có thể ngân vang rất xa, xa
21/06/2015(Xem: 13899)
Văn phòng Chính phủ Tây Tạng lưu vong, Dharamsala đưa tin – Hội nghị Tôn giáo lần thứ 12 của bốn truyền thống Phật giáo Tây Tạng đã diễn ra vào các ngày 18-20/06/2015 tại Dharamsala miền bắc của bang Himachal Pradesh, Tây Bắc của Ấn Độ.