37. Yếu Đuối

04/01/201909:30(Xem: 24983)
37. Yếu Đuối

Yếu Đuối

(giọng đọc Thùy Dung)

 

Kẻ thiếu sức mạnh bên trong chính là kẻ nhiều khổ đau nhất.

 

 

 

Thói quen hưởng thụ

 

Do ảnh hưởng từ di truyền mà mỗi cá thể sở hữu một cấu trúc sinh lý khác nhau. Và tùy thuộc vào tác động của hoàn cảnh và sự luyện tập mà mỗi cá thể sở hữu cấu trúc tâm lý cũng khác nhau. Dù rằng tâm lý mới là yếu tố quyết định nên hành vi và thái độ sống, nhưng sinh lý cũng góp phần quan trọng để thay đổi hay hình thành nên tính cách con người. Thân với tâm vốn là một hợp thể gắn kết chặt chẽ, không thể tách rời ra được. Vì thế, lỡ như trong di truyền đã chứa sẵn hạt giống cảm xúc quá mạnh thì chắc chắn ta sẽ có khuynh hướng tìm kiếm cảm xúc tốt và tránh né cảm xúc xấu ngay từ thuở nhỏ. Khuynh hướng này vốn là bản năng tự nhiên. Nhưng nếu sống theo bản năng để thỏa mãn cảm xúc mà không xét đến hậu quả, thì ta chẳng bao giờ tìm thấy giá trị chân thật của hạnh phúc.

 

Thí dụ, ta thấy chương trình ti-vi chẳng có gì đáng xem hay các trang web mà ta đang dán mắt vào chẳng có gì bổ ích, nhưng ta không thể rời khỏi chúng vì sợ chẳng biết phải làm gì khi tâm tư đang lạc lõng. Ta biết thức dậy sớm sẽ có nhiều thời giờ tập thể dục, chuẩn bị chu đáo mọi thứ mà không phải hấp tấp khi đến công sở, nhưng ta lại không vượt qua nổi cảm giác dễ chịu của nệm ấm chăn êm. Ta luôn tự nhắc mình chỉ nên tiêu thụ những thực phẩm có tính nuôi dưỡng và trị liệu cho cơ thể để giữ gìn sức khỏe và điều tiết năng lượng sinh hoạt, nhưng ta không thể từ chối khi đối diện với những món ăn khoái khẩu. Ta ý thức rất rõ là nếu mình cứ tiếp tục đối xử thân mật với người ấy thì sẽ gây hiểu lầm, nhưng ta lại không thể tìm cách lánh xa họ vì không nỡ từ bỏ cảm giác quá ngọt ngào. Ta đã nhận ra giá trị thiết yếu của đời sống tinh thần và quyết tâm luyện tập, nhưng ta lại không đủ can đảm để giới hạn bớt sự hưởng thụ vật chất và dừng bớt những thú vui chơi.

 

Yêu thích cảm xúc tốt là đồng nghĩa với chán ghét cảm xúc xấu. Thí dụ, ta không thích chơi các môn thể thao, làm những việc nặng nhọc tay chân hay phải động não quá nhiều. Ta rất ghét lối sống kỷ cương, không thích kiểu làm việc quá nguyên tắc. Ta không ưa những lời góp ý thẳng thắn hay thiếu sự tôn trọng. Ta lại rất dễ bị tự ái, tổn thương trước những lời châm chích hay xúc phạm. Ta cũng luôn bị kích động trước những xáo trộn bất ngờ của hoàn cảnh. Và khi đối đầu với những khó khăn lớn thì ta chỉ biết than khóc chứ không thể bình tĩnh để tìm hiểu và giải quyết. Ta không tin mình có đủ sức vượt qua nghịch cảnh nên lúc nào cũng tha thiết mong cầu kẻ khác giúp đỡ. Ta rất muốn góp ý với người kia bằng tấm lòng chân thành, nhưng lại không dám mở lời vì sợ họ nổi giận rồi sẽ không quý mến mình nữa. Đến nỗi, ta rất muốn từ chối một lời đề nghị nào đó vì biết mình không đủ sức để gánh vác, nhưng lại sợ mất lòng nên đành cắn răng chịu đựng.

 

Biết điều nên làm mà ta không làm được, hoặc biết điều không nên mà ta vẫn cứ làm, thì đó là tình trạng yếu đuối - không vượt qua nổi chính bản thân mình.

 

Có quyền lực trong tay, được nhiều người nể trọng, hét một tiếng là người khác phải im lặng lắng nghe, nên ta cứ tưởng mình rất mạnh mẽ. Nhưng khi bất ngờ bị xúc phạm hay vu khống thì ta sụp đổ ngay lập tức. Ta khẩn trương tìm kiếm đồng minh để bênh vực, hay tức tốc kiện người kia ra tòa để đòi lại danh dự. Ta nghĩ phải trừng phạt đích đáng thì họ mới sợ mà không dám động tới ta nữa. Nhưng sự thật là ta đã thất bại. Pháp luật tuy có thể bảo vệ quyền lợi cho ta, nhưng nếu ta cứ dựa vào pháp luật để giải quyết mọi mâu thuẫn xung đột thì vô tình ta đã dung dưỡng cho sự yếu đuối của mình. Nếu ta có uy lực thật sự thì đâu có khó khăn gì để chấp nhận vài cuộc tấn công lẻ tẻ. Thậm chí, ta còn có thể dùng tài năng của mình để cảm hóa đối phương, biến chiến tranh thành hòa bình.

 

Có thể ta rất vững vàng khi đối đầu với những nghịch cảnh lớn lao, không hề nao núng trước những bạo lực, nhưng không ai ngờ ta lại là kẻ rất yếu đuối trong tình cảm. Ta gần như mất hết quyền chủ động trong khi yêu. Chỉ cần nghe những lời nói êm ái ngọt ngào, hay những tiếng khóc lóc thở than của người ấy là ta sẵn sàng chấp nhận tất cả mọi yêu sách. Sự đam mê - thái độ tự đồng hóa toàn bộ con người mình với cảm xúc yêu thích - đã biến ta thành kẻ nô lệ trung thành của tình yêu. Đôi khi ta còn dám làm những chuyện hết sức điên rồ như vứt bỏ cơ nghiệp đã khổ công gầy dựng, hay cắt đứt tình thâm với gia đình để lao theo tình yêu. Ta tưởng rằng mình đang sống chết để bảo vệ tình yêu, nhưng sự thật là ta đang bị cuốn hút hoàn toàn vào mãnh lực của cảm xúc. Nên khi bị phụ tình thì ta thấy mình chẳng còn giá trị gì để sống. Hai kẻ yêu đương cuồng nhiệt ghép chung cuộc đời với nhau thì chẳng khác nào hai kẻ yếu đuối đang muốn dựa dẫm vào nhau.

 

Thật ra, ai cũng có lúc yếu đuối. Đó là những lúc ta đánh mất sự tỉnh thức và để cho sự đam mê trỗi dậy, hay những lúc nghịch cảnh tấn công đột ngột khiến ta không kịp chống đỡ. Và rồi lý trí và năng lực rèn luyện vốn có sẽ đưa ta trở về vị trí chủ động đời mình. Nhưng nếu ta để cho sự yếu đuối trở thành thói quen lâu ngày, vẫn cứ mặc kệ mà không cố gắng chuyển hóa, thì ta sẽ gặp vô vàn khó khăn và cả thất bại thảm hại trước những thăng trầm của cuộc sống. Kẻ thiếu sức mạnh bên trong chính là kẻ nhiều khổ đau nhất.

 

 

 

Sức mạnh bên trong

 

Có lần tôi và hai sư đệ cùng ra sân vườn dọn dẹp những cành cây bị gãy đổ sau một cơn giông lớn. Bất ngờ thấy một con chuột nằm chết giữa đường, tôi liền đem nó đặt vào một gốc cây to. Đi được vài bước, tôi bỗng quay lại dùng bàn tay xới cát lên làm một cái mộ xinh xinh để chôn cất nó. Hai sư đệ bước tới trầm trồ: "Sư huynh từ bi quá!". Khi hai sư đệ đi khỏi, tôi thấy mình đang rơi vào khoảng trống chơi vơi lạ lùng như vừa sụp đổ một cái gì đó rất lớn. Thì ra tôi vừa có một màn trình diễn thật ngoạn mục. Hành động đặt con chuột vào gốc cây là thật - đó là sự xót thương đối với loài vật bé nhỏ; hành động đào mộ chôn cất cho con chuột là giả - đó là thái độ muốn chứng tỏ mình từ bi mà kỳ thật chỉ là cơn "khát" sự công nhận. Câu chuyện đã xảy ra gần hai mươi năm, nhưng mỗi lần nhớ lại tôi đều rùng mình. Không ngờ phiền não của mình quá tinh vi, ngay cả xác con chuột mà cũng có thể lợi dụng được. Sau này muốn giúp ai, tôi hay tự hỏi: "Mình làm việc này là vì cái gì đây?". Nếu thấy mình đang "khát" cảm xúc thì tôi cố gắng dừng lại ngay.

 

Khi ta quan niệm rằng càng được đón nhận cảm xúc tốt từ sự công nhận của người khác thì cuộc đời ta sẽ có giá trị hơn, tức là ta vẫn chưa tìm thấy sức mạnh bên trong của mình. Mà sự thật là càng trông chờ và dựa dẫm vào điều kiện thuận lợi bên ngoài thì ta càng không thể phát huy sức mạnh bên trong. Ta tuy là những phản ứng lao xao, phẫn nộ hay khát khao nông nổi, nhưng ta còn là cái-sâu-thẳm-bên-trong mà chỉ có những giây phút bình yên ta mới chạm tới được. Cũng như khi lặn sâu xuống lòng đại dương thì ta mới thấy đại dương còn là cái rất mênh mông và sâu thẳm, chứ không chỉ là những con sóng chợt sinh chợt diệt. Để tìm thấy đại dương trong chính mình, ta đừng tiếp tục tự đồng hóa toàn bộ con người mình với những con sóng cảm xúc. Tức là ta hãy tập quên đi hay cô lập bớt những đòi hỏi không cần thiết từ bên ngoài mà quay về sống với chính mình để thấu hiểu và làm chủ đời mình. Thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ ở thế kỷ thứ 13 của Việt Nam cũng đã từng nhắc: "Nhìn lại chính mình là bổn phận của mỗi người, nắm bắt bên ngoài sẽ chẳng được gì đâu" (Phản quang tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc).

 

Tâm lý yếu đuối có liên hệ mật thiết với tâm lý lo sợ, nhút nhát. Có thể ta là mẫu người đằm thắm, hiền hòa và rất dễ thương. Lúc nào ta cũng sẵn sàng nhường nhịn kẻ khác, thậm chí thấy họ làm sai hay gây tổn thương cho ta mà ta chẳng hề phản ứng tức giận. Ta luôn được nhiều người yêu thích và luôn là đối tượng được chọn nhiều nhất để lắng nghe kẻ khác trút cạn nỗi lòng. Thế nhưng, khi làm việc chung với ta thì ai cũng phát hoảng. Dường như ta không thể quyết đoán được vấn đề gì cả, cứ phải rơi vào tình trạng "không biết phải làm sao". Lúc đầu, mọi người tưởng rằng ta có trái tim rất lớn để chấp nhận tất cả. Nhưng rồi họ cũng phát hiện ra ta vốn không có thói quen đối đầu với những rắc rối phiền phức, vì thế ta hay trốn vào "hải đảo thinh lặng" của mình để được an toàn.

 

Ngay cả việc cần phải lên tiếng để bảo vệ sự thật hay công lý mà ta cũng phớt lờ, tìm cách tránh né hay đùn đẩy trách nhiệm cho kẻ khác. Thái độ nhút nhát đã biến ta thành kẻ hèn nhát. Hèn nhát cũng chính là tác nhân quan trọng tạo nên sự lấn lướt cho kẻ khác. Thật không có gì bất mãn cho bằng khi ta biết việc ấy nên làm và nằm trong khả năng của mình, nhưng ta lại không thể cố gắng thêm một chút nữa để vượt qua cảm xúc xấu đang khống chế toàn bộ con người mình. Cảm xúc ấy đến từ thái độ sống sai lầm. Thái độ sống sai lầm bắt nguồn từ nhận thức sai lầm khi cho rằng ta hãy nên là chính mình, không cần sửa đổi chi cho mệt xác. Từ đó, ta luôn tìm mọi cách để cưng chiều hay thăng hoa cảm xúc yêu thích. Tài năng bẩm sinh đôi khi là nguyên nhân chính dẫn đến tính cách yếu đuối. Vì nhờ nó mà ta được nổi tiếng, nhiều người ngưỡng mộ, nên ta quên mất con người thật rất yếu đuối của mình. Vốn đã yêu thích cảm xúc tốt nay lại có thêm cơ hội để hưởng thụ lượng cảm xúc khổng lồ nên tuy ta được mệnh danh là kẻ có quyền lực nhất (vì nổi tiếng và được nhiều người mến mộ), nhưng kỳ thực ta chính là kẻ yếu đuối nhất (vì dễ tổn thương nhất).

 

 

 

Chí lớn tung trời

 

Đôi khi trước những tượng đài quá lớn, nhất là khi năng lượng của tượng đài ấy đang được cộng hưởng bởi năng lượng ngưỡng mộ to tát của đại chúng, ta bỗng thấy mình quá đỗi tầm thường rồi sẵn sàng nấp dưới bóng họ. Sự yếu đuối cũng dễ dẫn đến thái độ dựa dẫm rồi đánh mất chủ quyền sống. Càng yếu đuối càng dễ dựa dẫm và càng dựa dẫm lại càng yếu đuối. Thiền sư Quảng Nghiêm, thế kỷ 12 của Việt Nam, đã từng khuyên: "Làm trai chí lớn tung trời thẳm/ Sao dẫm chân theo dấu Phật thành" (Nam nhi tự hữu xung thiên chí/ Hưu hướng Như Lai hành xứ hành). Bắt chước rập khuôn theo kẻ khác, dù đó là một đức Phật, cũng chỉ đem lại xấu hổ và mệt mỏi chứ chẳng lợi ích gì. Bởi chuyển hóa tâm hồn là sự trải nghiệm của mỗi người chứ không phải do làm giống y như thần tượng tâm linh của mình mà được. Mà tại sao ta phải làm giống y người khác, khi ta và họ có cấu trúc cơ thể và tâm thức không hề giống nhau? Ta chỉ có thể học hỏi phần nào kinh nghiệm của người đi trước, còn lại ta phải tự đương đầu và khám phá bằng thực lực của mình. Thói quen hưởng thụ dễ khiến ta đánh mất khí phách hiên ngang có sẵn của mình.

 

Nhà thơ Chế Lan Viên cũng đã từng than rằng: "Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp/ Giấc mơ con đè nát cuộc đời con/ Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp/ Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn". Giấc mơ của chúng ta là gì? Có phải là sự nghiệp hiển vinh với đời, chinh phục được người trong mộng, sở hữu cơ ngơi sang trọng thuộc bậc nhất, được bạn bè và mọi người xung quanh nể trọng? Vậy còn lý tưởng đâu? Sống mà không có ý chí muốn vươn tới mục đích cao cả thì đời sống ấy sẽ bị đóng khung trong không gian nhỏ hẹp và lạc lõng vô cùng. Thật ra, cũng không có gì để gọi là mục đích cao cả. Chia sẻ năng lực của mình để phụng sự cho cộng đồng hay cuộc sống mà mình đang nương tựa cũng chỉ là trách nhiệm căn bản của mỗi công dân mà thôi. Nếu ai cũng chỉ biết lo nghĩ đến hạnh phúc của riêng mình thì ai sẽ lo cho những cái chung? Ta không muốn kết tội nền khoa học hiện đại, vì bản thân nó đã đem tới biết bao tiện nghi cho con người. Nhưng sự thật là chính nó đã làm cho ma lực tham vọng của con người lớn mạnh hơn bao giờ hết. Nó đã đầu độc mục đích sống và nhấn chìm lý tưởng cao đẹp của hàng lớp người.

 

Đúng là ta đã đi qua thời chinh chiến, nhưng sự điêu linh trong lòng người có bao giờ chấm dứt đâu. Con người bây giờ vẫn miệt mài tranh đấu, nhưng không phải với tư cách của một chiến sĩ quên mình vì dân tộc. Ta nói ta yêu quê hương, tự hào về giống nòi, nhưng có bao giờ tự hỏi ta đã làm gì cho quê hương cho giống nòi mà không có quyền lợi của mình trong đó không? Đừng xem câu hỏi ấy là to tát. Đừng nổi giận vì bị chạm vào sự ích kỷ. Hãy can đảm nhìn vào sự thật. Quê hương và giống nòi vẫn còn vô vàn khó khăn, ta không gánh vác thì ai sẽ gánh vác bây giờ? Nếu ta vẫn tiếp tục ngoảnh mặt quay lưng với lý tưởng để bảo vệ "giấc mơ con" của mình, thì đừng hỏi tại sao cuộc đời mình quá nhỏ nhoi để rồi ta dễ dàng ném nó vào những chuyến hôn mê bất tận, đànhlòng làm đau khổ những người thân yêu hay góp phần tàn phá chính quê cha đất tổ của mình.

 

 

Phải là ta đó không?

Sống cạn đến vô hồn

Đâu anh hùng thuở trước

Khoảng lặng buồn mênh mông.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/01/2021(Xem: 11064)
Từ lâu các kinh sách Phật Giáo Việt Nam bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ âm Hán Việt của Trung Quốc. Từ những được chư tôn thiền đức Tăng Ni chuyển qua quốc ngữ tiếng Việt, để Phật tử dễ đọc, nhất là những vị chưa có kiến thức về âm Hán Việt. thế kỷ 20 (năm 2000 trở đi) các kinh sách dần dần đã Người biên soạn xuất gia tại Chùa Liên Hoa, Bình Thạnh, với Tôn Sư Hải Triều Âm, các kinh sách trong Chùa tụng bằng tiếng Việt do Tôn sư chuyển ngữ. Từ năm 2005 trở đi, người biên soạn định cư và hoằng pháp tại Hoa Kỳ. Nhiều Chùa ở Hoa Kỳ vẫn còn tụng kinh bằng âm Hán Việt và nhiều nơi phải tụng bằng tiếng Anh cho người bản địa và thế hệ con cháu thứ hai sanh tại Mỹ có thể tụng hiểu được. Phật tử Việt tụng kinh bằng tiếng Việt mà vẫn chưa hiểu được ý nghĩa ẩn sâu trong lời kinh và càng bối rối hơn khi tụng kinh bằng bằng âm Hán Việt. Đó là lý do thúc đẩy, chùa Hương Sen biên soạn một cuốn “NGHI LỄ HÀNG NGÀY” bằng tiếng Việt và tổng hợp gần 50 bài kinh:
01/01/2021(Xem: 11836)
Trong kho tàng văn học của Việt Nam và Phật Giáo, Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã có những đóng góp vô cùng to lớn và giá trị, những sáng tác của Ngài, bất hủ qua dòng thời gian, tỏa sáng lồng lộng trên bầu trời Dân Tộc và Đạo Pháp. Trần Thái Tông được kể như một vị Thiền sư cư sĩ vĩ đại, nhà thiền học uyên thâm, thành tựu sự nghiệp giác ngộ. Một vị vua anh minh dũng lược, chiến thắng quân Nguyên Mông giữ gìn bờ cõi, đem lại cường thịnh ấm no cho dân cho nước, đã để lại tấm lòng cao quý thương yêu đời đạo, lưu lại di sản trí tuệ siêu thoát cho hậu thế noi theo.
29/12/2020(Xem: 12559)
Tịch tĩnh bất động hay định lực có thể đè nén những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng, nhưng nó không thể loại trừ hoàn toàn chúng. Tuệ giác nội quán là cần thiết bởi vì như được giải thích trước đây, nó có thể loại trừ hoàn toàn những cảm xúc phiền phức và những rối rắm hậu quả của chúng. Thiền ổn định (chỉ) và thiền phân tích (quán) bây giờ phải làm việc với nhau. Khi chúng thể hiện chức năng cách này, chúng có thể nhổ gốc những cảm xúc phiền phức và loại trừ những giới hạn của thông tuệ vì thế chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu tối hậu của việc giúp đở những kẻ khác một cách hiệu quả hơn.
29/12/2020(Xem: 11493)
Thơ thiền Nhật bản là cả một thế giới thi ca độc đáo, tiêu biểu cho tư tưởng và chủ trương tu tập của thiền học Zen, nhất là qua một thể thơ cực ngắn gọi là haiku. Điểm đáng lưu ý và cần nêu lên trước nhất là thơ thiền Nhật bản khác hẳn với thơ Đường của Trung quốc. Một số học giả, kể cả các học giả Tây phương, dường như đôi khi không nhận thấy được sự khác biệt này khi mang ra phân tích và tìm hiểu tinh thần Phật giáo chung cho cả hai thế giới thi ca trên đây.
28/12/2020(Xem: 11650)
Moscow: Thuật ngữ “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” mô tả một dạng thiền cao cấp trong truyền thống Kim Cương thừa, thường được thực hành bởi các tu sĩ Phật giáo trong trạng thái quá độ sang sự chết, được gọi là trung hữu – bardo (chìa khóa để giải mã những Bí mật của Nghệ thuật sinh tử). Trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” đã được các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu Và Tìm hiểu trong nhiều năm, với sự lãnh đạo của Tiến sĩ ngành tâm lý và tâm thần học - Richard Davidson thuộc Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ), người sáng lập và Chủ tịch Trung tâm Tâm Trí Lực (Center for Healthy Minds).
28/12/2020(Xem: 12320)
Phật giáo đồ các quốc gia Đông Á, thường Kỷ niệm ngày Đức Phật Nhập Niết bàn vào tháng 2 Âm lịch. Nhưng tại địa phương tôi, Trung tâm Thiền miền Bắc Carolina (the North Carolina Zen Center) lại tổ chức Kỷ niệm ngày Đức Phật Thành đạo vào tháng 12 Âm lịch, với một buổi chia sẻ Pháp thoại với Thanh thiếu niên Phật tử, một buổi lễ thắp nến lung linh, tỏa sáng ánh đạo vàng từ bi, trí tuệ, và một bữa ăn tối sau lễ Kỷ niệm.
24/12/2020(Xem: 11830)
Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu, thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg sẽ hội thảo cùng với các nhà khoa học hàng đầu vào ngày 9 tháng 1 tới, về mối quan tâm ngày càng tăng, đối với phản ứng các bên về “khủng hoảng khí hậu: những biến đổi do con người gây ra trong môi trường làm tăng tốc độ nóng lên toàn cầu”. Cuộc thảo luận sẽ được tổ chức bởi Viện Tâm trí và Đời sống (Mind and Life Institute), rút ra từ cuốn sách mới nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chủ nghĩa hoạt động của nàng thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg, nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu và một loạt phim giáo dục mới về biến đổi khí hậu.
24/12/2020(Xem: 11452)
Trung tâm Phật giáo Somapura (Somapura Mahavihara, সোমপুর মহাবিহার, Shompur Môhabihar) được kiến tạo vào thế kỷ thứ 8, tọa lạc tại Paharpur, Badalgachhi Upazila, Naogaon, Tây Bắc Bangladesh, một ngôi Già lam Cổ tự lớn thứ hai phía Nam dãy Hymalaya, một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất Nam Á, thành tựu nghệ thuật độc đáo, ảnh hưởng đến nhiều trung tâm Phật giáo lớn khác trên thế giới.
24/12/2020(Xem: 9978)
Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp, triều đại của Ngài đã đánh dấu thời đại Phật giáo Mông Cổ Cực thịnh, Ngài là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn và là lãnh tụ của bộ tộc Tümed của Mông Cổ. Vào giữa thế kỷ 16, năm 1578 Ngài bệ kiến Sonam Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 3 và ban cho Ngài tước hiệu “Đại Dương”, “ám chỉ Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp Trí tuệ Siêu phàm như Biển” Tước hiệu Đạt Lai Lạt Ma cũng được ban cho hai vị Giáo chủ tiền nhiệm của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 3, và tước hiệu này trở thành thông dụng cho tất cả những người kế nhiệm Đức Đạt Lai Lạt Ma Sonam Gyatso về sau này.
21/12/2020(Xem: 12852)
Thơ là chữ viết, nhưng thơ cũng là giữa những dòng chữ. Thơ là lời nói ra, nhưng thơ cũng là giữa những lời nói ra, hiển lộ cả trước và sau lời nói ra. Thơ là ngôn ngữ và thơ cũng là vô ngôn, là tịch lặng. Và là bên kia của chữ viết, bên kia của lời nói. Khi đọc xong một bài thơ hay, khi không còn chữ nào trên trang giấy để đọc nữa, chúng ta sẽ thấy thơ là một cái gì như sương khói, mơ hồ, lung linh, bay lơ lửng quanh trang giấy. Cũng như thế, Kinh Phật là thơ, là lời nói, là tịch lặng, là bên kia ngôn ngữ. Khi bài Tâm Kinh đọc xong, khắp thân tâm và toàn bộ ba cõi sáu đường đều mát rượi, ngấm được cái đẹp của tịch lặng ẩn hiện bên kia những chữ vừa đọc xong. Cội nguồn thơ, cũng là cội nguồn Kinh Phật, đó là nơi của vô cùng tịch lặng, một vẻ đẹp như sương khói phả lên những gì chúng ta nhìn, nghe, cảm xúc và hay biết.