29. Ý Chí

04/01/201909:18(Xem: 25922)
29. Ý Chí

Ý Chí

(giọng đọc Phước Sang)
 

Ý  chí sẽ chỉ là tham vọng nếu nó không được đặt vào khuôn khổ rèn luyện của bản thân.

 

 

 

Sức mạnh của ý chí

 

Có một cậu bé được giao nhiệm vụ đến sớm để đốt lò sưởi ấm phòng học trước khi thầy giáo và các bạn đến. Một buổi sáng nọ, mọi người chợt bàng hoàng khi thấy ngôi trường bị cháy, và họ kéo được cậu bé ấy ra khỏi đám cháy trong tình trạng bị bỏng rất nặng. Cậu được đưa đến bệnh viện gần đó. Vài ngày sau, bác sĩ nói với mẹ cậu là có lẽ cậu sẽ chết vì phần dưới cơ thể của cậu đã bị hủy hoại. Thoáng nghe trong lúc nửa tỉnh nửa mê, cậu bé rơi nước mắt nhưng cậu quyết chí sẽ sống cho tới cùng. Cậu đã vượt qua cái chết một cách thần kỳ trước sự kinh ngạc của bác sĩ. Mối nguy hiểm tạm qua, nhưng bác sĩ lại cho hay phần dưới cơ thể cậu bị tổn hại quá nặng nên sẽ tàn phế, suốt đời cậu sẽ là kẻ vô dụng. Một lần nữa cậu bé đau đớn, nhưng vẫn nuôi ý chí được đi lại mạnh mẽ như trước.

 

Dù đôi chân tong teo kia không có cảm giác, không điều khiển được, không còn sức sống, nhưng cậu vẫn không nản lòng. Cậu giam mình suốt ngày trên xe lăn và không ngừng tìm cách vận động. Một buổi sáng nọ, bất chợt cậu phóng mình ra khỏi xe lăn, lết người ra bãi cỏ với hai chân kéo lê theo sau. Mẹ cậu cũng bất ngờ khi thấy cậu đến được hàng rào bao quanh khu nhà và đu người đứng lên dựa hàng rào. Cứ thế, mỗi ngày cậu lê mình từ cọc rào này sang cọc rào khác, tạo thành lối mòn quanh bờ rào. Cậu vẫn luôn nhủ thầm thế nào mình cũng sẽ đi được. Nhờ bàn tay tình thương của mẹ và ý chí kiên cường của mình mà cậu đã tự đứng dậy, đi cà nhắc từng bước, rồi đi một mình và có thể chạy. Cậu bắt đầu đi bộ đến trường, chạy đến trường, rồi chạy luôn tới khung trời đại học đã ước mơ bấy lâu. Điều đặc biệt là cậu đã tham gia vào đội điền kinh của trường. Chàng thanh niên mà ai cũng ngỡ rằng không thể sống nổi, không bao giờ bước được, không bao giờ chạy được chính là bác sĩ Glenn Cunningham - người chạy nhanh nhất thế giới trong cự ly một dặm.


Khi ta có ý muốn làm một việc gì đó và tin tưởng chắc chắn rằng khả năng của mình trước sau gì cũng làm được, thì niềm tin ấy sẽ biến thành nguồn năng lượng mạnh mẽ thúc đẩy ta vượt qua mọi trở ngại. Đó chính là ý chí. Nghĩa là khi ta không ngừng lặp lại trong tâm trí mình một ý muốn nào đó thì hệ thần kinh sẽ tự động hình thành một mệnh lệnh liên tục, rồi tìm cách khơi dậy và kết nối với những nguồn lực tiềm ẩn để đạt tới kết quả cho bằng được. Cho nên niềm tự tin chính là nền tảng để tạo dựng ý chí; không có niềm tự tin thì không có ý chí. Mà tin tưởng vào bản thân là tin tưởng vào thực lực có sẵn, và tin tưởng luôn những năng lực còn tiềm ẩn sẽ được đánh thức qua quá trình rèn luyện và nuôi dưỡng. Ngay khi ta chưa nhìn thấy bất cứ tín hiệu nào để biến những việc "không thể" thành "có thể", ngay cả khi mọi người đều cho rằng nó không thực tế hay nó chưa từng được thực hiện trước đó, nhưng với lòng tin vững chãi rằng điều gì cũng có thể xảy ra nếu ta tìm đúng điều kiện cho nó thì ta vẫn có thể vươn tới thành công một cách ngoạn mục.

 

Tin rằng điều gì cũng có thể xảy ra tức là ta tin vào nhân duyên, tin vào sự kết nối kỳ diệu của những nguồn năng lượng có cùng tần số. Những nguồn lực ấy thường bao gồm nguồn lực phước đức của ông bà tổ tiên và cả phần năng lượng của vũ trụ gửi đến cho ta vay mượn. Tất nhiên, ta phải có nhân duyên gốc thích hợp thì mới kết nối được. Điều này tùy thuộc vốn liếng năng lượng mà ta đã gây tạo từ trong quá khứ và những chuyển hóa vượt bậc của ta trong hiện tại. Tức là khi bắt đầu lập chí, ta đã dồn hết năng lượng quay về chính bản thân để không ngừng khơi gợi những năng lượng tốt chưa phát sinh và nuôi dưỡng những năng lượng tốt đã phát sinh. Đồng thời, ta cũng cố gắng cô lập hóa những năng lượng xấu chưa phát sinh và tìm cách chuyển hóa thật sớm những năng lượng xấu đã phát sinh. Khi chưa lập chí có thể ta không hiểu hết thực lực vốn có của mình, nhưng trong quá trình mài giũa ta sẽ phát hiện ra những bí ẩn kỳ diệu của tổng thể con người mình. Chỉ cần một điểm nào đó được khai thông thì lập tức nó kéo theo vô số thuận lợi khác. Có khi sự thuận lợi lại nằm ngay nơi hoàn cảnh khó khăn. Vì khi gặp khó khăn thì bản năng sinh tồn mới có thể gọi lên những nguồn lực tiềm tàng sâu xa mà bình thường ta không thể nào nhìn thấy được. Bởi vậy, người ta thường hay nói kẻ có chí luôn thấy cơ hội trong mọi khó khăn, còn người thiếu ý chí luôn thấy khó khăn trong mọi cơ hội. Do đó người thành công không chỉ là người vượt lên hoàn cảnh, mà điều quan trọng là họ đã vượt lên chính bản thân mình, tìm thấy được nguồn lực vĩ đại của riêng mình.


Khơi dậy ý chí

 

Người có ý chí trước hết phải là người lạc quan, luôn nhìn thấy những khía cạnh tươi sáng của cuộc sống. Tuy đang đứng trước một biến cố lớn lao, nhưng người lạc quan vẫn tin tưởng rằng khó khăn nào rồi cũng sẽ qua đi nếu mình biết khai thác tối đa khía cạnh thuận lợi, dù rất ít ỏi. Để có được tinh thần lạc quan thì ta phải có cái nhìn đúng đắn (chánh kiến) về bản chất cuộc sống, phải có khả năng vượt qua những kiến thức và kinh nghiệm cũ kỹ đã đóng kết thành định kiến và thành kiến sâu nặng trong ta. Ta còn phải có khả năng quan sát sâu sắc mọi sự vật sự việc quanh ta bằng thái độ khám phá thật sự.

 

Bí quyết để xây dựng nên tinh thần lạc quan chính là học tập cách thưởng thức cuộc sống. Khi ta tạm thời lùi lại một bước để quan sát những giá trị mầu nhiệm của cuộc sống, ta sẽ thấy thiên nhiên luôn chứa sẵn những bài học vĩ đại mà chỉ có những kẻ can đảm dám tách mình ra khỏi cái tôi nôn nóng muốn chứng tỏ mình mới có thể lãnh hội được. Những bài học ấy như là khí tiết của hoa đào trong giá rét, sự uyển chuyển mềm mại của cây trúc trước gió bão, nguyên tắc làm việc hòa điệu của bầy ong, hay tinh thần đoàn kết của đàn kiến. Thiên nhiên không những chỉ cho ta con đường đi tới thành công mà còn chỉ cho ta nghệ thuật sống, vì vậy trước khi vươn tới thành công ta đã có ngay niềm vui sống. Tinh thần này lại là chất liệu không thể thiếu để khơi dậy mọi thành công.

 

Thời gian về sống với thiên nhiên và thưởng thức cuộc sống cũng chính là cơ hội quý báu để ta nhìn lại chính mình. Đó là lý do mà những người muốn lập chí lớn thường hay rút lui ở ẩn để mài giũa "ngọc" của mình, thay vì cứ lăng xăng tích góp những điều kiện thuận lợi tạm bợ bên ngoài. Khi ngọc đã sáng thì không sợ những biến động hay nghịch cảnh nữa. Ta đã đủ sức vượt qua nó và hơn hết là ta đã nhìn nó ở một tầng nhận thức khác. Ta sẽ biết rõ mình nên làm gì và không nên làm gì để biến ước mơ thành hiện thực. Sự thật khi ngọc của ta đã sáng thì tất cả những năng lượng có cùng tần số ấy sẽ tự động kết nối mà ta chẳng cần nhọc công đi tìm. Như vậy, quá trình mài giũa ngọc mới là công việc quan trọng nhất mà cũng là khó khăn nhất. Ta phải rời xa sự hưởng thụ cao cấp, thậm chí phải đặt mình vào khuôn khổ khắc nghiệt để dồn năng lượng đầu tư cho sức khỏe, xây dựng mức chịu đựng kiên trì và nhất là chuyển hóa những thói quen nguy hại.

 

Ta từng thấy nhiều người cũng có ý chí vươn lên nhưng thực chất là họ chỉ đang cố gắng tích góp những điều kiện thuận lợi từ bên ngoài, còn bản thân họ vẫn không thay đổi được gì cả. Trình độ hiểu biết và khả năng chịu đựng của họ vẫn y nguyên như cũ. Ước mơ vươn tới những mục tiêu xa vời của họ rốt cuộc cũng chỉ là những giấc mộng đẹp mà thôi. Thế nên, ý chí sẽ chỉ là tham vọng nếu nó không được đặt vào khuôn khổ rèn luyện của bản thân. Vì thái độ ấy chính là ước muốn có được nhiều hơn những gì ta đang có, nhưng lại không đủ sức khơi dậy năng lực tiềm ẩn để vượt qua giới hạn hiện tại của mình.

 

Ta đừng quên rằng năng lượng trong ta cũng có lúc mạnh lúc yếu thì ý chí không phải lúc nào cũng kiên định. Nhưng ta cũng đừng nao núng. Chúng chỉ là sự trở lại của thói quen hưởng thụ, hay đột nhiên ý  niệm mong chờ tín hiệu của sự khởi sắc lại trỗi dậy mạnh mẽ, hoặc áp lực của hoàn cảnh bất ngờ gia tăng. Tất cả đều là những hiện tượng nhất thời. Chỉ cần ta kiên trì giữ vững sự thực tập hay cố gắng thêm một chút thì mọi thứ sẽ đi qua. Sau sự cố gắng ấy ta lại có thêm một kinh nghiệm mới quý giá. Người nào vốn không có thói quen hành xử theo cảm xúc, luôn biết sống sâu sắc với thực tại và nhìn lại bản thân mình, từng trải qua những hoàn cảnh khó khăn thì họ đã nắm hơn một nửa yếu tố để biến giấc mơ thành hiện thực. Nên việc mài giũa ngọc của bản thân cần phải được thực hiện ngay từ khi còn trẻ, còn có thể uốn nắn dễ dàng. Vì hưởng thụ không chỉ làm cho ta yếu đi mà thói quen ấy còn khiến cho ta nghiện ngập và phủ lên ta những lớp bụi dày của u mê nữa.

 

Khi ta nói "Tôi luôn đúng" đó là thái độ bảo thủ, nhưng ta nói "Tôi luôn tin ở tôi" tức là ta đang tôn trọng chính mình. Đây là thứ tài sản vô giá mà không phải ai cũng có được. Sự khiếm khuyết về thể chất, tài năng, hay từng chịu thất bại nặng nề rất dễ khiến ta đánh mất niềm tin vào bản thân và có cái nhìn bi quan vào mọi vấn đề của cuộc sống. Nhà thơ Frederick Langbridge đã viết: "Hai người cùng nhìn bầu trời đêm qua những chấn song, một người chỉ thấy một màu đen còn người kia thì thấy những vì sao". Để cái nhìn của ta luôn được rộng lớn thênh thang, ngoài việc loại trừ những thành kiến cũ rích, ta còn phải vượt qua những cảm xúc nông nổi hay tự áp đặt mình phải trở thành thế này thế nọ mà không thể chấp nhận bản thân và hoàn cảnh trong hiện tại. Chấp nhận để không tạo thêm áp lực và thấu hiểu rồi tìm cách hóa giải chứ không phải đầu hàng. Cho nên ý chí nếu không khéo dùng, nó sẽ biến thành bức màn nhung tuyệt đẹp che đậy sự thật yếu kém của ta, rồi dựng lên những vở tuồng hấp dẫn do tâm tưởng biên đạo chứ không hề có thật.

 

Một điều ít ai ngờ là bản thân ý chí không chỉ làm nên những điều phi thường, mà nó còn có thể nâng đỡ những điều phi thường khác xuất hiện. Sự thành công của người này sẽ trở thành nguồn khích lệ mạnh mẽ khiến cho niềm tin trong người khác bừng dậy, hướng tới những điều "không thể". Như vậy, để biến những điều "không thể" thành những điều "có thể", ta không chỉ cần sự vươn lên của bản thân mà còn cần năng lượng yểm trợ của những người thành công và cả tình thương của vũ trụ nữa. Vì lẽ đó, khi thành công ta phải có trách nhiệm hồi đáp lại những ân tình ấy bằng thái độ khiêm cung và luôn hướng tới việc giúp đỡ người khác. Có như thế ta mới giữ vững được sự thành công. Nên nhớ rằng cả con người ta đều vô ngã thì ý chí cũng vô ngã. Đừng vô tình biến nó thành món trang sức lộng lẫy để tôn vinh cái tôi mà lại xem thường những kẻ còn nhiều yếu kém.

 

 

Đỉnh cao nào cũng tới

Khi vượt thoát chính mình

Đường dài không bước mỏi

Nhờ vui thú đăng trình.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/01/2021(Xem: 11064)
Từ lâu các kinh sách Phật Giáo Việt Nam bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ âm Hán Việt của Trung Quốc. Từ những được chư tôn thiền đức Tăng Ni chuyển qua quốc ngữ tiếng Việt, để Phật tử dễ đọc, nhất là những vị chưa có kiến thức về âm Hán Việt. thế kỷ 20 (năm 2000 trở đi) các kinh sách dần dần đã Người biên soạn xuất gia tại Chùa Liên Hoa, Bình Thạnh, với Tôn Sư Hải Triều Âm, các kinh sách trong Chùa tụng bằng tiếng Việt do Tôn sư chuyển ngữ. Từ năm 2005 trở đi, người biên soạn định cư và hoằng pháp tại Hoa Kỳ. Nhiều Chùa ở Hoa Kỳ vẫn còn tụng kinh bằng âm Hán Việt và nhiều nơi phải tụng bằng tiếng Anh cho người bản địa và thế hệ con cháu thứ hai sanh tại Mỹ có thể tụng hiểu được. Phật tử Việt tụng kinh bằng tiếng Việt mà vẫn chưa hiểu được ý nghĩa ẩn sâu trong lời kinh và càng bối rối hơn khi tụng kinh bằng bằng âm Hán Việt. Đó là lý do thúc đẩy, chùa Hương Sen biên soạn một cuốn “NGHI LỄ HÀNG NGÀY” bằng tiếng Việt và tổng hợp gần 50 bài kinh:
01/01/2021(Xem: 11836)
Trong kho tàng văn học của Việt Nam và Phật Giáo, Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã có những đóng góp vô cùng to lớn và giá trị, những sáng tác của Ngài, bất hủ qua dòng thời gian, tỏa sáng lồng lộng trên bầu trời Dân Tộc và Đạo Pháp. Trần Thái Tông được kể như một vị Thiền sư cư sĩ vĩ đại, nhà thiền học uyên thâm, thành tựu sự nghiệp giác ngộ. Một vị vua anh minh dũng lược, chiến thắng quân Nguyên Mông giữ gìn bờ cõi, đem lại cường thịnh ấm no cho dân cho nước, đã để lại tấm lòng cao quý thương yêu đời đạo, lưu lại di sản trí tuệ siêu thoát cho hậu thế noi theo.
29/12/2020(Xem: 12558)
Tịch tĩnh bất động hay định lực có thể đè nén những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng, nhưng nó không thể loại trừ hoàn toàn chúng. Tuệ giác nội quán là cần thiết bởi vì như được giải thích trước đây, nó có thể loại trừ hoàn toàn những cảm xúc phiền phức và những rối rắm hậu quả của chúng. Thiền ổn định (chỉ) và thiền phân tích (quán) bây giờ phải làm việc với nhau. Khi chúng thể hiện chức năng cách này, chúng có thể nhổ gốc những cảm xúc phiền phức và loại trừ những giới hạn của thông tuệ vì thế chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu tối hậu của việc giúp đở những kẻ khác một cách hiệu quả hơn.
29/12/2020(Xem: 11493)
Thơ thiền Nhật bản là cả một thế giới thi ca độc đáo, tiêu biểu cho tư tưởng và chủ trương tu tập của thiền học Zen, nhất là qua một thể thơ cực ngắn gọi là haiku. Điểm đáng lưu ý và cần nêu lên trước nhất là thơ thiền Nhật bản khác hẳn với thơ Đường của Trung quốc. Một số học giả, kể cả các học giả Tây phương, dường như đôi khi không nhận thấy được sự khác biệt này khi mang ra phân tích và tìm hiểu tinh thần Phật giáo chung cho cả hai thế giới thi ca trên đây.
28/12/2020(Xem: 11650)
Moscow: Thuật ngữ “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” mô tả một dạng thiền cao cấp trong truyền thống Kim Cương thừa, thường được thực hành bởi các tu sĩ Phật giáo trong trạng thái quá độ sang sự chết, được gọi là trung hữu – bardo (chìa khóa để giải mã những Bí mật của Nghệ thuật sinh tử). Trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” đã được các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu Và Tìm hiểu trong nhiều năm, với sự lãnh đạo của Tiến sĩ ngành tâm lý và tâm thần học - Richard Davidson thuộc Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ), người sáng lập và Chủ tịch Trung tâm Tâm Trí Lực (Center for Healthy Minds).
28/12/2020(Xem: 12320)
Phật giáo đồ các quốc gia Đông Á, thường Kỷ niệm ngày Đức Phật Nhập Niết bàn vào tháng 2 Âm lịch. Nhưng tại địa phương tôi, Trung tâm Thiền miền Bắc Carolina (the North Carolina Zen Center) lại tổ chức Kỷ niệm ngày Đức Phật Thành đạo vào tháng 12 Âm lịch, với một buổi chia sẻ Pháp thoại với Thanh thiếu niên Phật tử, một buổi lễ thắp nến lung linh, tỏa sáng ánh đạo vàng từ bi, trí tuệ, và một bữa ăn tối sau lễ Kỷ niệm.
24/12/2020(Xem: 11830)
Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu, thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg sẽ hội thảo cùng với các nhà khoa học hàng đầu vào ngày 9 tháng 1 tới, về mối quan tâm ngày càng tăng, đối với phản ứng các bên về “khủng hoảng khí hậu: những biến đổi do con người gây ra trong môi trường làm tăng tốc độ nóng lên toàn cầu”. Cuộc thảo luận sẽ được tổ chức bởi Viện Tâm trí và Đời sống (Mind and Life Institute), rút ra từ cuốn sách mới nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chủ nghĩa hoạt động của nàng thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg, nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu và một loạt phim giáo dục mới về biến đổi khí hậu.
24/12/2020(Xem: 11452)
Trung tâm Phật giáo Somapura (Somapura Mahavihara, সোমপুর মহাবিহার, Shompur Môhabihar) được kiến tạo vào thế kỷ thứ 8, tọa lạc tại Paharpur, Badalgachhi Upazila, Naogaon, Tây Bắc Bangladesh, một ngôi Già lam Cổ tự lớn thứ hai phía Nam dãy Hymalaya, một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất Nam Á, thành tựu nghệ thuật độc đáo, ảnh hưởng đến nhiều trung tâm Phật giáo lớn khác trên thế giới.
24/12/2020(Xem: 9978)
Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp, triều đại của Ngài đã đánh dấu thời đại Phật giáo Mông Cổ Cực thịnh, Ngài là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn và là lãnh tụ của bộ tộc Tümed của Mông Cổ. Vào giữa thế kỷ 16, năm 1578 Ngài bệ kiến Sonam Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 3 và ban cho Ngài tước hiệu “Đại Dương”, “ám chỉ Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp Trí tuệ Siêu phàm như Biển” Tước hiệu Đạt Lai Lạt Ma cũng được ban cho hai vị Giáo chủ tiền nhiệm của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 3, và tước hiệu này trở thành thông dụng cho tất cả những người kế nhiệm Đức Đạt Lai Lạt Ma Sonam Gyatso về sau này.
21/12/2020(Xem: 12852)
Thơ là chữ viết, nhưng thơ cũng là giữa những dòng chữ. Thơ là lời nói ra, nhưng thơ cũng là giữa những lời nói ra, hiển lộ cả trước và sau lời nói ra. Thơ là ngôn ngữ và thơ cũng là vô ngôn, là tịch lặng. Và là bên kia của chữ viết, bên kia của lời nói. Khi đọc xong một bài thơ hay, khi không còn chữ nào trên trang giấy để đọc nữa, chúng ta sẽ thấy thơ là một cái gì như sương khói, mơ hồ, lung linh, bay lơ lửng quanh trang giấy. Cũng như thế, Kinh Phật là thơ, là lời nói, là tịch lặng, là bên kia ngôn ngữ. Khi bài Tâm Kinh đọc xong, khắp thân tâm và toàn bộ ba cõi sáu đường đều mát rượi, ngấm được cái đẹp của tịch lặng ẩn hiện bên kia những chữ vừa đọc xong. Cội nguồn thơ, cũng là cội nguồn Kinh Phật, đó là nơi của vô cùng tịch lặng, một vẻ đẹp như sương khói phả lên những gì chúng ta nhìn, nghe, cảm xúc và hay biết.