Khi Thiên Nhiên Bất Bình, Loài Người Phải Than Khóc

10/04/201313:12(Xem: 10817)
Khi Thiên Nhiên Bất Bình, Loài Người Phải Than Khóc
Khi Thiên Nhiên Bất Bình, Loài Người 
Phải Than Khóc, Nhìn từ Quan điểm Phật giáo
Tỳ khưu Giáo Sư Dhammavihari Thera 

TKN Huyền Châu dịch

Những thảm họa vừa mới xảy ra do những cơn sóng thủy triều như hàng đàn quái vật khổng lồ cuốn phăng tất cả mọi người mọi vật ở vùng duyên hải Đông Nam Châu Á làm loài người trên toàn cầu hoang mang lo sợ, thúc đẩy chúng tôi diễn giải vấn đề nầy theo quan điểm Phật giáo . Khi thiên nhiên bất bình, như chúng tôi đã trình bày ở trên, ảnh hưởng đến mạng sống của con người trên trái đất này ở bất cứ địa hạt nào, bất phân giai cấp, chủng tộc, tôn giáo cũng như đạo đức luân lý nào.

Nhờ những phương tiện thông tin hiện đại trên thế giới, con người ở hang cùng ngõ hẻm nào cũng sử dụng được.Và điều đó, luôn được sử dung rất bén nhạy cho lợi ích, an toàn và hạnh phúc của con người. Nhưng rõ rành rành là thảm họa nầy không thể tránh được. Thiên nhiên chạy nhanh hơn con người. Phải chăng nơi nào con người thành công nơi đó con người sẽ thất bại? Đó là vấn đề chúng ta không bao giờ tự hỏi chính chúng ta. Thà chúng ta khám phá trước trong giới hạn của chúng ta, mỗi một chúng ta, dù ở phương đông, phương tây, phương nam hay phương bắc, nên làm việc trong những giới hạn đó.

Ngay cả trong thời kỳ tiền khoa học, những thảm họa thường xảy ra trong thiên nhiên nầy như động đất, núi lửa bùng nổ, sóng thủy triều, bão nhiệt đới và lũ lụt tàn phá thảm khốc (không quên trận Đại Hồng Thủy Nô-ê). Con người trên trái đất thời đó đã giải thích theo cách rất đơn giản như họ nghĩ, những hiện tượng nầy xảy ra nhiều lần lên đến mức họ cho đó là những hoạt động thánh thần hay sức mạnh siêu nhiên. Người cổ Ấn Độ thời Vệ Đà (nghĩa là hằng ngàn năm trước thời kỳ Phật giáo) đã xem sấm và chớp như những chức năng được phó thác cho Thần Mưa Parjanya. Cho phép ông ta đánh chết những kẻ làm ác trên đời bằng những cú sấm chớp. Rgvada rất tiêu biểu khi nói rằng:” Thần Parjanya, bằng sấm và chớp sẽ đánh chết những kẻ làm ác” Thần Nước, Waruna, cũng đáng sợ không kém gì Thần Mưa. Ông khộng những tỏ ra dữ dội đối với thế giới bên ngoài, bằng những đợt sóng trào khủng khiếp, mà còn trừng phạt thẳng tay những kẻ có tội, làm thân hình họ phình trướng nước và cuốn họ trôi vào vực thẳm như nạn nhân của bệnh phù thủng Ascitis đáng kinh sợ. 

Loài người chưa khám phá ra tính đồng nhất của mình với vũ trụ và nội lực của chính bản thân, đã qùy lạy van xin được che chở. Tại một nơi nào đó, thời kỳ có mưa đá từ trên những vòm trời trút xuống được diễn giải là thần phẫn nộ hay thần báo thù con người vì đã cư xử sai lầm đầy tội lỗi trên đời. Những thảm họa đó được cho là những hình phạt từ trên trời giáng xuống, mà con người phải gánh chịu một cách vô vọng. Dù diễn giải cách gì con người trên đời vẫn cho những hiện tượng nầy, người xưa cho là trời giáng xuống, ngày nay moi người đều biết như những hiện tượng vừa mới tái diễn trện thế giới chúng ta đang sống, đang xảy ra có chu kỳ. Thiên nhiên trong vũ trụ là cái đang là, Phật giáo xem đó như là những biến cố trong thiên nhiên xếp vào loại vận hành của thiên nhiên (utu-niyama). Chúng hoạt động đều đặn như quá trình nẩy mầm của những hạt giống trong môi trường thích hợp. Phật giáo gọi đó là sự vận hành của hạt giống .

Khi những thảm hoạ nầy xảy ra, cướp đi mạng sống con người, chim muông và luôn cả thú rừng không từ một cái gì cả. Tàn phá theo sát gót moi người và muôn vật. Khó tin được sự phán xét nào cho là có tội hay vô tội giáng xuống cho ai đó, trong thảm họa nầy. Chúng ta quên nhìn ý nghĩa đạo đức nào thoát ra từ những điều nầy. Tuy nhiên, trong những trường hợp như thế nầy, mọi người trong chúng ta đã sống sót, và ai trong địa bàn sinh hoat thường nhật của mình đã có lỗi với bạn hay những người chung quanh do sơ suất hay tính toán, bây giờ nên luôn cảm nhận trong chính tự tâm mình, một lỗi đạo đức sâu kín. Đó thực sự là lời cầu nguyện thiết tha- mong điều này nên xảy ra như thế, bất kỳ người đó thuộc chủng tộc hay tôn giáo đạo đức nào. Hay họ sống nơi nào trên thế giới nầy. 

Đối với mọi người, biến cố mới xảy ra nầy thực sự tạo cơ hội để thú tội hay tự chuộc tội ngay trong đời này. Đối với những ai đã khốn khổ trong thảm họa này, không kể đến mặt vật l‎ý, nếu chúng ta thực sự đau khổ trong suốt trận hỗn loạn nầy, thì ngày phán xét đã đến. Điều đó không bị trượt mất. Điều nầy chúng ta chuyển giao như một thông điệp cho nhân loại. Tư duy mới nầy và sự thay đổi thái độ nầy của chúng ta bây giờ là nhân tố không thể phủ nhận được trong phương hướng tái thiết lập cộng đồng đã bị tàn phá bất cứ nơi nào trong vùng chịu thảm họa này. Tốt hơn hằng bao vàng đầy ắp có hoặc không có dây buộc. Chỉ điều nầy thôi sẽ đem lại hòa bình trên địa cầu và thiện chí giữa con người.

Hãy suy nghĩ về những điều đã xảy ra. Chúng ta cần cảnh giác đúng vị trí thực sự của chúng ta trong thế giới chúng ta đang sống. Chúng ta sẽ không tự xem mình là những người được ân sủng ở trên đời nầy, có liên lạc trực tiếp với cõi trên, bất kỳ ở trong vùng riêng biệt nào, khi gặp những hiện tượng nay chúng ta tiếp tục khấn nguyện phục tùng để nhận được đặc ân hợp lý hóa cho đời sống hiện nay của chúng ta. Trái lại, chúng ta những con người phải sinh sống trong mối tương quan của chúng ta với toàn thể vũ trụ ở tầm cao xa hơn. Đây là ý ‎kiến của Giả thuyết Biophilia. Chúng ta phải có ý ‎thức về toàn thể hệ sinh thái đang có quan hệ mật thiết với chúng ta.

Trong thế giới đầy hiểm họa như thể nầy cái chết có thể chắc chắn hơn sự sống nhiều, điều đó đòi hỏi người Phật tử nên sống cách nào hầu tất cả sinh vật quanh chúng ta có thể sống sung túc và an toàn. Ai biết được cái chết sẽ đến với chúng ta ngày mai .Tất cả moi người phải lợi dụng tối đa cơ hội đem phúc lợi cho người khác ‘Mong cho tất cả chúng sanh được an vui hạnh phúc. Mong cho sanh mạng của họ được an toàn.’ Điều nầy phải được thể hiện thực sự chứ không phải chỉ là lời chúc suông ở đầu môi của ai đó. 

Về cơ bản đây là hiến chương cho cuộc sống lành mạnh và hài hòa trong xã hội văn minh. Người con Phật không hủy diệt sanh mạng của một chúng sanh nào và họ cũng chẳng xui khiến người khác làm hại ai. Họ chẳng tán đồng hay ủng hộ bất cứ hình thức sát hại nào do người khác làm. Lòng bi mẫn phải là đạo lý cơ bản của loài người cho sự tồn tại của chính họ. Đây chính là lối suy nghĩ trong lành, khiến Nữ sĩ Victorian Moran viết tác phẩm thú vị có tựa đề là TÌNH THƯƠNG, ĐẠO LÝ CƠ BẢN.

Source: The Buddhist Channel, http://www.buddhistchannel.tv

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/02/2013(Xem: 12937)
Cách đây gần 30 năm, ông Huang Funeng bị mù sau khi mắc căn bệnh thoái hóa mắt. Kể từ đó, vợ ông, bà Wei Guiyi, trở thành đôi mắt của chồng. Hình ảnh người vợ còng dùng gậy tre dắt chồng mù không còn xa lạ với người dân ở tỉnh Quảng Tây.
07/02/2013(Xem: 25182)
Lịch Trình Hướng Dẫn Tu Học của Phái Đoàn Hoằng Pháp HT Thích Như Ðiển tại Âu Châu từ ngày 27-3-2013 đến 21-05-2013
06/02/2013(Xem: 11138)
Hôm nay, Tết Nguyên Đán năm Kỷ Tỵ, tấtcả quí Phật tử gần xa đều về chùa lễ Phật và chúc mừng năm mới. Nhân đây chúng tôi cũng nói chuyện và chúc Tết quí vị luôn. Năm Tỵ là năm con rắn, tôi cũng tùy tục mà nói chuyện đạo lý về con rắn.
04/02/2013(Xem: 18833)
Trước khi nhập điệt, 2500 năm trước, Đức Phật đã giảng pháp lần cuối. Bài pháp thoại này đã đưọc ghi lại trong Kinh Đại Bát Niết Bàn (Trường Bộ Kinh -Maha Parinibbana Sutta -Great Passing Discourse) và đã được lưu giữ trong Tam Tạng Kinh điển Pali, những thánh điển của Phật giáo. Trong suốt 45 năm hoằng pháp, Đức Phật đã chỉ dẫn cho chúng sanh bao giáo lý để đến được con đường giải thoát. Ở giai đoạn cuối đời, Đức Phật muốn nhấn mạnh với các đệ tử của Ngài là cần đem những lời giáo huấn đó áp dụng vào cuộc sống.
02/02/2013(Xem: 12536)
You may be surprised to hear that Most Venerable Thich Quang Do has made it known to President Obama and his Administration that Vietnam needs more than ever the service of VOA/ Vietnamese service. He is the supreme Buddhist Leader in Vietnam under House Arrest.
01/02/2013(Xem: 14310)
Đức Phật không cô lập, xa lánh vua A Xà Thế, mà là mở cơ hội cho vua đến với Đức Phật. Phật giáo cố sự đại toàn chép lời Đức Phật đón vua A Xà Thế: “Đại vương! Ông tới đúng lúc. Ta đợi ông đã lâu”. Đốivới trường hợp vương triều A Xà Thế, với một vị vua tàn nhẫn, độc đoán,hiếu chiến, Đức Phật đã tạo môi trường hóa độ như thế. Trường hợp vua AXà Thế là câu trả lời chung cho câu hỏi về mối quan hệ giữa chính quyềnvới Phật giáo trong mọi thời đại. Dù là chính quyền như thế nào, đối với Phật giáo, đó vẫn là mối quan hệ mởcửa, hóa độ, mối quan hệ cho những gì tốt đẹp nhất nẩy mầm, sinh sôi. Bài viết về trường hợp vua A Xà Thế trong quan hệ với Đức Phật và tăng đoànchắc rằng sẽ định hình những nét chính trong bức tranh quan hệ Phật giáo và chính quyền mà chúng ta đang thảo luận.
27/01/2013(Xem: 16921)
Theo truyền thống tín ngưỡng của dân gian, có lẽ hình tượng 2 vị Thần Tài – Thổ Địa không xa lạ gì với người dân Việt Nam.
21/01/2013(Xem: 12698)
Theo nguyên tắc chung, tôi nghĩ rằng tôn giáo của cha mẹ mình là tôn giáo thích nghi nhất cho mỗi người. Vả lại thật cũng không tốt nếu chạy theo một tín ngưỡng nào đó rồi sau này lại từ bỏ. Ngày nay, nhiều người rất quan tâm đến đời sống tinh thần mà đặc biệt nhất là Phật giáo, nhưng thường thì họ không suy xét cẩn thận để ý thức mình đang dấn thân vào một lãnh vực tinh thần có những đặc tính như thế nào.
18/01/2013(Xem: 11560)
Người ta vẫn thường hay nói nghèo là khổ, nghèo khổ, chứ ít ai nói giàu khổ cả. Thực ra người nghèo có nỗi khổ của người nghèo, mà người giàu cũng có nỗi khổ của người giàu. Người nghèo vì không chấp nhận cái nghèo, oán ghét cái nghèo, muốn được giàu nên họ khổ. Người giàu sợ bấy nhiêu tài sản chưa đủ làm người khác nể phục, sợ bị phá sản, sợ người khác lợi dụng hay hãm hại mình nên khổ. So ra, cái khổ của người giàu còn
18/01/2013(Xem: 16949)
Trong bài viết này, tác giả đã phân tích quan niệm về tính Không – một nội dung quan trọng của kinh Kim Cương. Tính Không (Sùnyatà) là một khái niệm khá trừu tượng: vừa thừa nhận có sự hiện hữu, sự “phồng lên” (ở hình thức bên ngoài) của một thực thể, vừa chỉ ra tính trống rỗng (ở bên trong) của thực thể. Vì vậy, tính Không không phải là khái niệm chỉ tình trạng rỗng, không có gì, mà có nghĩa mọi hiện hữu đều không có “tự ngã”, không có một thực thể cố định.