Khi Thiên Nhiên Bất Bình, Loài Người Phải Than Khóc

10/04/201313:12(Xem: 10939)
Khi Thiên Nhiên Bất Bình, Loài Người Phải Than Khóc
Khi Thiên Nhiên Bất Bình, Loài Người 
Phải Than Khóc, Nhìn từ Quan điểm Phật giáo
Tỳ khưu Giáo Sư Dhammavihari Thera 

TKN Huyền Châu dịch

Những thảm họa vừa mới xảy ra do những cơn sóng thủy triều như hàng đàn quái vật khổng lồ cuốn phăng tất cả mọi người mọi vật ở vùng duyên hải Đông Nam Châu Á làm loài người trên toàn cầu hoang mang lo sợ, thúc đẩy chúng tôi diễn giải vấn đề nầy theo quan điểm Phật giáo . Khi thiên nhiên bất bình, như chúng tôi đã trình bày ở trên, ảnh hưởng đến mạng sống của con người trên trái đất này ở bất cứ địa hạt nào, bất phân giai cấp, chủng tộc, tôn giáo cũng như đạo đức luân lý nào.

Nhờ những phương tiện thông tin hiện đại trên thế giới, con người ở hang cùng ngõ hẻm nào cũng sử dụng được.Và điều đó, luôn được sử dung rất bén nhạy cho lợi ích, an toàn và hạnh phúc của con người. Nhưng rõ rành rành là thảm họa nầy không thể tránh được. Thiên nhiên chạy nhanh hơn con người. Phải chăng nơi nào con người thành công nơi đó con người sẽ thất bại? Đó là vấn đề chúng ta không bao giờ tự hỏi chính chúng ta. Thà chúng ta khám phá trước trong giới hạn của chúng ta, mỗi một chúng ta, dù ở phương đông, phương tây, phương nam hay phương bắc, nên làm việc trong những giới hạn đó.

Ngay cả trong thời kỳ tiền khoa học, những thảm họa thường xảy ra trong thiên nhiên nầy như động đất, núi lửa bùng nổ, sóng thủy triều, bão nhiệt đới và lũ lụt tàn phá thảm khốc (không quên trận Đại Hồng Thủy Nô-ê). Con người trên trái đất thời đó đã giải thích theo cách rất đơn giản như họ nghĩ, những hiện tượng nầy xảy ra nhiều lần lên đến mức họ cho đó là những hoạt động thánh thần hay sức mạnh siêu nhiên. Người cổ Ấn Độ thời Vệ Đà (nghĩa là hằng ngàn năm trước thời kỳ Phật giáo) đã xem sấm và chớp như những chức năng được phó thác cho Thần Mưa Parjanya. Cho phép ông ta đánh chết những kẻ làm ác trên đời bằng những cú sấm chớp. Rgvada rất tiêu biểu khi nói rằng:” Thần Parjanya, bằng sấm và chớp sẽ đánh chết những kẻ làm ác” Thần Nước, Waruna, cũng đáng sợ không kém gì Thần Mưa. Ông khộng những tỏ ra dữ dội đối với thế giới bên ngoài, bằng những đợt sóng trào khủng khiếp, mà còn trừng phạt thẳng tay những kẻ có tội, làm thân hình họ phình trướng nước và cuốn họ trôi vào vực thẳm như nạn nhân của bệnh phù thủng Ascitis đáng kinh sợ. 

Loài người chưa khám phá ra tính đồng nhất của mình với vũ trụ và nội lực của chính bản thân, đã qùy lạy van xin được che chở. Tại một nơi nào đó, thời kỳ có mưa đá từ trên những vòm trời trút xuống được diễn giải là thần phẫn nộ hay thần báo thù con người vì đã cư xử sai lầm đầy tội lỗi trên đời. Những thảm họa đó được cho là những hình phạt từ trên trời giáng xuống, mà con người phải gánh chịu một cách vô vọng. Dù diễn giải cách gì con người trên đời vẫn cho những hiện tượng nầy, người xưa cho là trời giáng xuống, ngày nay moi người đều biết như những hiện tượng vừa mới tái diễn trện thế giới chúng ta đang sống, đang xảy ra có chu kỳ. Thiên nhiên trong vũ trụ là cái đang là, Phật giáo xem đó như là những biến cố trong thiên nhiên xếp vào loại vận hành của thiên nhiên (utu-niyama). Chúng hoạt động đều đặn như quá trình nẩy mầm của những hạt giống trong môi trường thích hợp. Phật giáo gọi đó là sự vận hành của hạt giống .

Khi những thảm hoạ nầy xảy ra, cướp đi mạng sống con người, chim muông và luôn cả thú rừng không từ một cái gì cả. Tàn phá theo sát gót moi người và muôn vật. Khó tin được sự phán xét nào cho là có tội hay vô tội giáng xuống cho ai đó, trong thảm họa nầy. Chúng ta quên nhìn ý nghĩa đạo đức nào thoát ra từ những điều nầy. Tuy nhiên, trong những trường hợp như thế nầy, mọi người trong chúng ta đã sống sót, và ai trong địa bàn sinh hoat thường nhật của mình đã có lỗi với bạn hay những người chung quanh do sơ suất hay tính toán, bây giờ nên luôn cảm nhận trong chính tự tâm mình, một lỗi đạo đức sâu kín. Đó thực sự là lời cầu nguyện thiết tha- mong điều này nên xảy ra như thế, bất kỳ người đó thuộc chủng tộc hay tôn giáo đạo đức nào. Hay họ sống nơi nào trên thế giới nầy. 

Đối với mọi người, biến cố mới xảy ra nầy thực sự tạo cơ hội để thú tội hay tự chuộc tội ngay trong đời này. Đối với những ai đã khốn khổ trong thảm họa này, không kể đến mặt vật l‎ý, nếu chúng ta thực sự đau khổ trong suốt trận hỗn loạn nầy, thì ngày phán xét đã đến. Điều đó không bị trượt mất. Điều nầy chúng ta chuyển giao như một thông điệp cho nhân loại. Tư duy mới nầy và sự thay đổi thái độ nầy của chúng ta bây giờ là nhân tố không thể phủ nhận được trong phương hướng tái thiết lập cộng đồng đã bị tàn phá bất cứ nơi nào trong vùng chịu thảm họa này. Tốt hơn hằng bao vàng đầy ắp có hoặc không có dây buộc. Chỉ điều nầy thôi sẽ đem lại hòa bình trên địa cầu và thiện chí giữa con người.

Hãy suy nghĩ về những điều đã xảy ra. Chúng ta cần cảnh giác đúng vị trí thực sự của chúng ta trong thế giới chúng ta đang sống. Chúng ta sẽ không tự xem mình là những người được ân sủng ở trên đời nầy, có liên lạc trực tiếp với cõi trên, bất kỳ ở trong vùng riêng biệt nào, khi gặp những hiện tượng nay chúng ta tiếp tục khấn nguyện phục tùng để nhận được đặc ân hợp lý hóa cho đời sống hiện nay của chúng ta. Trái lại, chúng ta những con người phải sinh sống trong mối tương quan của chúng ta với toàn thể vũ trụ ở tầm cao xa hơn. Đây là ý ‎kiến của Giả thuyết Biophilia. Chúng ta phải có ý ‎thức về toàn thể hệ sinh thái đang có quan hệ mật thiết với chúng ta.

Trong thế giới đầy hiểm họa như thể nầy cái chết có thể chắc chắn hơn sự sống nhiều, điều đó đòi hỏi người Phật tử nên sống cách nào hầu tất cả sinh vật quanh chúng ta có thể sống sung túc và an toàn. Ai biết được cái chết sẽ đến với chúng ta ngày mai .Tất cả moi người phải lợi dụng tối đa cơ hội đem phúc lợi cho người khác ‘Mong cho tất cả chúng sanh được an vui hạnh phúc. Mong cho sanh mạng của họ được an toàn.’ Điều nầy phải được thể hiện thực sự chứ không phải chỉ là lời chúc suông ở đầu môi của ai đó. 

Về cơ bản đây là hiến chương cho cuộc sống lành mạnh và hài hòa trong xã hội văn minh. Người con Phật không hủy diệt sanh mạng của một chúng sanh nào và họ cũng chẳng xui khiến người khác làm hại ai. Họ chẳng tán đồng hay ủng hộ bất cứ hình thức sát hại nào do người khác làm. Lòng bi mẫn phải là đạo lý cơ bản của loài người cho sự tồn tại của chính họ. Đây chính là lối suy nghĩ trong lành, khiến Nữ sĩ Victorian Moran viết tác phẩm thú vị có tựa đề là TÌNH THƯƠNG, ĐẠO LÝ CƠ BẢN.

Source: The Buddhist Channel, http://www.buddhistchannel.tv

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/03/2014(Xem: 12137)
Berzin sinh tại Paterson, New Jersey, Hoa Kỳ. Ông nhận bằng cử nhân năm 1965 tại Khoa Nghiên cứu Đông phương học, Đại học Rutgers liên kết với Đại học Princeton], nhận bằng Thạc sĩ năm 1967, bằng Tiến sĩ năm 1972 của Khoa Ngôn ngữ học Viễn đông (Hoa ngữ) và Khoa Nghiên cứu Ấn Độ và Phạn ngữ, Đại học Harvard.
16/03/2014(Xem: 12982)
Như những con người, tất cả chúng ta giống nhau; xét cho cùng tất cả chúng ta thuộc cùng một hành tinh. Tất cả chúng sinh có cùng bản chất tự bẩm sinh là muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Tất cả chúng ta yêu mến chính mình và khao khát điều gì đấy tốt đẹp.
15/03/2014(Xem: 19514)
“Con người thường trở thành cái mà họ muốn. Nếu tôi cứ nghĩ rằng tôi không thể làm được điều ấy, thì chắc chắn rút cuộc tôi sẽ không làm được gì. Trái lại nếu tôi tin, tôi có thể làm thì sớm muộn gì tôi cũng sẽ thành tựu như ý muốn”. Thánh Ghandi *
15/03/2014(Xem: 14016)
Nhà tâm lý học Paul Ekman thừa nhận rằng ông chỉ hơi thích thú với Đạo Phật khi ông được mời đến Dharamsala, Ấn Độ, trong năm 2000 cho một cuộc đối thoại của Đức Đạt Lai Lạt Ma với những nhà khoa học, được bảo trợ bởi Viện Tâm Thức và Đời Sống. Nhưng Ekman, một khoa học gia chức năng nổi tiếng là một chuyên gia hàng đầu về những biểu hiện trên mặt, đã mê mẫn về đề tài được bàn thảo: những cảm xúc tàn phá. Sự tiếp xúc với Đức Đạt Lai Lạt Ma đã chuyển hóa đời sống của ông, đến một mức độ mà ông ngạc nhiên vô cùng.
15/03/2014(Xem: 12393)
Bốn pháp tế độ phát xuất từ cụm từ saṅgāha vattha nghĩa là sự thu phục, nhiếp hóa, cảm hóa, tế độ. Đây là 4 pháp, 4 nguyên tắc sống mà tiền thân chư Phật, tức chư Bồ-tát thường áp dụng để nhiếp hóa, cảm hóa chúng sanh, hướng dẫn chúng sanh trên con đường phước thiện, đạo đức. Bốn pháp này liên hệ hữu cơ, gắn bó thiết cốt với nhau, như một cái bàn có bốn chân, thiếu một thì cái bàn sẽ khập khiễng. Cũng vậy, bốn pháp tế độ mà thiếu một thì sự cảm hóa chúng sanh sẽ giảm hẳn hiệu năng. Vậy 4 pháp ấy là gì?
15/03/2014(Xem: 10671)
Thật cần yếu để học hỏi và thành đạt trong sự học vấn. Rèn tâm là một tiến trình làm cho quen thuộc. Trong phạm vi Phật Giáo, việc làm quen thuộc, hay thiền tập, liên hệ đến sự chuyển hóa tích cực tâm, đấy là, sự loại trừ những phẩm chất khiếm khuyết và việc trau dồi những phẩm chất tích cực của nó.
14/03/2014(Xem: 40802)
Nhiều người đến với đạo Phật để tìm cách giải trừ phiền não, khổ đau, họ đọc tụng kinh chú, ăn chay, niệm Phật, làm công quả, cúng dường, bố thí, nhưng không biết diệt trừ bản ngã. Trải qua bao nhiêu năm trong đạo vẫn chấp vào cái Ta, kiêu căng, ngạo mạn, khoe khoang, chạy theo danh lợi, đến khi cái ngã bị trái ý, tổn thương thì giận dữ, sân si tạo khẩu nghiệp mắng chưởi, mạ nhục kẻ khác.
14/03/2014(Xem: 15779)
Đọc Kim Dung, thấy có một nhân vật Hoà thượng tên là "Nói Không Được" rất thú vị. Thú vị không vì tính cách của ông mà vì cái tên của ông. Thật ra, trong nguyên bản gọi là Hoà thượng Bất Khả Thuyết. "Bất Khả Thuyết" hay "Nói Không Được" ta đã gặp nhiều khi học Phật, không chỉ là Bất khả thuyết mà còn Bất khả tư nghì, Bất khả đắc, Bất khả thủ, Bất khả...
13/03/2014(Xem: 11486)
Tâm linh là sự khát khao của những tâm hồn hướng thượng, vật dục là sự thèm khát của những ai thích thụ hưởng cảm thọ vật thể.. Những dân tộc có nền văn hóa sâu đậm, thâm thúy, cho dù dân tộc đó già cổi hay non trẻ, cũng đều có chiều kích tâm linh đáng kính
13/03/2014(Xem: 16075)
“Sáng cho nguời thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ.”, đó là một trong những lí do thiết yếu để đạo Phật có mặt ở thế gian. Bởi vậy, cho vui cứu khổ đã trở thành một nhiệm vụ chánh yếu của mọi người tu học theo Phật pháp – dù xuất gia hay tại gia, ở bất cứ phương trời nào,