Chướng Duyên

05/05/201807:29(Xem: 7228)
Chướng Duyên


hoa_sen




CHƯỚNG  DUYÊN


Cuộc sống không ai tránh khỏi những phiền muộn, rắc rối. Phước duyên lớn thì chướng duyên nhẹ. Thế gian xem nhẹ phước báu, hành động tội lỗi, gây nhiều ác nghiệp, dĩ nhiên sẽ gặp nhiều khó khăn trở ngại trong cuộc sống.Người tin nhân quả, cân nhắc từng lời nói, ý nghĩ, hành động tránh gây đau khổ cho kẻ khác, làm nhiều việc thiện, chướng duyên cũng sẽ giảm thiểu.

Nơi đây, trong phạm vi những người tu tập, thường gặp lắm chướng duyên, lý do từ đâu?

Thế nào là người tu tập? cuồng nhiệt với tín ngưỡng có phải là tu tập? thành kính siêng năng tụng niệm, thực hiện lễ nghi tôn giáo là cách tu tập? Bố thí cúng dường, tạo lập cơ sở tín ngưỡng, đúc chuông tạo tượng là thực hiện việc tu tập? siêng đi đền chùa nhà thờ, thánh thất…là tu tập…Tóm lại thực hiện mọi hình thức mang tính tín ngưỡng, tôn giáo mà phần lớn được xem là tu tập?

Những việc làm cho dù là thiện lành, mang tính hình thức đều thuộc lĩnh vực phước báu.Nếu việc làm thiện lành mà dụng ý cầu danh hay lợi dụng thì việc làm đó tạo thêm nhân xấu.

Mọi việc làm thể hiện như sựsùng kính tôn giáo, tín ngưỡng, lễ nghi chỉ thuộc đức tin chứ không thể gọi là hành trì về tâm linh.Những việc như vậy chỉ gieo duyên lành cho niềm sùng kính; đức tin hình tướng sẽ gặp những chướng duyên ngoại cảnh do tập khí đã gieo trồng trong quá khứ;dù thể hiện sự sùng kính tín ngưỡng hay không, chướng duyên đủ điều kiện vẫn xảy đến.

Người chuyên tu về tâm linh, gọi là thiền sinh,hoặc hành giả, bất cứ tông phái nào, có những trường hợp như:

1/ Được hướng dẫn bởi một vị minh sư chứng đắc, thiền sinh dễ vượt qua những chặng đường khúc mắc do nghiệp chướng tạo ra; vị thầy đủ kinh nghiệm giải tỏa những chướng duyên hoặc khai thị cho thiền sinh biết những chướng duyên do từ tập khí quá khứ để hóa giải.

2/ Hành giả hoặc thiền sinh không có căn bản lý thuyết việc hành trì, tự đọc sách, tìm hiểu, không được những bậc thầy đủ kinh nghiệm dẫn dắt, trong quá trình hành tập, hạt giống bất thiện tiềm ẩn trong tạng thức xuất hiện, cản trở việc tu tập, không biết cách hóa giải, lúng túng giữa pháp hành ngũ ấm xuất hiện, dễ đưa đến “tẩu hỏa nhập ma”. Khi tâm định, tưởng thức lắng đọng, cũng là lúc hạt giống bất thiện từ A lạ da trổi dậy.

Từng có những hành giả than phiền trong thời gian hành tập thì những tập khí cứ xuất hiện. Những tập khí có thể là tánh sân, có thể là tánh dục, có thể là một hình tướng hay động vật nào đó làm cho hành giả thiếu tập trung hoặc sợ hải…mặc dù hành giả không bao giờ khởi ý nhưng nó vẫn xuất hiện mỗi khi công phu thiền tập.

Có một hành giả khi nhập định là thấy con rắn xuất hiện trong ánh sáng mờ từ xa.Có hành giả cứ thấy mỹ nhân mỗi khi thiền tọa, cũng không thiếu hành giả khởi dục cho dù vẫn cố gắng công phu. Tóm lại, chính những chướng duyên đó đã làm chướng ngại trên đường tu của hành giả. Ngay cả thái tử Tất Đạt Đa trước giờ thành đạo cũng bị ma vương đến đe dọa, quyến rũ đủ thứ.

Nhiều hành giả tìm cách dụng công đối trị càng bị khủng hoảng, hoặc càng tránh né càng bị lún sâu, dùng pháp hành đè nén nó càng ngấm ngầm bộc phát, buông xuôi xem như tự đầu hàng nghiệp thức.

Cái nguy hiểm hành giả bị lừa dối, cứ tưởng mình đứng ngoài vọng tưởng lúc hành tập, thấy rõ mọi diễn tiến của tâm thức xuất hiện như  một khách quan đứng ngoài quan sát, chính trạng thái này nguy hại hơn những chướng duyên đối diện thực sự. Đừng tự mãn khi ở trạng thái an định ảo, đưa hành giả vào con đường tưởng thức xuât hiện những ảo ảnh mà cứ ngỡ là thể nghiệm chứng đác ở một tầng bậc nao đó.

Đời hay đạo, sùng tín hay hành tập, mỗi vị thế đều có một chướng duyên, chướng duyên nguy hại nhất là chướng duyên của những hành giả tâm linh, dễ lạc dẫn vào con đường ảo tưởng. Vì thế, người tu tập thiền định cần có một vị minh sư hay một vị thầy đủ kinh nghiệm hướng dẫn vượt qua những chặng đường chướng duyên khởi từ nghiệp thức. Tự mình đi vào con đường thiền định là hành động liều lĩnh. Phải biết tập khí nặng nhất của mình là gì, tìm cách hóa giải hạt giống đó trước khi bước vào đạo lộ mênh mông của tâm thức.


MINH MẪN

04/5/2018

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/11/2010(Xem: 11889)
Chúng tôi vui mừng biết rằng Hội Nghị Quốc Tế Sakyadhita về Đạo Phật và Phụ Nữ được tổ chức tại Đài Loan và được phát biểu bởi một tầng lớp rộng rãi những diễn giả từ thế giới Phật Giáo. Chúng tôi tin tưởng vững chắc rằng, những người Phật tử chúng ta có một đóng góp nổi bật để làm lợi ích cho nhân loại theo truyền thống và triết lý đạo Phật.... Thực tế, Đức Phật xác nhận rằng cả nữ và nam có một cơ hội bình đẳng và khả năng để thực hành giáo pháp và để thành đạt mục tiêu tu tập.
16/11/2010(Xem: 13001)
Sống là làm cho mình càng ngày càng hoàn thiện hơn, theo đúng với sự tiến hóa của con người và thế giới. Tự hoàn thiện là tránh làm những cái xấu và trau dồi thêm những cái tốt. Trau dồi, bồi dưỡng, trồng trọt cũng là nghĩa chữ văn hóa (culture) trong tiếng phương Tây. Bất kỳ con người nào cũng muốn cuộc sống mình tiến bộ theo chiều hướng đúng hơn, tốt hơn, đẹp hơn. Không ai muốn điều ngược lại.
15/11/2010(Xem: 14518)
Nhiều thuật ngữ trong Đạo Pháp mang tính cách thật căn bản chẳng hạn như Giác ngộ hay sựQuán thấy sáng suốt(Bodhi),Vô thường(Anitya), sự Tương liêngiữamọi hiện tượng hay Lý duyên khởi(Pratityamutpada), v.v... Trong số này cómột thuật ngữ khá quan trọng là Khổ đau(Duhkha), tuy nhiên thuật ngữ này tươngđối ít được tìm hiểu cặn kẽ, có lẽ vì khổ đau là những gì quá hiển nhiên ai cũngbiết. Thật vậy tất cả chúng sinh đều gặp khó khăn nhiều hay ít không có một ngoạilệ nào cả.Lạm Bàn Về Khái Niệm « Khổ Đau » Trong Phật Giáo - Hoang Phong
14/11/2010(Xem: 11150)
Trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự dạy rằng: “Cúng dường xong, Bồ-tát Hỷ Kiến xuất định và tự nói trong lòng: “ Tuy ta đã dùng thần lực cúng dường Phật, nhưng sao bằng lấy thân cúng dường”. Bồ-tát liền uống các chất thơm, kế uống dầu làm bằng các thứ hoa thơm mãn 1,200 năm, rồi lấy dầu thơm thoa thân, dùng áo báu cõi trời quấn mình trước đức Phật Tịnh Minh Đức, rưới các thứ dầu thơm lên áo và dùng sức nguyện thần thông mà tự đốt thân. Ánh sáng tỏa soi 80 ức hằng sa thế giới.
09/11/2010(Xem: 13828)
KHAI THỊ Quyển 1 Hòa thượng Tuyên Hóa Ban Phiên Dịch Việt Ngữ Trường Đại Học Pháp Giới Vạn Phật Thánh Thành Talmage, California
07/11/2010(Xem: 24889)
Theo hiểu biết cơ bản của Phật giáo, tâm hồn về bản chất luôn mang tính sáng suốt và thông tuệ. Thế nên, những rắc rối về tình cảm không hề tồn tại trong bản chất cơ bản của tâm hồn...
07/11/2010(Xem: 19201)
Tối nay, tôi muốn nói về sự thực tập Phật Pháp trong đời sống hằng này. Từ ngữ Phật Pháp - Giáo Pháp – Dharma có nghĩa là phương sách ngăn ngừa. Nó là điều gì đấy mà chúng ta thực hiện nhằm để tránh những rắc rối. Điều đầu tiên mà chúng ta cần phải làm để liên hệ chính chúng ta với sự thực hành Phật Pháp là để nhận ra rằng thực hành Phật Pháp là để hướng tới việc giúp chúng ta tránh khỏi những rắc rối này.
06/11/2010(Xem: 10175)
Chuyện cô nữ tu ngoại đạo Sundarī và kỹ nữ Ciñcā-māṇavikā có sắc đẹp tuyệt trần nhưng lại mang thân phận thấp hèn, hạ liệt; và cả hai đều bị chết thảm, người thì bị giết rồi cái thây bị chôn trong đống rác, người thì bị đất rút với quả báo địa ngục; hai sự kiện ấy đã dấy sinh trong lòng hoàng hậu Mallikā không biết bao nhiêu là câu hỏi, về nhân quả đời này, đời kia cũng như sự “bí mật” của nghiệp!
06/11/2010(Xem: 18715)
Ngày20 tháng tư nhuận năm Quí Mão(11/6/1963) trong một cuộc diễnhành của trên 800 vị Thượng Tọa, Ðại đức Tăng, Ni đểtranh đấu cho chính sách bình đẳng Tôn giáo, cho lá cờ quốctế không bị triệt hạ: tại ngã tư đường Phan Ðình Phùng,Lê Văn Duyệt ( Sài Gòn), lúc 9 giờ sáng, Hòa Thượng QuảngÐức phát nguyện tự tay châm lửa thiêu thân làm ngọn đuốc“ thức tỉnh” những ai manh tâm phá hoại Phật giáo. Dướiđây là tiếng nói tâm huyết cuối cùng của Ngài gửi lạicho đời.
06/11/2010(Xem: 13686)
Ngày nay, ở phương Tây, rất nhiều trung tâm dạy thiền, khí công, yoga… để chữa bệnh cũng chủ yếu là dạy cách thở bụng Nguyễn Khắc Viện là một bác sĩ, sinh năm 1913 tại Hà Tĩnh, học đại học Y khoa Hà Nội rồi sang Pháp tiếp tục học, tốt nghiệp bác sĩ nhi khoa năm 1941. Năm 1942, ông bị lao phổi nặng, điều trị ở bệnh viện Saint Hilaire du Touvet, Grenoble. Thời đó, bệnh lao chưa có thuốc chữa như bây giờ. Từ năm 1943 đến năm 1948, ông phải chịu mổ bảy lần, cắt bỏ tám cái xương sườn, cắt bỏ toàn bộ lá phổi bên phải và một phần ba lá phổi bên trái.