Đừng lo gì, ban ơi!

29/03/201721:11(Xem: 10860)
Đừng lo gì, ban ơi!



lotus_5

Đừng lo gì, ban ơi!


Phật giáo đã mọc rễ vững chắc ở Úc châu trong mấy thập niên vừa qua, nhờ vào di dân từ các xứ
có văn hóa Phật giáo khác nhau và thế hệ thứ hai gồm những người di cư từ nhỏ và những người
sanh ra tại đây. Cũng nhờ phần nào sự quan tâm của người Úc tới giáo pháp quí báu và nếp sống
(cao đẹp) đã được chứng minh bởi Phật tử thuộc mọi thành phần tại đây. Một số dân Úc nầy có
căn bản đạo đức do đã thực hành Phật pháp từ kiếp trước, hay là họ hoàn toàn mới mẻ đối với
Phật pháp, nên bị hấp dẫn mạnh mẽ bởi tính chất hòa bình, hòa hợp và cảm thông có được do
sự thực hành Phật pháp về đạo đức, thiền định và minh triết. Do đó, tôi nghĩ điều cần thiết là
Phật pháp phải được giảng dạy bằng tiếng Anh, với các từ ngữ và cách diễn tả dễ hiểu.

Mọi thành phần xã hội, mọi văn hóa và ngôn ngữ đều có những thành ngữ khác nhau, và thành ngữ
thông dụng nhứt ở Úc là "Đừng lo gì, bạn ơi!". Bạn có bao giờ nghĩ "Đừng lo gì, bạn ơi!" nghĩa là gì
nếu được giải mã và phân tích theo cái nhìn Phật giáo? Trong đề mục nầy, chúng tôi sẽ thăm dò
và cố gắng soi sáng thêm ý nghĩa của thành ngữ nầy.

Để bắt đầu, chúng tôi tách nó ra làm hai phần: 1) 'Đừng lo gì' và 2) 'bạn ơi!'. Nói vắn tắt, 'Đừng lo
gì' nghĩa là mình không có tâm lo lắng, sợ hãi, bồn chồn, hối tiếc hay những thứ như thế - và như
vậy, là một tâm thức không có các nguyên nhân gây ra cảm xúc khó chịu. Đó là tâm thức không
có sự ngu si, bám níu và chối bỏ. Trong khi "bạn ơi!" nghĩa là gọi bè bạn, đồng sự hay thân nhơn.

Bây giờ, hãy nghĩ xem làm sao chúng ta có thể giảm thiểu để cuối cùng tiêu diệt sự lo lắng và
nguyên nhân của nó - bằng cách áp dụng thuốc hay Chánh pháp. Đó là sự thực hành đạo đức,
thiền định và minh triết.

Sống có đạo đức nghĩa là tránh nói điều không thật, nhục mạ hay chia rẽ, dùng ngôn ngữ thô kệch
(khó nghe) và tham gia nói chuyện tầm phào, vô ích. Chúng ta phải nói sự thật, nói để đoàn kết, nói
khéo léo, ngọt ngào và đầy ý nghĩa. Cũng có nghĩa là tránh hành động gây tổn hại. Tránh giết hại,
không lấy những thứ người ta không cho, tránh những hành động gây tổn hại trong khi liên hệ với
người khác - và ngược lại phải tôn trọng sự sống, phải rộng lượng và hành động cẩn trọng, với tình
thương và tình bằng hữu. Bất cứ điều gì ta làm, dầu là trong khi làm việc, học hành, chơi thể thao
hay các môn vui chơi khác - chúng ta phải cư xử hiền từ, không hung hãn và có lương tâm.

Với ý định trong sạch, chúng ta cũng nên hăng hái tham gia thực hành thiền định và cố gắng
giữ cho tư tưởng và nếp sống mình được chánh đáng, loại trừ những thứ tà vạy, phát triển và
gìn gữ sự tỉnh thức và tập trung để đi đến tỉnh ngộ và hiểu biết.

Nói cách khác, chúng ta phải tham dự và thực hành con đường do đức Phật vạch ra là Bát Chánh
Đạo, có thể được tóm gọn qua lời dạy sau đây của Ngài: "Đừng làm việc quấy, chỉ làm việc lành,
lọc sạch tâm mình". Và bạn đừng lo, chúng ta càng làm càng hiểu thêm, và lời dạy nầy càng trở
nên tự nhiên. Nếu sống được như thế, chúng ta sẽ giảm bớt lo lắng và cuối cùng không còn lo lắng
gì nữa.

Bây giờ chúng ta hãy xem tới từ 'bạn ơi!', Bởi vì chúng ta chung sống trong thế giới nầy,
tất cả chúng ta liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau. Tất cả đều là bằng hữu! Do đó, nếu tốt bụng
với chính mình, chúng ta phải tốt bụng với người khác. Tốt bụng với người khác là tốt bụng
với chính mình. Chúng ta đều có khả năng thực hiện sự hòa bình (an lạc) tối hậu, đó là sự giác ngộ.

Chúng ta cần nhớ là 1) Tất cả chúng sanh đều run sợ với ý nghĩ bị làm hại. Biết như thế,
chúng ta nỡ nào làm hại chúng sanh? 2) Biết rằng tất cả chúng ta đều mong cầu hạnh phúc,
bạn hãy vun trồng tình thương cho tất cả, và 3) Tất cả chúng sanh yêu quí nhứt mạng sống
của mình. Tình bạn bao gồm tình thương và sự tương kính.

Như vậy, chúng ta cũng cần phát triển và thực hành Tứ Vô Lượng Tâm là tình thương đại đồng
(Từ), lòng Bi mẫn (thương xót), đức Hỉ (chung vui) và đức Xả (không chấp). Nguyện cho tất cả
chúng sanh có được hạnh phúc và nguyên nhân của hạnh phúc, được thoát khỏi đau khổ và các
nguyên nhân của đau khổ, Chúng ta phải hân mộ và vui tươi với sự thành đạt của người khác,
và luôn luôn giữ cho tâm mình không thiên chấp, bám níu hay ghét bỏ. Những đức tính nầy gọi là
"Vô lượng tâm" bởi vì chúng đem lại lợị ích vô biên cho tất cả chúng sanh, và ta có thể phát triển
chúng đến mức vô hạn.

Sự an tâm thật sự chỉ có thể phát triển bên trong, trong tâm chúng ta - và biểu hiện ra bên ngoài
bằng hành động và lời nói. Chúng ta phải sống theo khuôn mẫu. Phải suy nghĩ, hành động và
phát ngôn với thiện chí nhằm tạo ra sự an ổn, hoà hợp và cảm thông. Nhờ đó, chúng ta có thể
phát huy hay tạo ra hòa bình, và loại trừ sự đấu tranh.

Cũng như viên sỏi ném xuống hồ sẽ tạo thành các gợn sóng lan ra khắp nơi - tư tưởng,
hành động và lời nói của chúng ta sẽ ảnh hưởng đến tất cả. Do đó chúng ta phải suy nghĩ,
hành động và nóí năng với bốn vô lượng tâm là Từ, Bi, Hỉ và Xả - đặt cơ sở trên sự hiểu
biết chân thật. Nhờ đó chúng ta có thể đóng góp cho hòa bình thế giới và gây ảnh hưởng
để người khác cùng làm như vậy.

Hãy học tập, thực hành và chia sẻ Phật pháp cho tốt. Rồi chúng ta lúc nào cũng có thể
khuyên nhau là "Đừng lo gì, bạn ơi!"

Mùa Vesak hạnh phúc.

Theo tài liệu " No Worries Mates" Written by ay Dhamma Teacher  Andrew. J. Williams, Melbourne, 14/4/2015

Việt dịch: Thích Phước Thiệt







Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 20022)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17269)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14772)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16253)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12243)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11118)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 11689)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 7633)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 8693)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.
14/02/2021(Xem: 8030)
Ta hãy tự thoát ra khỏi thân mình hiện tại mà trở về lúc ta mới được sanh ra. Trong phút giây đặc biệt đó ta là gì? Ta vừa được chào đời, được vỗ mông để bật tiếng khóc là phổi ta hoạt động, mọi chất nhớt trong miệng được lấy ra và không khí vào buồng phổi: ta chào đời. Thân ta lúc đó là do 5 uẩn kết tạo từ hư không, 5 uẩn do duyên mà hội tụ. Cơ cấu của thân thể ta là 7 đại đất nước gió lửa không kiến thức. Cơ thể ta mở ra 6 cổng (căn) để nhập vào từ ngoài là 6 trần để rồi tạo ra 6 thức.