Kẻ Hèn Mọn

24/12/201622:04(Xem: 7583)
Kẻ Hèn Mọn

Truyện ngắn

 

KẺ HÈN MỌN

 

hoa hong bao hieu-3

                                                       

        Tối hôm ấy, một buổi tối mưa gió bão bùng cách đây năm năm, gia đình ông Hoàng tề tựu đông đủ, trên dưới hai mươi người già trẻ lớn bé của ba thế hệ.

        Họ mở một cuộc họp quan trọng, nói cho đúng hơn là một toà án gói gọn trong phạm vi gia đình, tuyệt nhiên không cho một người ngoài tham dự hoặc hay biết một chút thông tin nào. Chỉ trừ một người không hề chung huyết thống, đó chính là dì Sen, người giúp việc trung thành đã nhiều năm qua cho gia đình ông Hoàng đại phú gia, chủ một tiệm vàng lớn nhất nhì thành phố. Đó là một buổi tối mà dì Sen không bao giờ quên được, khi chết chắc có lẽ dì cũng mang theo cùng…

        Như một bị cáo ra trước vành móng ngựa, dì Sen quỳ dưới nền gạch hoa giữa đại sảnh, chung quanh là những người gia chủ kẻ đứng ngồi đều mang gương mặt lạnh lùng và não nề thất vọng. Dì bị kết tội ăn cắp vàng, đến hai mươi lượng “Rồng Vàng”, sau khi gia chủ lục soát rương hòm riêng của dì thấy được số vàng ấy. Đúng ra là mất đến hai mươi hai lượng. Hai lượng còn lại bay đi đâu, hiện cất giấu ở đâu chính là điều cả gia đình ông Hoàng muốn biết. Họ bắt dì khai, nhưng dì chỉ biết khóc kêu oan. Dì cho rằng ai đó đã ám hại dì, chơi trò ném đá giấu tay. Gia đình ông Hoàng chia làm hai phe. Một nửa bênh vực cho dì, kể công lao và đề cao tính thật thà chất phác của dì bao năm qua. Nửa còn lại nhất định kết tội và đòi tống khứ người đầy tớ gian manh ra khỏi nhà. Cuộc tranh cãi diễn ra gay gắt. Sau cùng, ông Hoàng với tư cách chủ gia đình quyết định: không khai báo cho công an, xử lý nội bộ để tránh phiền phức, và không đòi lại dì Sen hai lượng vàng còn thiếu, xem như cho dì, cấp thêm cho dì một triệu đồng để làm vốn trở về quê, không bao giờ được quay trở lại nơi mà dì gắn bó cuộc đời suốt hai mươi năm với thân phận gia nhân tôi tớ…

          Dì Sen quệt nước mắt ra đi, nhất quyết không nhận một xu hào nào lận túi, chỉ biết nhắn gửi lại một điều: dì mong có ngày được trời cao soi xét, chư Phật và Bồ tát linh thiêng từ bi gia hộ hóa giải cho dì mối oan khuất còn kia, để khi dì có xuôi tay cũng được nhắm mắt yên lòng. Dì luôn luôn và luôn luôn tin rằng có chư Phật, chư thánh chư thiên, như chính dì đã tin vào “Phật Tại Tâm” của mình.

         Khi dì rời khỏi nhà chủ, có người đứng tiễn rơi nước mắt, cũng có kẻ bĩu môi khinh bỉ rồi chửi với theo mấy câu độc địa phũ phàng…

         Dì Sen mang thân phận hèn mọn lang thang đây đó kiếm kế sinh nhai qua ngày, khi thì ngủ co ro ở chợ, khi thì nằm nghỉ ở công viên, lúc thì chui vào nhà trù của các chùa làm công quả kiếm bát cơm ly nước, không dám về quê nhà ở chốn xa xăm, dù nơi ấy có những tháng ngày yên tĩnh và có bao người thương quý mong chờ mình.

         Cách đây gần ba năm, dì Sen gặp được một quý nhân trong một lần đi bán máu, đó là chị Thư-bác sĩ khoa Truyền máu và Huyết học. Dì được mời về giúp việc cho bác sĩ Thư, quán xuyến mọi việc trong nhà như một quản gia vậy. Dì muốn chứng tỏ cho bác sĩ Thư biết là bác sĩ đã không tin dùng lầm người. Một sợi chỉ cây kim bé xíu dì cũng không màng thâm lạm. Chuyện oan khuất xưa kia, dì kể hết cho vợ chồng bác sĩ nghe. Nhằm người chồng của bác sĩ Thư là một cảnh sát điều tra, nên anh ta nổi máu nghề nghiệp muốn đích thân giải oan cho dì…

        Chuyện giải oan cho dì chưa biết được tiến hành tới đâu thì cái duyên nợ oái oăm đã ập đến thật ngẫu nhiên, nhưng mãi sau này dì Sen mới nghiệm ra đó là một chuyện có sự sắp xếp hữu ý của duyên nghiệp. Chân lý nhân quả luân hồi của đức Phật không bao giờ suy suyển sai lệch. Còn nói nôm na như người đời, thì dì sẽ ngước mắt nhìn lên vùng mây trắng tít tận cao cao mà thốt: “Trời cao có mắt mà!”.

        Nửa khuya hôm ấy, bác sĩ Thư nhận được một cuộc điện thoại của bệnh viện. Bệnh viện đang cần máu. Máu thuộc nhóm quý hiếm. Trong danh sách những người mang nhóm máu quý hiếm mà Trung tâm Truyền Máu và Huyết học cung cấp cho bệnh viện có tên… dì Sen. Bác sĩ Thư biết được điều này sau lần dì Sen đến Trung tâm bán máu lần đầu tiên. Từ khi trở thành người thân của gia đình bác sĩ Thư, dì Sen được mở rộng tầm mắt, hiểu biết thêm nhiều về những giọt máu cứu người, nên luôn luôn gìn giữ sức khoẻ của mình phòng khi hữu dụng. Dì được bác sĩ Thư chở đi ngay vào bệnh viện để cứu một mạng người đang trong tình trạng mành chỉ treo chuông. Oái oăm thay, người nhận máu của dì Sen hiến cho lại chính là… ông Hoàng. Dù đang là một đại phú gia, vàng chất cả rương, tiền chứa cả bồ, nhưng ông Hoàng vẫn không tài nào mua được vài giọt máu quý hiếm để cứu thân mạng mình sau một ca đại phẫu bị xuất huyết. Và dù gia quyến vợ con đông đảo, ông chủ tiệm vàng cũng không xin ai được một vài giọt máu cùng nhóm máu với mình, đừng nói chi đến bốn đơn vị máu quý hiếm! Sự đời oái oăm đến như vậy, ai mà dám nghĩ đến, ai mà tài nghĩ ra?

         … Ông Hoàng tai qua nạn khỏi.

           Khi ông đại phú gia được xuất viện trở về lại ngôi biệt thự khổng lồ khang trang hoành tráng của mình, ông quyết định cử những người thân uy tín nhất, đánh xe con đến tận nhà của bác sĩ Thư vào một chiều thứ bảy đẹp trời, để xin thỉnh rước dì Sen về lại với đại gia đình của ông.

          Ban đầu, dì Sen không chịu về, dứt khoát đòi ở lại với gia đình bác sĩ Thư. Dì vui mừng thì có vui mừng khi đã được cả nhà chủ cũ nhớ đến mình, còn tin dùng mình. Nhưng bấy nhiêu đó thôi thì chưa đủ làm cho dì được thanh thản sống nốt những năm tháng còn lại của đời người.  Vụ mất cắp vàng xưa kia vẫn chưa được làm sáng tỏ. Dì vẫn còn là một nghi phạm, nghi phạm số một, nghi phạm duy nhất, vậy thì mặt mũi nào mà sống với những người nghi ngờ nghi nan mình, không hiểu mình, đánh giá mình quá thấp? Không thể sống với một nghi án chưa được phá giải.

        Nhưng, do hai vợ chồng bác sĩ Thư đã luân phiên nhau năn nỉ, thuyết phục, và thậm chí còn làm bộ giận lẫy đòi đuổi dì, không muốn chứa chấp dì trong nhà nữa, xem như hợp đồng thuê người giúp việc bị cắt đứt. Dì Sen biết là vợ chồng bác sĩ Thư không hề có ác ý ác cảm gì, mà chỉ muốn điều tốt đẹp an lành đến với mình sau một thời gian dài gặp sóng gió đắng cay. Họ quý dì lắm, bụng đâu có muốn dì đi, mà phải làm bộ “đoạn tình đoạn nghĩa” để đưa dì cái thế không còn đường chọn lựa. Rốt cuộc, dì phải mỉm cười đồng ý, cuốn hành trang giã biệt vợ chồng bác sĩ Thư, để quay trở về nơi cũ đầy kỷ niệm vui buồn… Chuyện tới đâu hay tới đó. Dì chợt nhớ đến mấy câu kệ trong bài phú “Cư trần lạc đạo” của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông mà dì đã từng được nghe Thượng tọa Thích Thông Giải thuyết giảng trong mấy kỳ pháp thoại tại Hải Pháp Ni Tự, nơi dì được nương náu mười ngày để làm công quả phục vụ cho khóa tu Phật Thất của những cư sĩ áo lam:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền

(Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền

Ngọc báu trong nhà thôi tìm kiếm

Đối cảnh không tâm hỏi chi thiền!)

           Hãy tùy duyên thôi. Dì chỉ biết có vậy, những điều khác còn cao siêu quá, dì không hội đủ trí tuệ để hiểu hết thâm ý. Cứ tùy duyên mà sống, tùy cơ ứng biến, chuyện đến ta tiếp đón, chuyện đi ta tiễn đưa đi, tới đâu hay tới đó, vậy cũng là bản lĩnh rồi, cần chi phải thiền nhập với thiền xuất nữa!

           Khi dì Sen vừa đặt chân vào lại ngôi đại sảnh của chủ cũ, người thân của ông Hoàng, trên dưới hai mươi người đã chực chờ sẵn từ trước, đồng loạt quỳ sụp xuống mà lạy trước người tôi tớ hèn mọn mà xưa kia họ đã đuổi đi sau một vụ mất cắp chưa được làm sáng tỏ. Họ sụp lạy một cách chân thành, không chút tuồng kịch giả tạo, khiến cho dì phải bật khóc mà quỳ xuống lạy trả. Một cảnh tượng hiếm hoi, có chút kỳ quặc, có lẽ xưa nay trong phim ảnh cũng chưa từng có diễn ra…

           Bấy giờ, người con trai út của ông Hoàng vì ray rứt ăn năn bao năm, nay lại biết ơn cứu tử của dì Sen dành cho cha mình, nên đã thú nhận mọi tội lỗi. Chính anh chàng út ham chơi bời phóng túng này đã cạy tủ lấy vàng, nhưng không dám lấy hết đến hai mươi hai lượng, mà chỉ lấy hai lượng để đi vui chơi Vũng Tàu với lũ bạn choai choai học đòi…Vì vậy anh chàng mới nghĩ ra cách mang số vàng còn lại giấu vào rương của dì Sen để phủi tay chạy tội. Khi dì Sen bị ra trước “toà án gia đình” của mình, chàng út đã lên tiếng bênh vực cho dì, và cũng chính anh chàng là một trong những người ra đứng trước cửa tiễn dì ra đi với nước mắt chảy ngược vào trong…

           Vậy là một kết cục có hậu: Dì Sen đã được giải oan, trở lại sống thoải mái an nhiên trong ngôi nhà mà trước kia dì bị tống khứ ra khỏi như một con hủi hèn mọn.

           Dì đã trở về như một vị nữ anh hùng.

           Và, dì nhớ không lầm, khi cuốn hành trang chia tay giã biệt lần vừa rồi với nơi nương náu gần ba năm trời, cũng có người đứng phía sau tiễn dì với nước mắt lưng tròng. Những giọt nước mắt của bác sĩ Thư chất chứa đầy niềm vui và nỗi lưu luyến khôn nguôi…                                                                                                                                                       

                                                                                               

 

 

                                                                   Tâm Không Vĩnh Hữu



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14259)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20203)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17402)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14907)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16689)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12718)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11610)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12064)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8014)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9049)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.