Lá thư đầu Xuân

22/12/201621:57(Xem: 14922)
Lá thư đầu Xuân
 Lá Thư Đầu Xuân
xuan-hoa-mai
Thích Đức Trí

        Khi đông vừa tàn là xuân đến, vẽ đẹp cao quý trong ngày xuân là mọi người có dịp làm mới lại những truyền thống văn hóa, đạo đức và di huấn của tổ tiên chúng ta để lại. Những người con Việt dù ở đâu không quên văn hóa mừng xuân, gửi cho nhau câu chuyện tâm tình về quê hương xứ sở. Xuân về là dịp mọi người thể hiện sâu sắc đạo lý tri ân và báo ân cha mẹ, tổ tiên, bạn bè, người thân và xã hội. Đó là nét đẹp muôn thuở của ngày xuân trong tâm hồn người dân Việt Nam.

        Tinh thần báo ân với người thân trong gia tộc và mọi người vào dịp tết đó là nếp sống lành mạnh, nhân bản, mang đậm tình người. Trước lễ đón giao thừa đầu năm là lễ cúng tất niên. Lễ tất niên có mâm cơm ngon, hương hoa và mâm ngủ quả cúng tổ tiên, mời các ngài về ăn tết cùng con cháu. Đó cũng là bữa cơm đoàn tụ gia đình trong ngày cuối năm. Đêm đón giao thừa, nhiều nhà còn sắm sửa lễ vật thanh khiết để cúng Phật, cúng trời và các đấng thánh thần để cầu nguyện cho quốc thái dân an. Có nhiều nơi còn đốt pháo trong lễ cúng giao thừa. Mọi người thường mang áo quần mới, y phục thường trang trọng khác thường để vui xuân. Hạnh phúc nhất sau lễ đón giao thừa, bắt đầu năm mới, con cháu đi chúc tết mừng tuổi ông bà cha mẹ. Người lớn cũng gửi những lời cầu chúc cho con cháu lớn khôn, thành đạt. Suốt mấy ngày tết, mọi người còn có dịp xuất hành và thăm viếng bà con họ hàng, chia sẽ ước nguyện đầu năm.

        Phong tục Tu phước đầu năm còn lưu dấu trong văn hóa lì xì tiền tài đầu năm cho người khác. Người Việt Nam bản tính rất nhân hậu và giàu lòng vị tha, thấm nhuần đạo đức nhân sinh. Tổ tiên chúng ta rất tôn trọng đạo lý nhân quả trong đời sống, luôn khuyên dạy con cháu ăn ở hiền lành, kính trên nhường dưới, thương người nghèo khó. Triết lý sống đơn giản nhưng ấn tượng sâu sắc trong trái tim người dân Việt: “Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu”, “Ở hiền thì gặp lành”, “Thương người như thể thương thân”, “Lá lành đùm lá rách”. Ca dao cũng có câu: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”…Tình thương đó không hạn chế trong gia đình người thân mà phổ cập đến dân tộc và đồng loại. Tin sâu đạo lý nhân quả làm chủ đạo mọi giá trị đạo đức xã hội. Đầu năm tu phước, làm lành là mong cả năm đều làm được nhiều điều tốt đẹp. Sống yêu thương, tương trợ lẫn nhau lúc khó khăn hoạn nạn là nuôi lớn tình thương cá nhân và đồng loại. Đó là sức mạnh tổng hợp giúp dân tộc chúng ta dìu dắt nhau vượt mọi biến cố lâm nguy trong mọi hoàn cảnh.

       Xã hội ngày nay, mức độ chênh lệch giữa đời sống người giàu và người nghèo với khoảng các quá lớn! Có người có quyền chức, địa vị xã hội thì sống xa hoa, người dân lao động thì cùng khổ bế tắc. Đó là cảnh: “Người ăn không hết, kẻ làm không ra”. Biết bao nhiêu người dân lao động chịu cảnh đói nghèo suốt năm tháng. Xuân về, nhà ai giàu sang, lầu cao cửa rộng, hoa pháo rầm rang, quan qua, đại gia lại, tiệc tùng say sưa. Xuân về, có nhiều người dân đang trong cảnh: “tai trời, ách nước, họa người”. Xuân về, bao trẻ nhỏ thiếu ăn, thiếu mặc, chịu thiệt thòi vì gia đình lâm cảnh cùng cực, cha mẹ nhìn con với giọt nước mắt  nghẹn ngào và đau xót. Xuân về, bao cụ già ôm chiếu rách nằm ôm phận đời bất hạnh.

       Việt nam chúng ta, một hơn ngàn năm độ hộ giặc tàu, trăm năm đô hộ giặc tây, đất nước chiến tranh, Nam Bắc Trung như con một nhà đã từng trong cảnh nồi da xáo thịt, dừng chiến tranh thì sa vào nạn chủ nghĩa độc  quyền. Tất cả toàn dân Việt là nạn nhân của lịch sử, nạn nhân của chiến tranh và sự chia rẽ, hãy nhận thức để xóa bỏ hận thù, cùng hướng về một tương lai tươi sáng cho dân tộc. Đất nước Việt Nam trên bốn ngàn năm văn hiến, bao cảnh đau thương mất mát đổ dồn trên đôi vai dân tộc. Chính những người dân cùng khổ hôm nay, tổ tiên họ đã bao đời hy sinh máu thịt, gìn giữ đất nước, gìn giữ lãnh thổ, gìn giữ bản sắc văn hóa đạo đức của dân tộc Việt Nam. Cho nên, đất nước này là đất nước của dân, người dân phải có nhân quyền, cần có một chế độ với pháp luật nhân bản. Chúng ta cần có trách nhiệm chung của người dân việt đang khổ đau.

       Đón mùa xuân mới, chúng ta có cơ hội ngồi lại bên nhau, hâm nóng lại tình thương đồng bào, thể hiện lòng tri ân tổ tiên. Hãy bỏ đi mọi thành kiến và mọi ý thức hệ vay mượn không phù hợp với xu thế tự do, hạnh phúc dân tộc. Xuân về, mọi người hãy sống bên nhau trong tình ruột thịt, suy tư nỗi đau của dân của nước. Chúng ta còn có cơ hội lựa chọn sáng suốt, đừng để dân tộc chúng ta tiếp tục lê thê trong kiếp sống lầm than. Những người dân Việt thân thương đang có trách nhiệm với dân tộc hôm nay, hãy trả về cho dân Việt những gì người dân đã mất, hãy chung vai sát cánh với dân để thiết lập một xã hội tốt đẹp, để cùng dân đủ sức gìn giữ non sông việt nam tươi đẹp muôn đời./.  

 

      

      

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14259)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20203)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17402)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14907)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16690)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12718)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11610)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12064)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8014)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9049)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.