Tro của Mẹ

21/09/201507:38(Xem: 10913)
Tro của Mẹ
Tro cua Me (3) 
TRO CỦA MẸ
Vi Tâm
(viết cho một người bạn)
 

Khi mẹ mất, con cháu đều có mặt.
Qua bao năm đất nước tang thương, chiến tranh khốc liệt, đàn con gian truân trong nghề nghiệp, trong lửa đạn. Có đứa vào quân đội, cả năm không thấy mặt, không biết ở đâu. Sau chiến tranh mọi người đều tìm cách bỏ xứ.  Đứa trước đứa sau, qua rừng qua biển, rồi tìm cách đưa được mẹ sang xứ người. Các con làm lại sự nghiệp, các cháu học hành giỏi, thành công vượt mực. Ai cũng nói: “Cụ thật có phước, cụ thật có phước, được Phật độ !”

 

Ngày tang lễ mẹ, người ta đến rất đông, có người từ xa cả ngàn cây số cũng về cho bằng được. Là vì mẹ ăn ở tử tế, nên ai cũng kính mến. Nhóm này theo nhóm kia vào tụng kinh rền rền. Khi thiêu, gần cửa kính là căn phòng nhỏ, chỉ nhận 18 người. Anh cả phải đứng ra dàn xếp. Ai không được vào thì ùa ra ngoài sân, ràn rụa nước mắt nhìn khói mẹ nhè nhẹ bay lên trời…

Linh hồn mẹ đi nhưng tro mẹ để trong chùa. Con cháu ở gần tuần nào cũng vào thăm.

 

Các con muốn đưa tro mẹ về với bố. Bèn thay nhau về nước tìm mộ cha. Nhưng nghĩa địa đã được chuyển đi nơi khác. Tìm hoài tìm mãi, không biết bây giờ bố ở đâu.

 

Tro cua Me (1)

Một đứa con có dịp công cán bên Ấn Độ. Bèn xin đem tro mẹ rắc trên núi bên đất Phật. Mọi người đồng ý. Thế là đứa con kín đáo lãnh tro bay qua xứ Ấn. Từ New-Dehli lấy xe lửa bình dân tới Bodgaya. Tới Bodgaya đi xe ca lên đỉnh núi Linh Thứu.

Một cuộc đi vất vả hãi hùng. Trời nắng rừng rực, đất đai khô cạn, cây cối xác sơ, đường đi loang lở, xe bụi mịt mù. Người, trâu, bò, chó, khỉ, đen đủi, gầy guộc, trà trộn sống với nhau. Ai cũng chịu đựng, nhường nhịn. Không ai gây với ai.

Tro cua Me (2)

Đường bộ từ chân lên đỉnh Linh Thứu Sơn bây giờ dễ đi, lên vài bậc lại một đoạn bằng. Người con lên tới đỉnh núi, vào lễ Phật. Rồi tìm một chỗ vắng, hai tay run run đem tro mẹ rắc ra.

 
Tro cua Me (3)

Người con đang xếp túi lại, thì bỗng thấy có bóng râm sau lưng. Quay lại ngước lên, thấy bốn nhà sư Tây Tạng, cao lớn như mấy ông hộ pháp, đang chắp tay cầu kinh. Thì ra mấy vị từ xa đã nhìn thấy có người rắc tro, bèn tới cầu cho Mẹ. Tiếng cầu kinh trầm hùng từ trong cổ họng bay ra vang vào không gian, suốt gần nửa tiếng đồng hồ.

Bốn vị hiền từ yên lặng nhận cái vái tạ ơn của người con, rồi quay đi, theo hàng một mà xuống núi. Không ai nói với ai một lời.

Trời xanh trong. Mấy đám mây trắng xa vời. Lắng tai, chỉ nghe thấy tiếng gió thổi nhè nhẹ đưa tro mẹ bay bổng tan vào không gian bát ngát...

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/02/2025(Xem: 5988)
Hơn một thập niên sống và học đạo ở Na Lan Đà (Ấn Độ), pháp sư Nghĩa Tịnh đã ghi chép nhiều nhận xét về luật lệ cho tăng đoàn Phật giáo vào TK 7. Đây cũng là một mục đích chính của ngài sau 25 ở nước ngoài và hơn một thập niên du học ở Na Lan Đa (Ấn Độ). Phần này chú trọng vào điều 33 với tựa đề là “Tôn kính quai thức” 尊敬乖式 (tạm dịch/NCT các tục lệ/tôn kính ngược ngạo). Tuy điều 33 chỉ có 161 chữ, nhưng gồm nhiều khái niệm Phật giáo và dữ kiện rất đáng chú ý. Các ghi chép trong đó cho thấy hai bức tranh toàn cảnh của người thường (phàm/tục) phải trải qua giai đoạn xuất gia, sống một đời khất sĩ theo gương hạnh đầu đà để cuối cùng tìm đến niết bàn (vô sinh). Tương phản với người phàm sống trong tham vọng và xa xỉ, giả dối để mưu sinh. Ngoài ra, ảnh hưởng của Phạn ngữ không nhỏ trong văn hoá Trung Hoa, phản ánh qua các cách dịch nghĩa và kí âm còn tồn tại đến ngày nay; một số đã trở thành vốn từ căn bản của các ngôn ngữ bản địa mà ít người biết là có gốc 'ngoại lai'. Một số Hán và Phạ
10/02/2025(Xem: 8814)
Khi tiếng pháo đón chào năm mới 2025 chấm dứt, khi người Hòa Lan trở về với cuộc sống bình thường mỗi ngày thì đó lại là lúc người Việt Nam nơi đây chuẩn bị đón chào năm mới. Chúng ta đón Tết Nguyên Ɖán trong không khí gia đình, chúng ta không hưởng được không khí Tết ngoài đường phố, trong các cửa hàng như ở quê nhà.
10/02/2025(Xem: 5065)
Khi nào bạn thấy tâm và cảnh vốn là không, bạn sẽ thấy bất kỳ nơi nào cũng là Niết Bản. Lời dạy đó là từ một bài thơ của Thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) khi ngài dạy ý chỉ Thiền tông cho vua Trần Nhân Tông. Lời dạy đó cũng là đúc kết từ nhiều Kinh khác nhau do Đức Phật truyền dạy.
10/02/2025(Xem: 8241)
Trong tạng kinh Nikàya (Pali), cụ thể là Kinh Tương Ưng Bộ Samyutta Nikàya, Tương Ưng Nhân Duyên, những gì Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật chứng ngộ, thấy biết như thật tương ưng với những gì chư Phật quá khứ đã chứng ngộ và thấy biết như vậy. Thế Tôn gọi đó là TÙY TRÍ (Tùy trí chư Phật quá khứ: thấy biết giống như chư Phật quá khứ đã thấy, đã chứng ngộ). Đấng Thiện Thệ cho rằng những ai Tùy Trí như vậy sẽ có Pháp Trí (tức là Pháp Trí như vậy do Tùy Trí Chư Như Lai mà có, nên tràn đầy ánh quang minh hay Pháp Quang).
06/02/2025(Xem: 10407)
XUÂN VÀ CON ĐƯỜNG CỦA BỒ TÁT ĐI Pháp thoại Hòa thượng Thích Thái Hòa giảng cho Phật tử ngày mùng 2 tết Giáp Thìn, tại Tịnh Nhân Thiền đường, Tự viện Phước Duyên - Huế Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Đương Lai Hạ Sanh Từ Thị Di Lặc Tôn Phật.
05/02/2025(Xem: 8376)
Trời xuân ấm vạn nẻo đường Đất xuân ấm giữa vô thường thế gian; Non xuân đứng giữa núi ngàn, Nước xuân chảy giữa muôn vàn điệu ru;
05/02/2025(Xem: 7240)
Trong cuộc sống chúng ta thường lẫn lộn giữa thực tế và ước mơ, thế nhưng ước mơ cũng có thể giúp chúng ta nhìn vào thực tế một cách thực tế hơn, hoặc ngược lại thì thực tế đôi khi cũng có thể khơi động và làm sống lại các ước mơ của mình trong quá khứ. Câu chuyện mà tôi sắp thuật lại dưới đây nêu lên các ước mơ của một người mẹ hiện lên với mình như một sự thực, và các ước mơ của một người con mãi mãi vẫn là ước mơ.
05/02/2025(Xem: 8501)
NẾN VU LAN THẮP SÁNG GIỮA ĐỜI THƯỜNG Trong truyền thống Phật giáo, lễ Vu lan là ngọn nến hiếu hạnh thắp sáng giữa đời thường để cho ai có mắt thì được thấy, có trí thì được sáng tỏ, có tâm thì cảm và có tình, thì tình thêm sáng đẹp, rộng và sâu.
05/02/2025(Xem: 9650)
CÁC PHÂN KHOA PHẬT GIÁO Tôi viết bài này, xin chia sẻ đến những ai muốn quan tâm đến lãnh vực giáo dục trong Phật giáo, nhưng chưa có điều kiện để nghiên cứu.
04/02/2025(Xem: 5217)
Có một bài thơ khó hiểu trong Thiền Tông. Bài thơ có tên là Ngũ Vị, có khi gọi là Động Sơn Ngũ Vị, và có khi gọi là Ngũ Vị Quân Thần. Bài thơ khó hiểu phần vì dùng nhiều chữ xưa cổ, nhiều hình ảnh thi vị, và vì chỉ cho một số chặng đường tu học trong Thiền Tông. Bài này sẽ tham khảo nhiều giải thích để làm sáng tỏ bài thơ này.