Nửa bước quy y

24/10/201416:34(Xem: 11798)
Nửa bước quy y

nua buoc quy y

Chuyện kinh Phật kể rằng, tự ngàn xửa ngàn xưa, hằng hà sa kiếp trước, có con thỏ ngọc nọ thấy bầy đàn đang lúc giá rét cuối đông, chẳng kiếm được chút rau cỏ gì cho nguôi cơn đói bụng ; thỏ nọ liền “hưng khởi đại bi tâm” nhảy vào  đám lửa đang cháy rực hồng, tự biến thân mình thành thịt nướng cho bầy đàn ăn đỡ đói. Khi bầy đàn thỏ no nê thì cũng là khi thân thỏ nọ chỉ còn sót lại mấy miểng xương đen.

Phật biết đại bi tâm của thỏ từ đầu, bèn nhặt xương thỏ đem về cung quảng, phục sinh và đặt tên cho thỏ là NGỌC THỐ - có nghĩa là Thỏ Ngọc, một  sinh thể có đại bi tâm quý như ngọc; thứ ngọc Phật từng nói đến trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

Bấy giờ, cuộc đời thỏ ngọc ngày đêm yên ả nơi cung trăng, tự thân sớm hôm trau dồi công dung ngôn hạnh khiến biết bao người chung quanh nâng niu, thương yêu chiều chuộng.

Thỏ ngọc ở cung trăng, lắm kẻ dưới trần  ngước mắt trông lên thấy thỏ đẹp như trăng, lắm người tin thỏ với trăng là một. Dung nhan thỏ khác gì với mấy cô tiên, khiến dưới trần lắm người mơ ước: ước gì mình sinh được cô con gái mỹ miều như thỏ ngọc kia.

Thế rồi, điều kỳ diệu đã xảy ra: ngay nơi làng Cổ Tích, có đôi vợ chồng nọ, dày công tu nhân tích đức, nhân duyên nhiều kiếp vợ chồng hội tụ, khiến cho ngày kia họ sinh được cô con gái “mà dưới trần lắm người mơ ước” ấy.       

Ôi! Đúng là phúc ấm gia đình, vợ chồng vô cùng mãn nguyện nên đặt tên con là NGỌC THỐ. Mỗi khi ngắm nhìn con, họ nghĩ đây chính là thỏ ngọc nhà trời, thỏ từ cung trăng mà đến, thỏ với trăng làm một, thỏ đích thị là một vầng trăng rất thực, rất chơn, rất tròn, rất sáng… Từ đó mới xuất hiện duyên thơ. Thơ rằng:

Một vầng chơn nguyệt tỏ chơn tâm.

Vô ngại đại bi Quán thế âm .

Ngũ uẩn giai không vần chiếu diệu,

Tam đồ nhi huyễn điệu hành thâm.

Tinh mơ ngọc thố phô ngời ánh,

Lấp lánh kim ba rạng đúng tầm.

Nửa bước quy y về tự tánh…

Tung tăng tròn trĩnh hạnh quang lâm.

TRỤ VŨ

Rõ ràng đích thực đây là khí vị, là phong cách, là phong thái của tiền bối thi nhân Trụ Vũ, người sinh từ khoảng năm ba mươi của thế kỷ trước, thời mà tao đàn Việt Nam đã xuất hiện khá đông những thi nhân mới ảnh hưởng Tây phương, với những tên tuổi như Đông Hồ, Quách Tấn, Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu, Huy Cận…

Điều may mắn cho thế hệ chúng ta là đã chẳng những có thể thưởng thức những bài thơ đầu tay của Trụ Vũ từ những năm 1946 (với giải thưởng trang trọng về thơ do chính nhà văn Hải Triều Nguyễn Khoa Văn trao tặng), mà cho đến bây giờ vẫn còn có thể, nếu muốn, thưởng thức dòng thơ liên tục của chính tác giả này, bất tuyệt, không hề gián đoạn.

Quả vậy, dòng thơ Trụ Vũ đúng là một suối nguồn vô tận. Ông đã viết hàng chục ngàn bài thơ, hàng trăm ngàn câu thơ với tất cả mọi thể loại.

Với các nhà thơ, có thể khó nhất là thể loại thơ Đường luật. Nhưng với Trụ Vũ thì chỉ cần phẩy ngọn bút lên tờ giấy dó, ông có ngay một bài thơ tám câu năm vận vô cùng chỉn chu, lóng la lóng lánh như viên ngọc bích, không tỳ, không vết.

Cụ thể như bài thơ Đường luật với năm chính vận ông đọc cho tôi nghe đây.

Lỡ gieo vận gần như là một tử vận, thế mà dòng thơ ông cứ như dòng suối hồn hậu tuôn chảy, bất chấp những chướng ngại do từ các niêm luật nhiêu khê ràng buộc của chính thể thơ luật này.

Phần lớn các nhà làm “thơ Đường”, của Trung Quốc – là nơi xuất xứ của thể thơ này –  cũng như ở nước ta, hễ khi lỡ tay gieo một vận khó, thì đều có thái độ “bỏ khó tìm dễ”. Có nghĩa là: thay vì tuân thủ chính vận, họ đã ngả theo thông vận. Riêng Trụ Vũ, trong hàng trăm bài thơ Đường luật của mình đã sáng tác, ông đều giữ đúng theo chính vận. Cụ thể, chẳng hạn như với bài Nửa Bước Quy Y này, năm vận (vận bằng, cuối câu) của nó là: tâm, âm, thâm, tầm, lâm. Như thế là hoàn toàn theo chính vận. Giữ đúng nếp chính vận như thế, nhất là giữ đúng một cách tự nhiên, một cách hợp lý, không hề là chuyện dễ dàng. Những nhà thơ lớn của nước ta, như Hồ Xuân Hương hoặc Nguyễn Khuyến chẳng hạn, cũng ít khi giữ đúng nếp chính vận như thế. Với nữ thi hào họ Hồ, bài thơ nổi tiếng Đèo Ba Dọi (tử vận), cũng chỉ giữ được 4 vận trong 5 vận mà thôi. 5 vận cuối của bài ấy, là đèo, leo, rêu, gieo, trèo. Đèo, leo, gieo, trèo thì đã đành là chính vận; nhưng rêu thì đã lạc sang thông vận mất rồi, giảm sự toàn bích đi rồi. Lại bài Thu Điếu của thi hào Nguyễn Khuyến, gồm 5 vận veo, teo, vèo, teo, bèo thì tuy đã thần tình giữ đúng 5 chính vận, song vẫn vướng vào chút khuyết điểm là lặp lại đến 2 lần chữ teo. Mà làm thơ, thì vướng một khuyết điểm nhỏ, cũng chẳng khác chi viên kim cương vướng thoáng bọt rồi. Đâu thể gọi là toàn bích nữa.

Tản mạn một thoáng cho vui. Nay chúng ta hãy trở lại với chính “bài thơ trong cuộc”, bài Nửa Bước Quy Y. Chúng ta hãy thưởng thức 2 câu phá, thừa:

Một vầng chơn nguyệt tỏ chơn tâm

Vô ngại đại bi quán thế âm.

Đã đành vần tâm và vần âm đã tròn trĩnh chính vận, nhưng đó chỉ mới là tròn trĩnh về hình thức – về âm vận. Nghĩa là chỉ mới tròn trĩnh về sự “ăn vần”. Nhưng cái tuyệt vời của hai câu phá thừa nói trên còn tuyệt vời hơn nơi chỗ “ăn ý”. Bởi chưng bản thân mỗi người khi cha mẹ sinh thành đã là chơn nguyệt, viên nguyệt, biểu hiện tính thể của chơn như, của chơn tánh, chơn tâm. Chơn tâm ấy là bản tâm nguyên vẹn  trong sáng, vô nhiễm của em bé sơ sinh, tâm ấy là tâm Phật, tâm ấy là tâm Bồ tát ma ha tát. Bản tâm ấy gắn với cái điển tự đốt thân mình, tự hiến thân mình do bản hoài đại bi tâm của thỏ ngọc ngàn xửa ngàn xưa, thế nên mới có câu thơ thứ hai thảng thốt thần kỳ tuyệt bích:

Vô ngại đại bi Quán thế âm.

Tiếp theo, là 2 câu thực. Người đã sống với đại bi tâm, học theo hạnh nguyện Đức Quán thế âm, ắt phải nhận ra ngay :

Ngũ uẩn giai không vần chiếu diệu.

Rõ ràng : năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức; cơ cấu của thân và tâm khi chưa nhiễm bụi trần, tự thể nó đều vốn là KHÔNG, vốn là tịch chiếu, vốn là niết bàn.
hanhphuong

Bản thân hành giả khi đã quán chiếu được ngũ uẩn giai không, thì dẫu bị buộc hay tự nguyện dấn thân vào tam đồ bát nạn, những đường đi gập ghềnh, những khúc khuỷu gian nan cay đắng, những địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; những hỏa đồ, huyết đồ, đạo đồ...tất cả mọi trở lực... thảy đều là nhi huyễn, như mộng, như ánh chớp…

Đã dấn thân vào đời, vào cuộc hiện sinh với tâm nguyện dấn thân học theo hạnh nguyện của đức Quán thế âm  thì thảy đều như thế. Khi nguyện đã đi sâu vào trí tuệ Bát nhã thì ai cũng thảy đều như thế. Do vậy Trụ Vũ mới có câu tiếp này:

Tam đồ nhi huyễn điệu hành thâm.

Tam đồ đối ngũ uẩn, giai không đối nhi huyễn, chiếu diệu đối hành thâm... Kết cấu toàn bích của hai câu thực, chuyển mạch cho hai câu luận:

Tinh mơ ngọc thố phô ngời ánh,

Lấp lánh kim ba  rạng đúng tầm.

Mỗi sớm tinh mơ, mỗi chiều huyền ảo, hào quang nhật nguyệt lóng la lóng lánh những ánh sóng vàng, những tia ngọc bạc, ấy chính là biểu thị hạnh phúc tròn đầy nơi tâm nguyện bản hoài của hành giả đại bi tâm. Tư tưởng luận hay, cấu trúc từng cặp từ và nghĩa sóng sánh đối nhau thực như bạn bầu xứng đôi vừa lứa; như xuân xanh xấp xỉ tương phùng.

Sau hết, mời người đồng điệu hãy cùng bước vào hai câu kết thâm hậu của bài thơ :

Nửa bước quy y về tự tánh

Tung tăng tròn trĩnh hạnh quang lâm.

Thay vì cất bước, trẩy bước, nhớm bước, đặt bước… vào thể điệu hành thâm bát nhã, nhà thơ bảo hành giả chỉ cần “nửa bước” thôi – nửa bước dụng công quán chiếu về nửa bước khởi tâm, nhất cử nhất động vô phi thị niệm thì hành giả đã có thể tự mình trở về nương tựa CHÍNH MÌNH, đã tự mình là ốc đảo cho CHÍNH MÌNH, đã “ Nửa bước quy y về tự tánh”.

Đã quy y về tự tánh được rồi thì hai bàn chân tha hồ tung tăng trong chánh niệm, tha hồ tung tăng giữa ngũ uẩn giai không, tha hồ bay nhảy giữa tam đồ bát nạn, tha hồ đi về giữa ba cõi sáu đường.

Mỗi nửa bước, mỗi mỗi nửa bước của hành giả sẽ là tất cả các bước trên lộ trình hành thâm... bây giờ mỗi bước thảy thảy đẹp xinh, mỗi bước bây giờ thảy đều tròn trĩnh, thảy đều tỏa sáng hạnh phúc, an trú lạc pháp. Hiện thị đương chân.       

Đẹp thay! Mỗi từng giây phút giữa cuộc đời ánh sáng hạnh phúc đang đến với chính mình, tràn ngập trái tim mình, chơn tâm mình. Mỗi mỗi bước thảy đều “đúng tầm” cho ánh sáng quang lâm :

Tung tăng tròn trĩnh hạnh quang lâm.

Tư tưởng thi nhân thâm hậu, liễu ngộ tuệ giác thiền quán. Tình cảm, cảm xúc thi nhân sâu xa, trầm lắng. Người được tặng thơ hẳn cảm thấy vui một niềm vui của cảnh giới tri âm. Tôi mơ màng thấy người ấy đang chấp tay sen tịnh tâm thốt niệm: “Nam mô A di đà Phật”, ngay khi vừa cảm thụ.

Bản thân chúng tôi thật hạnh phúc khi được nhà thơ Trụ Vũ đọc cho nghe bài thơ. Sau khi đã lắng lòng, toàn tâm thưởng lãm từng câu chữ thơ ông, bất giác tôi cầm bút ghi lại những âm giai cung bực đang khởi phát, đang dội lên, đang vọng về trong tâm thức, rung động nơi trái tim :

Đã gặp nhau từ ngàn trùng sanh diệt

Biết nói răng chừ !

Quán tự tại hành thâm mới biết

Mối tình thơ chơn nguyệt vô dư.

 HẠNH PHƯƠNG

27/8/2014

Giáp Ngọ - Phật lịch 2558

 

 

HẠNH PHƯƠNG

HOÀNG KIM BÍNH    Ấp Suối Cát 1- Suối Cát – Xuân Lộc – Đông Nai.

ĐT 0985.734.265

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/11/2020(Xem: 9838)
Vào giữa thế kỷ thứ mười bảy, Đức Đệ Ngũ Đạt Lai Lạt Ma đã nhấn mạnh tầm quan trọng như thế nào để việc phân tích không trở thành một bài học thuộc lòng như vẹt mà phải là sống động. Khi chúng ta tìm kiếm cho một “cái tôi” tồn tại cụ thể như vậy mà không thể tìm kiếm được nó hoặc là cùng giống hay khác biệt với tâm thức và thân thể, điều thiết yếu là phải tìm kiếm cùng khắp; bằng khác đi chúng ta sẽ không cảm thấy tác động của việc không tìm thấy nó. Đức Đệ Ngũ Đạt Lai Lạt Ma đã viết:
15/11/2020(Xem: 10873)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tín và lâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu đã được rút gọn, chỉ giữ lại ý chính, sẽ không có chú thích về nguồn gốc. Ngoài ra trong bài 1 trước đây, người chuyển ngữ đã mạn phép ghi chú dài dòng với hy vọng có thể giúp một vài độc giả theo dõi dễ dàng hơn chăng các lời trích dẫn đôi khi khá cô đọng hoặc trừu tượng? Dầu sao thiết nghĩ sự suy tư và phán đoán là quyền hạn ưu tiên và thiêng liêng của người đọc, vì lý do đó kể từ bài 2 này, người chuyển ngữ sẽ mạn phép chỉ xin ghi chú thêm một vài suy nghĩ riêng của mình khi cảm thấy cần thiết. Độc giả có thể xem bản gốc tiếng Pháp của các câu trích dẫn này trên trang mạng của báo Le Monde: https://dicocitations.lemonde.fr/auteur/616/Bouddh
14/11/2020(Xem: 12407)
Kính mạn phép được thay đổi lại lời của một bài hát mà âm điệu đã thấm sâu vào huyết quản tôi từ bao giờ và hôm nay một lần nữa lại vang vang ...nửa như kích thích sự hưng phấn trong tôi nửa như khuyến khích tôi phải trình bày vì sao tôi thấy ra được điều này " Một niềm an vui hạnh phúc hỷ lạc thật sự có mặt và có thật trong mỗi con người chúng ta "
13/11/2020(Xem: 9582)
Từ khi có Lục tổ Huệ Năng đưa ra lý thuyết chúng sanh có sẳn Tánh Giác gọi là Phật Tánh trong người nhưng vì bị Ý thức che mờ đi nên cần ngồi thiền vén lớp ý thức này ra thì Phật tánh sẽ hiện ra thành Phật nên không cần kinh luật bất lập văn tự mà tu. Rất nhiều người bình dân phương nam đi theo một thời đông đảo. Câu hỏi được đặt ra là tánh giác này có trước hay sau ý thức? Thế nên mới đưa ra kế tiếp là giác ngộ rồi mới khởi tu tức là học kinh Phật. Vì Giác ngộ đến Giải thoát sinh tử là một chặng đường rất dài có khi rất nhiều kiếp cần trãi nghiệm. Vậy chúng ta nghiên cứu giác ngộ trước.
13/11/2020(Xem: 9796)
Nhân khi đọc bài Thành Tựu Niết bàn của Cư sỹ Nguyên giác Phan Tấn Hải, chúng tôi xin phép kết hợp với thuyết big bang của Stephen Hawking và tiến trình giác ngộ của Đức Phật, và sự sống và chết theo Phật giáo để luận bàn về Niết bàn, giải đáp thắc mắc đức Phật chết rồi đi về đâu? Đây chỉ là khởi niệm mới lạ, biết đâu tương lai sẽ có người chứng minh được.
13/11/2020(Xem: 9734)
Phương tây từ thế kỷ thứ 18 đã từng phát huy cái ngã cái tôi của con người như “tôi suy tư là tôi hiện hữu”. Từ đó đến nay người Phuơng tây phát triển cái tôi, đưa đến tôn trọng cái tính riêng biệt cũa cái tôi từ triết lý đến luật pháp. Nhưng đạo phật lại diệt ngã thì làm sao mà hoằng pháp cho người Phương tây tu theo phật được? Làm sao giải thích được ý nghĩa diệt ngã của đức Phật? Vậy ta có thể giải thích là không phải ngã? Khi người ngồi thiền định dưới cội bồ đề 49 ngày, người đạt giác ngộ và đập tay xuống đất mà nói ta đạt được chánh đẵng chánh giác do trời chứng , ta chứng và đất chứng.
13/11/2020(Xem: 8823)
Thiền tông luôn luôn nhấn mạnh “Tánh không có hai” cho đó là ý thức phân biệt nên che mờ tánh giác của chúng sanh. Vì thế thiền là vén bỏ đi ý thức vô minh này. Câu hỏi đặt ra là Tánh không phân biệt này cần thiết khi nào? Và nó thật chất là gì? Nên nghiên cứu sâu về nó. Kể từ khi lục tổ Huệ Năng đưa ra phép tu tập Vô Niệm cho thiền tông thì tánh vô phân biệt là cốt lỏi của thiền. Vô niệm là vô là vô phân biệt thì niệm là niệm Chân Như sẽ hé lộ ra mà không cần hành giả phải làm gì hết gọi là Đốn Ngộ.
13/11/2020(Xem: 14881)
Kính thưa chư Tôn đức & chư Phật tử hảo tâm Đã sắp đến ngày lễ Dewali (tết của xứ Ấn) nhưng năm nay vì tình hình lây nhiễm Dịch kéo dài nên dân nghèo sống quanh Bồ Đề Đạo Tràng trở nên túng thiếu triền miên do kinh tế sa sút và Bodhgaya không có khách hành hương lai đáo. Được sự đoái thương của chư Tôn Đức và chư Phật tử thiện hữu, chúng con, chúng tôi đã thực hiện một buổi phát chẩn lương thực cho 294 gia đình bần cùng tại 2 ngôi làng Muchalinda Naga. Đây là hai ngôi làng nằm phía sau hồ nước Mucalinda, nơi tương truyền ngày xưa vào tuần lễ thức 6 sau khi Phật Thành Đạo mãng xà vương, từ ổ chun ra, uốn mình quấn xung quanh Đức Phật bảy vòng và lấy cái mỏ to che trên đầu Ngài. Nhờ vậy mà mưa to gió lớn không động đến thân Đức Phật.
09/11/2020(Xem: 15494)
Quốc học Đại sư, Giáo sư Thiền giả Nam Hoài Cẩn, bậc thầy vĩ đại về Văn hóa Trung Hoa. Người đã tận tụy với công cuộc cứu vãn đất nước sau giai đoạn cách mạng văn hóa của những lãnh tụ Cộng sản Vô thần cực đoan, làm băng hoại xã hội, phá nát văn hóa truyền thống tổ tiên. Ông góp phần thanh tịnh hóa và tái tạo lịch sử văn hóa trong những biến động lịch sử chưa từng có của quốc gia, dân tộc Trung Hoa. Tiếp nối mạng mạch văn hóa, dung thông Trung Hoa cổ đại, hiện đại và hội nhập quốc tế.
08/11/2020(Xem: 30913)
Tôi đã có ý định từ vài tháng trước vào ngày Thầy giáo (20/11) sẽ viết một bài tri ân Sư Phụ tôi và các Giảng Sư đã gieo nhiều hạt giống tốt vào tâm thức tôi nhất là trong mùa đại dịch.