Chuyện giày chuyện dép

01/08/201420:15(Xem: 14655)
Chuyện giày chuyện dép
chuabaoquang2


Chuyện giày chuyện dép
Tản mạn nhân kỷ niệm 30 năm Bảo Quang Hamburg.

Nguyên Đạo



Bạn bè tôi thường hay đùa nhau nói: giày dép còn có số huống chi con người ta. Tôi biết, đó là bạn bè đùa vui thôi! Cuộc đời tôi thì có gắn bó nhiều với những câu chuyện về giày dép. Có bạn còn nói: cái mũ người ta đội trên đầu mới đáng nói hơn, nói chi lòng vòng mấy cái chuyện giày chuyện dép, chỉ là món đồ dùng người ta mượn để đạp dưới đất mà đi. Thì cũng có sao đâu! Cái mũ đội trên đầu thấy „cao thượng“ nhưng lúc lỡ quên mang theo thì mình có thể chui vào đâu đó tránh nắng hay dùng khăn chùm đầu cũng đỡ lạnh. Nhưng giày dép mà vắng mặt thì… bạn ơi, có hơi chật vật đấy! Sỏi đá, gai góc vào chân thì chỉ có khóc thôi. Phải vậy không? Ai từng gặp cảnh ấy mới biết. Bởi nghĩ thế nên mấy cái chuyện giày chuyện dép ấy nó cứ đeo đuổi theo tôi nhiều năm, đến hôm nay mới có dịp kể ra đây.

TO-Bo-De-Dat-Ma

[Một]

Chuyện ông già quảy chiếc dép

Lúc nhỏ, khoảng chín mười tuổi gì đó, chỉ mới vừa thấy ông lần đầu là tôi đã mê ngay, mê cái hình cụ ông ấy. Cụ ông dáng người quắc thước, đẹp lão, râu hùm, hàm én, mắt lòe kỳ quang, thân khoác cà sa. Thọat nhìn thì tưởng như ông già trong tượng Ngư Ông ở hòn non bộ của ông nội tôi. Nhìn kỹ thấy không phải, nên còn mê hơn nữa. Ông cụ chỉ quảy vỏn vẹn một chiếc dép trên vai mặt. Đó là lần đầu tiên tôi đến Chùa Bảo Quang ở Đà Nẵng. Đầu óc non nớt của một cậu bé chừng chín, mười tuổi đầu cứ mãi thắc mắc không biết chiếc dép còn lại ở đâu? Ông cụ có mang chiếc dép kia không? Mang có một chiếc thì đi đứng làm sao? Hay là cụ để dành chỉ mang mòn chiếc này rồi mới đến chiếc kia? Nhón gót lên cao để cố tìm, nhưng những vật dụng lỉnh kỉnh trên bàn thờ như nhang đèn hoa quả che mất tầm mắt nhìn của cậu bé, nên cậu ta không thấy được phần dưới của bức tranh, chỗ có đôi chân. Thắc mắc ấy đeo đuổi tôi trọn cả tuổi thơ nên cứ đến Chùa là tôi cứ chăm chú nhìn bức họa ấy! Bây giờ nghĩ lại, chắc có khi quý Sư Cô lo việc nhang đăng lúc ấy nghĩ tôi định dòm lấy cắp bánh chuối trên bàn thờ không chừng!

Lớn lên đôi chút, quý Sư Cô giải thích cho nghe thì biết được ông cụ chính là Tổ Bồ Đề Đạt Ma (?-529), Tổ Thiền Tông đời thứ 28 tính từ thời Ngài Ma Ha Ca Diếp. Tổ Đạt Ma sanh tại Kanchi, Nam Ấn Độ con vua Hương Chí (Simhavarman?). Ngài là đệ tử của Tổ Bát Nhã Đa La (Prajnatara) và được sư phụ dặn dò sau này sang Trung Hoa truyền pháp. Ngài rời Ấn Độ bằng thuyền và sau gần ba năm mới tới Quảng Châu khoảng năm 520. Vua Lương Võ Đế có mời Ngài tới gặp, sau câu chuyện trao đổi, tuy thấy nhà vua là người có lòng với đạo Phật nhưng Ngài thấy không hợp căn cơ nên rời tới chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn. Ngài dừng nơi đó, suốt chín năm ngồi xây mặt vào tường nên được gọi là "Bích quán Bà la môn" (thầy Bà la môn ngồi nhìn tường). Sau đó có vị tăng Thần Quang (487-593) được Ngài thâu nhận làm đệ tử truyền pháp. Ngài Thần Quang được đổi tên là Huệ Khả và trở nên vị tổ thứ hai tại Trung Hoa. Ở Trung Hoa được chín năm, Tổ Bồ Đề Đạt Ma trao áo cà sa và bát báu cùng bốn quyển của bộ kinh Lăng Già cho Tổ Huệ Khả. Sau đó Tổ viên tịch vào năm 529, (có tài liệu ghi là năm 532), nhục thân của Ngài được nhập tháp tại chùa Định Lâm, núi Hùng Nhĩ, Trung Hoa. Có tài liệu ghi Tổ sống lâu trên 150 tuổi (đoạn này trích theo: tangthuphathoc.net).

Tương truyền, do sự ganh ghét tị hiềm của một số kẻ đương thời , Tổ bị đánh thuốc độc năm lần, mà Tổ tự cứu lấy. Đến lần thứ sáu, hóa duyên đã xong, Tổ thị tịch.

Nhưng lại cũng có nhiều tài liệu ghi là Tổ không chết và đã bay về Ấn Độ, chuyện ly kỳ ấy như sau :

Tống Vân đi sứ Tây Vức về, gặp Tổ trên ngọn Thông Lãnh, cầm một chiếc dép, đi như bay. Tống hỏi:

- Thầy đi đâu đó ?

Tổ đáp: Ta về Tây Phương!

rồi tiếp:

- Ông chủ của ông đã chán đời rồi!

Tống Vân về đến triều thì mới hay tin Ngụy Minh Đế đã mất. Tống tâu lên vua Hiếu Trang việc gặp Tổ trên đường. Vua ra lịnh quật mồ, thì trong quan tài không có gì cả, ngoài một chiếc dép.

Còn có quá nhiều huyền thoại khác về cuộc đời của Tổ, kể cả việc nhiều tài liệu còn ghi rằng, chính Tổ là tác giả cuốn Dịch Cân Kinh và Tẩy Thủy Kinh, là Tổ Sư của võ Kungfu Tung Sơn Thiếu Lâm (nhưng cũng có nhiều tài liệu bác bỏ quan niệm này), thì làm sao một người mê truyện kiếm hiệp Kim Dung như tôi không phục lăn Ngài được.

Thành ra, chuyện chiếc dép còn lại của Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến cả bây giờ vẫn còn là một công án chưa mở ra, huống hồ chi trong trí óc non nớt của một cậu bé mười tuổi là tôi thuở ấy làm sao lý giải được. Có lần trong một giấc mơ tôi có gặp được Ngài và đã đánh bạo hỏi thẳng Tổ là chiếc dép kia của Tổ giờ ở đâu rồi? Tổ chỉ cười và nói rằng: Tội nghiệp, sao con thắc mắc hoài làm chi. Con cứ nghĩ là, ta đã tháo dép vác vai lội ruộng bị đỉa cắn nên chạy lẹ, rớt mất một chiếc lúc nào chẳng hay! Ta cũng chẳng thèm quay lại tìm làm chi cho mất công. Để thì giờ và công sức ấy đi tìm tự tánh, chân tâm có hơn không!

Dạ, tự tánh, chân tâm thì con có nghe giảng qua và có hiểu lờ mờ chút ít, còn đỉa bám vào chân thì lúc ở quê con cũng từng sợ khiếp vía. Nhưng Tổ ơi! vì Tổ là Tổ nên Tổ nói thế dễ dàng, chứ con làm sao quên được chiếc dép trên cây gậy của Tổ mà con đã mang nặng trong lòng suốt mấy mươi năm qua? Cái cậu bé đứng xơ rơ, chỉ cao đến nửa cánh cửa tủ thờ và cứ cố nhón chân nhìn lên hình Tổ đó chính là con ngày xưa.

Kính lạy Tổ!


gandhi

[Hai]

Chuyện chiếc giày rơi của Thánh Gandhi.

Rồi tự dưng tháng trước chị Mười Nghiêm ở Thụy Sĩ gởi cho bài viết ngắn rất có ý nghĩa này, thêm vào sưu tập giày rớt dép rơi của tôi, (bài viết không thấy ghi xuất xứ nên xin chép cả nguyên văn vào đây, xin lỗi tác giả). Bài viết nói về chiếc giày rơi của Thánh Gandhi.

Xe lửa bắt đầu chuyển bánh. Gandhi nhảy vội lên tàu. Một chiếc giày của ông rơi xuống. Gandhi không thể nào nhảy xuống để nhặt nó trong khi tàu chạy càng lúc càng nhanh. Trước sự sững sờ của mọi người, Gandhi đã tháo luôn chiếc giày còn lại và ném về phía chiếc giày kia. Hành khách trên tàu lấy làm lạ về hành động kỳ quặc của ông. Gandhi mỉm cười và giải thích: “Nếu có một người nghèo nào lượm được chiếc thứ nhất, họ có thể tìm thấy chiếc thứ hai và sẽ xài được đôi giày của tôi”. Chúng ta thường ít nghĩ đến người khác mà chỉ nghĩ về bản thân mình. Khi chúng ta bị mất mát, điều đầu tiên chúng ta nghĩ đến là những thiệt thòi và bất hạnh của mình. Chúng ta mất quá nhiều thì giờ cho sự tiếc nuối, than thở, chán nản, thậm chí trở nên cáu gắt và bực bội vì những rủi ro xảy ra. Gandhi đã có một hành động thật cao quý bởi trong sự mất mát của bản thân như thế, ông vẫn có thể nghĩ đến người khác. Hành động của Gandhi chứng tỏ việc nghĩ đến người khác đã trở thành một phần trong tư tưởng và nguyên tắc sống của ông. Nếu trong những lúc bình an và thành công mà chúng ta còn không quan tâm lo lắng cho những kẻ bất hạnh hơn mình thì liệu khi gặp khó khăn, mất mát, ta có thể làm được điều đó hay không?

Xung quanh ta có biết bao nhiêu người khó khăn. Họ đang cần sự giúp đỡ. Những gì họ thiếu thốn không phải lúc nào cũng là vật chất, mà đôi lúc chỉ là một lời động viên an ủi. Thế giới của chúng ta sẽ hạnh phúc biết bao nếu mỗi người không chỉ chăm lo về lợi ích riêng của mình mà còn chăm lo về lợi ích của người khác nữa.



chua bao quang

[Ba]

Mất một lại được hai, thêm cả đóa hoa tươi

Mấy chuyện kia là chuyện xưa, tin hay không là tùy bạn. Tôi có một câu chuyện mà chính tôi cũng là một nhân vật trong đó. Chuyện đã trên hai mươi năm rồi, xảy ra tại Kushinagar Ấn Độ. Chuyện như thế này:

Chuyến hành hương Phật tích Ấn Độ, do Ni Sư Diệu Tâm (bây giờ là Sư Bà) làm trưởng đoàn, của chúng tôi đã đến khoảng gần cuối tuần lễ thứ hai. Đoàn chúng tôi vừa về đến Kushinagar, nơi đức Phật nhập Niết Bàn. Đến địa điểm đức Từ Phụ xả báo thân thị tịch ai cũng quá bùi ngùi. Lúc vào chiêm bái và đi kinh hành quanh pho tượng Phật nhập diệt chúng tôi muốn rơi nước mắt, mấy bác nữ không cầm được phải bật òa ra tiếng khóc. Nhất là khi nghe giải thích rằng, lúc tượng được khai quật lên người ta đã tìm thấy nhiều bộ xương của các tu sĩ ngày xưa trong tư thế đã ôm bảo vệ tượng khi những kẻ phá hoại muốn hủy, và đã bị chôn sống theo. Vừa về đến Chùa Linh Sơn thì người hướng dẫn viên người Ấn cho biết, anh có gặp được những người quen ở địa phương và họ cho biết là còn có một đền thờ nhỏ, ghi dấu là nơi đức Thích Ca đã từng đặt chân đến đây. Địa điểm tham quan ngoài chương trình, vả lại không muốn quấy rầy những giờ phút thanh tịnh và nghỉ ngơi cần thiết của đại chúng nên Ni Sư nói là chỉ vài người cùng đi mà thôi. Cuối cùng thì có năm, sáu người gì đó theo hướng dẫn viên Ấn Độ đến thăm ngôi đền kia. Đi vào ngôi đền, lát gạch khá sạch sẽ, thấy nhiều gạch đổ như mới khai quật, trong đó có một phòng thờ tôn tượng Phật trong tư thế Nhập Niết Bàn. Khi bắt đầu bước vào ngôi đền, Ni Sư và chúng tôi cởi giày dép phía trước đền và cung kính đi vào. Chúng tôi lễ lạy, thưởng thức cảnh cô tịch vắng lặng nơi đất Phật. Thực hư về Phật tích chúng tôi cũng chẳng màn đến, chỉ lắng lòng đi những bước chân trần tiếp xúc với mãnh đất của Từ Phụ thuở xưa. Sau khi đi kinh hành giáp vòng và quay lại chỗ cũ để mang giày thì phát hiện ra một đôi xăng-đan và một chiếc dép bị mất, đôi xăng-đan là của tôi và một chiếc dép là của Ni Sư. Người giữ đền khi nghe chúng tôi báo tin rất giận dữ và quát tháo gì đó, chúng tôi không hiểu, có lẽ ông ta giận vì sự sơ suất làm mất uy tín cơ sở của ông. Điểm đáng nói là có nhiều đôi dép để đó nhưng kẻ cắp lấy ngay dép của Ni Sư và chỉ lấy có một chiếc. Chúng tôi đoán là do đôi dép ấy có chữ Adidas và kẻ ăn cắp phải rất vội vã vì người giữ đền luôn có mặt tại đấy, có thể vì chỉ lơ là vài phút thôi, cũng vì thế mà ông ta rất tức giận. Mất đôi xăng-đan tôi rất bực mình, nhưng Ni Sư thì lại rất thản nhiên. Mấy vị cùng đi cũng bực bội không kém và đi tìm kiếm giúp, xem có thể ai đó đi vô ý đá văng vào góc nào đó chăng? Nhưng tìm mãi mà vẫn không thấy. Sau mấy phút tìm kiếm, Ni Sư nói rằng: Mọi vật đều vô thường. Đền đài thành quách như thế này mà còn tàn lụi huống hồ chi chiếc dép mà cứ tìm kiếm, cay cú làm chi. Nói rồi Ni Sư tự tay mang chiếc dép còn lại để ở một góc sân phía ngoài, nói là nếu ai kiếm được (hay kẻ cắp quay lại) thì họ sẽ có cả đôi dép mà xài và tự tại đi chân không về Chùa. Mấy Phật Tử đi theo nét mặt không vui lắm. Sau khi Ni Sư về đến Chùa thì họ nhờ tôi đi theo ra chợ để phiên dịch giúp họ mua đôi dép khác cúng dường Ni Sư. Buổi tối sau khi dùng cơm xong chúng tôi họp mặt nhau ở chánh điện nghe giảng pháp, sau đó phải lo chuẩn bị tiếp tục chuyến đi vào sáng sớm ngày mai nên quên ngay chuyện chiếc dép.Tờ mờ sáng hôm sau, lúc chúng tôi chuẩn bị lên đường đi Nepal đến chiêm bái Lâm Tỳ Ni viên thì thấy ai đó đã để sẵn đôi dép Adidas của Ni Sư và đôi xăng-đan của tôi trong góc vườn Chùa, trên đôi dép của Ni Sư còn có một đóa hoa tươi. Bạn có thể tưởng tượng được tôi vui biết chừng nào, còn hơn lúc con nít được bánh kẹo. Thật ra những vật dụng ấy cũng không đáng giá bao nhiêu nhưng rất cần thiết cho những ngày hành hương còn lại. Ni Sư thì vẫn thản nhiên bước lên xe, chỉ mỉm cười nói một câu: „hảo ý hoàn hảo sự“, nếu ý chân chính thì sẽ đáp đền bằng những sự việc tốt lành.

Mô Phật! Lại thêm một bài học về cách nhìn và cách hành xử trong cuộc sống cho tôi, không những chỉ trong những ngày bình an hành hương trên đất Phật mà còn cả cho những năm tháng về sau. Tôi thầm nghĩ, chắc câu nói ấy hôm đó Ni Sư chỉ nói cho riêng tôi, chứ nếu giảng pháp cho cả đại chúng mấy chục người trong xe thì có thể Ni Sư sẽ nói về hạnh nguyện Bồ Tát Quán Thế Âm: “từ nhãn thị chúng sanh, lấy mắt thương nhìn cuộc đời, lấy tâm từ cứu giúp chúng sanh v.v…”. Dù sao thì dù, bài học thân giáo tuyệt vời ấy đã ghi sâu trong tôi và cho cả mấy người dân Ấn ở đất Phật vùng Kushinagar hôm ấy.

Sau này trong cuộc sống bận rộn bon chen, có rất nhiều khi, đứng trước một việc bâng khuâng khó xử hay đối đầu trước một quyết định không biết phải tiến hay lùi, tôi thường hay tự lẩm bẩm một mình như tự nhắc cho tôi câu phương châm ở Kushinagar hôm ấy: ai kia ơi! nhớ nhé, hảo ý hoàn hảo sự.

Nguyên Đạo – Vu Lan 2014

Ghi vội nhân Lễ Kỷ Niệm 30 năm Bảo Quang Hamburg

Kính dâng Ni Trưởng và quý Sư Cô Chùa Bảo Quang.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14337)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20279)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17455)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14982)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16767)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12787)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11673)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12160)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8088)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9159)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.