19. Những tục lệ lạ

27/11/201311:52(Xem: 29618)
19. Những tục lệ lạ

Tự truyện của mẫu thân Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14

Tác giả: Diki Tsering

Biên tập & giới thiệu:Khedroob Thondup

Nguyên tác: Cụ Bà Diki Tsering

Việt dịch: Thích Nguyên Tạng

Diễn đọc: Pt Quảng An


19. Những tục lệ lạ






Xã hội nào cũng có tính nể sợ người trên, khinh thường kẻ dưới ở một mức độ nào, và xã hội Lhasa cũng không phải là ngoại lệ. Nhiều người thuộc những tầng lớp cao của xã hội Lhasa coi khinh chúng tôi xuất thân là nông dân. Vì đã từ Amdo tới đây, chúng tôi bị coi là người ngoài. Tôi nghe nói như vậy vài năm sau khi chúng tôi đến sống ở Lhasa. Tất nhiên những người coi khinh chúng tôi không bao giờ nói thẳng ra, nhưng mấy người bạn thân của tôi nói cho tôi biết như vậy.

Tôi biết chắc là các bà ở đây nghĩ rằng tôi đeo cái "hari" là hơi kỳ cục, dù các bà không nói như vậy. Lhasa là một xã hội kiểu cách, và chắc chắn tôi có vẻ hơi lạc hậu đối với họ. Các bà vợ của các nhà quý tộc và các viên chức có đầu óc thời trang, và có vẻ cố gắng ăn mặc sang trọng hơn người khác. Hồi mới tới đây, tôi đã sững sờ khi thấy họ mặc quá đẹp với những món trang sức rực rỡ. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên nhất là sự trang điểm của họ. Trước đó tôi chưa bao giờ thấy đàn bà tô son đánh phấn. Tôi đã tưởng là mấy cô đào hát tuồng, và tôi rất ngạc nhiên khi được biết họ không phải là đào hát gì cả. Họ trông giống như búp bê. Tôi nghĩ trang điểm như vậy là giả tạo.

Bà Lalu thường trang điểm rất nhiều, và bà bảo tôi nên dùng son phấn một chút. Tôi không bao giờ có thể làm được như vậy, tôi sẽ cảm thấy không tự nhiên và thoải mái trước mặt mọi người. Nhưng chồng tôi và Gyalo Thondup chịu ảnh hưởng của kiểu trang sức địa phương này, hai người xỏ lỗ tai bên phải để đeo bông tai lục ngọc.

Tôi cũng ngạc nhiên với những tục lệ khác. Tôi thấy các bà bầu một tháng trước khi sinh con khỏa thân ngồi ở ngoài nắng với cái bụng bôi dầu. Người ta nói rằng làm như vậy để sinh con được dễ dàng. Tôi cũng thấy các bà mẹ đặt đứa con sơ sinh của mình ở ngoài nắng, không mặc gì cả và được bôi dầu.

Vài năm sau khi tôi tới Lhasa, các bà bắt đầu cho bác sĩ khám khi họ có thai. Đa số bác sĩ là người Trung Hoa, và họ bảo các bà đến sinh con ở bệnh viện Trung Hoa, nhưng các bà thường ngần ngại khi làm như vậy, vì họ không muốn để lộ thân thể của mình trước người khác. Các bệnh viện Tây Tạng không bao giờ làm công việc đỡ đẻ. Các bà quý tộc hàng đầu thì sinh con ở bệnh viện Ấn Độ. Các bà này chỉ cho con bú ba ngày, rồi sau đó giao con của mình cho vú em.

Đứa con mới sinh được ba ngày, các bà ở Lhasa đã đun lỏng bơ, trộn với bột "tsampa" rồi đút cho nó. Ở Tsongkha, ngoài sữa mẹ, chúng tôi cho con ăn thêm sữa "dzomo" (trâu lai bò), và chỉ cho ăn thức ăn đặc sau khoảng năm tháng. Lúc đó chúng tôi nghiền đậu thành bột, rang lên, rồi trộn với sữa và mật mía. Chúng tôi cũng cho con ăn trái chà là đã được ngâm trong nước nóng.

Ở Tsongkha, đàn bà không được tham dự những lễ nghi ngay sau khi sinh con, vì họ bị coi là còn nhiễm ô, nhưng ở Lhasa, các bà mang đứa con của mình đến chùa hay tu viện sau khi sinh ba ngày.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/04/2015(Xem: 13792)
Mười lần như chục, hôm nào gặp bữa ăn trưa trong căng-tin có món xúc-xích là mấy người đồng nghiệp Đức của tôi hay nói đùa bằng một câu triết lý cà rởn rằng: trên đời này cái gì cũng có đầu có đuôi, có thủy có chung, duy chỉ cây xúc-xích là có hai đầu. Có ông nhạc sĩ người Đức Stephan Remmler còn viết ra một bài tình ca nổi tiếng theo tựa đề ấy là: Alles hat ein Ende nur die Wurst hat zwei. Câu nói vui, nói ra để cười với nhau. Xúc-xích là món ăn rất phổ biến của người Đức, to nhỏ đủ cỡ, có mặt mọi nơi, từ tiệm ăn tay cầm cho đến các món ăn nấu trong nhà hàng với nhiều gia vị khác nhau, với rau xanh, cải đỏ hay kèm bột cà ri, mù tạt v.v..
16/04/2015(Xem: 13866)
Nhân duyên đưa tôi đến với đạo Phật là từ ngày mẹ chồng lâm bệnh, sau khi bệnh viện trả về, mẹ được các thầy tụng kinh cầu nguyện nên ra đi rất nhẹ nhàng. Tang lễ và các tuần thất về sau cả nhà tôi đều tụng kinh niệm Phật cầu siêu cho mẹ, vào các ngày 14 và 30 thì lên chùa sám hối, nghe thầy trụ trì thuyết giảng. Từ đó tôi đã hiểu được Phật pháp và những điều hay lẽ phải cần thực hành trong đời sống hàng ngày. Sau này, mỗi tối tôi đều cố gắng thu xếp công việc để lên chùa tụng kinh, tôi thấy thân tâm mình an lạc vô cùng.
14/04/2015(Xem: 15587)
Chúng sinh kể cả nhân loại trên Tam Giới, trong cỏi Ta Bà, không nhất thiết chỉ có người quy y đạo Phật mới có Tri Kiến Phật. Mà ngay cả những người thậm chí không biết một tý gì về Phật giáo, không là Phật Tử, cũng đều tự có Phật Nhãn giống như nhửng Phật Tử và dĩ nhiên họ có Trí Tuệ Phật để thành Phật giống như mọi người mà không cần quy y tam bảo, làm Phật Tử hay cải đạo của chính mình. Đạo Phật không hề ép buộc ai quy y, không cản trở người quy y hoàn tục, cũng như tuyệt thông công (excomunicate) ai được. Đó là ưu điểm cũng là yếu điểm của đạo từ bi hỹ xã trong việc khuyết trương củng như bão vệ Phật Pháp.
13/04/2015(Xem: 14070)
Thư giãn ở bất kỳ cách nào cũng đều hiệu quả để đối trị đau đớn. Những người tập thư giãn có khả năng tốt hơn để chịu đựng đau đớn. VÀ họ thực sự cảm thấy đau đớn ít hơn. Nói cách khác, tập thư giãn có thể giảm đau một phần, và làm cho bạn chịu phần đau còn lại dễ dàng hơn.
12/04/2015(Xem: 14685)
Từ ngàn xưa, con người đã hằng nung nấu, ôm ấp ước mơ được trường sinh bất tử. Tuy nhiên, sự bất tử trường sinh dường như chỉ thấy có được trong những câu chuyện thần thoại hoang đường, hay truyền thuyết mơ hồ viễn vông.
11/04/2015(Xem: 14143)
Nhân loại bước vào thiên niên kỷ mới với một nền văn minh ngày càng rực rỡ. Khoa học hiện đại được xem gần như là vạn năng, phục vụ mọi nhu cầu vật chất trong đời sống của con người. Thế nhưng, con người đã thật sự hạnh phúc, thật sự chấm dứt khổ đau hay chưa? Đó là điều chúng ta cần phải suy gẫm.
10/04/2015(Xem: 16063)
Người ta thường nói đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn, nên những khi mơ màng lơ đãng, lúc thả hồn đi hoang, khi u buồn khắc khoải, lúc mộng mơ vượt rào, khi hạnh phúc dâng tràn, lúc bồn chồn lo lắng, sẽ khiến cho người đối diện dễ dàng phát hiện ra những thầm kín chôn dấu đó đây. Đôi mắt người thương kẻ nhớ đôi mắt lo sợ bất an đôi mắt chứa đầy buồn vui, đôi mắt nhìn đời với toàn màu hồng choáng ngợp hạnh phúc hay đong đầy hệ lụy khổ đau, đều tùy thuộc vào tầm nhìn sự xúc cảm những bất an biến động nổi dậy, hay sự bình yên lan tỏa trong tâm thức mỗi chúng ta.
10/04/2015(Xem: 14418)
Bài pháp với đề tài thực dụng “Đem sự tu tập vào đời sống” đã được Ni Sư Tenzin Palmo trình bày với phong cách đơn giản mà tinh tế, linh hoạt cuả bà. Ni Sư chấm dứt bài giảng, nhìn thính chúng, mỉm cười chờ đợi những câu hỏi của các Phật tử tham dự. Chánh điện Thiền Tự Tiêu Dao sinh động hẳn lên và hội chúng tranh nhau đưa tay xin hỏi. Thông qua sự thông dịch của hai em Phật tử, Ni Sư từ tốn giải đáp từng thắc mắc về cá nhân Ni Sư, về cuộc sống đời thường cho đến các ưu tư về trải nghiệm thiền tập...
10/04/2015(Xem: 17338)
Lần đầu tiên cùng mấy người bạn nước ngoài về thăm Hà Nội vào đầu thập niên 90, tôi vẫn không quên những tấm bảng nguệch ngoạc hai chữ “Thịt Cầy” cùng mấy chú cầy nướng treo lủng lẳng trước dăm ba quán ăn nhỏ trên đường từ phi trường vào trung tâm thủ đô. Biết mấy anh bạn da trắng vốn kỵ thịt chó, tôi bảo họ rằng đấy là những quán bán “thịt nai”! Mãi sau thì họ khám phá ra được và phì cười bảo rằng những con nai của tôi là… “nai biết sủa” (barking deer).