12. Những cái tang

27/11/201311:41(Xem: 30486)
12. Những cái tang

Tự truyện của mẫu thân Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14

Tác giả: Diki Tsering

Biên tập & giới thiệu:Khedroob Thondup

Nguyên tác: Cụ Bà Diki Tsering

Việt dịch: Thích Nguyên Tạng

Diễn đọc: Pt Quảng An



12. Những cái tang





Sau khi tôi về nhà chồng ít lâu, cha chồng tôi qua đời, hưởng thọ sáu mươi ba tuổi. Tôi nghĩ có lẽ ông ấy bị ung thư, dù thời đó chúng tôi không biết gì về căn bệnh này. Ông không thể ăn gì được kể cả mật ong, trong một tháng, ông sa sút và yếu đi kinh khủng, chúng tôi biết là cái chết đã đến gần. Chúng tôi đã mướn nhà đòn rồi.

Vào đêm ông chết, ông nói với tôi rằng cố phải chịu đau khổ vì tính khí của mẹ chồng, nhờ vậy mà về sau cuộc đời của tôi sẽ dễ chịu. Ông bảo tôi đừng ghi nhớ gì về sự đau khổ này mà hãy làm một người vợ tốt. Tôi đã khóc suốt trong lúc đó. Ông cố gắng hết sức để an ủi tôi và bảo tôi đừng lo gì cho ông. Rồi ông nói ông muốn uống một chén trà mật ong, khi tôi nâng đầu ông lên để uống trà, thì ông tắt thở.

Mọi người được gọi vào phòng và khóc bên giường của ông. Người ta cho rằng khóc nhiều hay biểu lộ cảm xúc quá nhiều là không tốt, vì vậy chúng tôi cố gắng kiềm chế và chỉ tụng kinh cầu nguyện. Tất cả hàng xóm đều đến viếng người quá cố, chia buồn và giúp đỡ tang lễ. Các vị khách biếu tặng cho tang gia mười hai ổ bánh mì, vì mười hai là con số của sự chết. Tất cả phụ nữ trong nhà ngừng mọi công việc cho đến khi lễ tang kết thúc, tức là sau ba tuần, trong thời gian đó tất cả mọi công việc đều do những người hầu và tá điền làm giúp.

Mọi người trong gia đình đều tụ tập ở nhà trong ba tuần tang lễ, không làm gì mà chỉ tụng kinh cầu nguyện. Các tu sĩ đến tụng kinh trong ba ngày. Người ta tụng niệm để thần thức của người chết không bám giữ vào tài sản vật chất, người thân của mình, và sẽ tái sinh ở một cõi giới cao hơn.

Thầy bói quyết định thời gian thi thể người quá cố được quàn ở trong nhà bao lâu, thời gian này có thể là ba ngày. Linh cữu của cha chồng tôi được để ở trong nhà hai ngày. Chúng tôi canh thức ngày đêm, tụng kinh và lễ bái nhiều lần. Chúng tôi tin rằng khi chết, người ta trở thành một vị thần, vì vậy chúng tôi cư xử với người quá cố như một vị thần.

Thầy bói cũng quyết định cách tống táng là hỏa thiêu, chôn dưới đất, thả xuống nước hay cho chim ăn. Điểu táng được xem là cách tốt nhất, vì sạch sẽ nhất, nhưng ở Tsongkha, đa số xác người chết được chôn xuống đất. Xác người quá cố được đặt ngồi theo tư thế tọa thiền hoa sen, hai tay chắp như đang tụng kinh cầu nguyện, người ta đo kích thước rồi đóng một cái hòm bằng gỗ. Mặt người chết được che kín bằng một chiếc khăn lễ, và thân được bọc vải trắng, thường là vải lụa. Cha chồng của tôi được mặc áo Tây Tạng bằng lụa trắng, những bông hoa thơm và những cành thông được đặt vào trong hòm cùng với thi hài, không có một vật nào khác được để vào trong hòm.

Mỗi gia đình có một nghĩa địa riêng ở trong khu đất của mình, và đây là nơi linh cữu của cha chồng tôi được đưa đến an táng. Tất cả người hàng xóm đều đến để đưa tiễn, ông thầy bói cũng cho biết những người nào có thể chạm vào xác người quá cố và quan tài. Các thân nhân phái nam sẽ khiêng quan tài, họ không được đặt nó xuống mà cũng không được ngừng lại, vì người ta tin rằng nếu ngừng lại, thần thức của người quá cố sẽ ở lại tại chỗ đó mà không thể đi tái sinh một cách bình thường.

Các thân nhân phái nữ không được đi theo linh cữu ra nghĩa trang mà phải ở lại nhà, mẹ chồng tôi rất buồn và khóc liên tục, tất cả các con của bà đã trở về để an ủi bà. Trong ba tuần chúng tôi không được đến thăm nhà của ai và không được cưỡi ngựa. Tất cả những vật dụng của người quá cố được mang cho người khác, tang gia không được giữ lại một vật nào cả.

Trong gia đình của người quá cố, các bà các cô không được trang điểm mái tóc với những dải lụa nhiều màu thông thường, cũng không được gội đầu trong một tuần sau khi người thân qua đời, tóc của chúng tôi chỉ được cột sơ sài bằng một sợi len trắng. Chúng tôi chỉ được mặc y phục cũ, và không được đeo một món trang sức nào. Khi cha chồng tôi chết, tấm ở lưng được bỏ ra, tấm "hari" được đeo như vậy trong suốt thời kỳ để tang. Khi chồng chết, tấm nhung ở cả hai bên được lấy ra trong ba năm để tang.

Đàn ông đang có tang không được mặc trang phục mới, và nếu có tang cha mẹ, họ không được đội mũ nón. Giống như phụ nữ, họ phải cột những sợi len trắng trên bím tóc. Sau ba tuần những sợi len này được tháo ra và đốt, đối với nam cũng như nữ, và bây giờ những dải lụa nhiều màu có thể được đeo trở lại trên tóc.

Mẹ chồng của tôi đã qua đời sau chồng bà hai năm. Lúc đó tôi đã hai mươi tuổi, bà cụ hưởng dương trần thế năm mươi tám tuổi. Bà bị bệnh nhưng tôi nghĩ bà chết vì nhớ người anh của bà là Taktser Rinpoche, đã qua đời trước đó không lâu.

Khi trẻ con chết, tang lễ được làm đơn giản, các vị lạt ma đến nhà tụng niệm, và thầy bói đến coi ngày giờ. Tôi có ba con trai chết non, một đứa được chôn, và hai đứa kia được đưa lên một quả đồi cao để đó bố thí cho chim hay thú rừng. Tôi bảo những người khiêng xác mang quần áo của các con tôi về, vì chúng đã tới thế gian này không mặc gì cả và tôi muốn chúng rời khỏi đây cũng vậy.

Chúng tôi tin rằng nếu người ta khóc quá nhiều khi có người chết, người quá cố sẽ không thể siêu thoát. Người ta nói nước mắt của cha mẹ sẽ giống như mưa đá rơi xuống mặt đứa con đã chết. Vì vậy tôi luôn luôn kiềm chế sự xúc động của mình khi các con của tôi mất, dù trong lòng tôi đau khổ biết bao, và tôi cũng bảo chồng tôi đừng khóc.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/11/2010(Xem: 11376)
Chuyện cô nữ tu ngoại đạo Sundarī và kỹ nữ Ciñcā-māṇavikā có sắc đẹp tuyệt trần nhưng lại mang thân phận thấp hèn, hạ liệt; và cả hai đều bị chết thảm, người thì bị giết rồi cái thây bị chôn trong đống rác, người thì bị đất rút với quả báo địa ngục; hai sự kiện ấy đã dấy sinh trong lòng hoàng hậu Mallikā không biết bao nhiêu là câu hỏi, về nhân quả đời này, đời kia cũng như sự “bí mật” của nghiệp!
06/11/2010(Xem: 19725)
Ngày20 tháng tư nhuận năm Quí Mão(11/6/1963) trong một cuộc diễnhành của trên 800 vị Thượng Tọa, Ðại đức Tăng, Ni đểtranh đấu cho chính sách bình đẳng Tôn giáo, cho lá cờ quốctế không bị triệt hạ: tại ngã tư đường Phan Ðình Phùng,Lê Văn Duyệt ( Sài Gòn), lúc 9 giờ sáng, Hòa Thượng QuảngÐức phát nguyện tự tay châm lửa thiêu thân làm ngọn đuốc“ thức tỉnh” những ai manh tâm phá hoại Phật giáo. Dướiđây là tiếng nói tâm huyết cuối cùng của Ngài gửi lạicho đời.
06/11/2010(Xem: 14391)
Ngày nay, ở phương Tây, rất nhiều trung tâm dạy thiền, khí công, yoga… để chữa bệnh cũng chủ yếu là dạy cách thở bụng Nguyễn Khắc Viện là một bác sĩ, sinh năm 1913 tại Hà Tĩnh, học đại học Y khoa Hà Nội rồi sang Pháp tiếp tục học, tốt nghiệp bác sĩ nhi khoa năm 1941. Năm 1942, ông bị lao phổi nặng, điều trị ở bệnh viện Saint Hilaire du Touvet, Grenoble. Thời đó, bệnh lao chưa có thuốc chữa như bây giờ. Từ năm 1943 đến năm 1948, ông phải chịu mổ bảy lần, cắt bỏ tám cái xương sườn, cắt bỏ toàn bộ lá phổi bên phải và một phần ba lá phổi bên trái.
04/11/2010(Xem: 12370)
Thanh thường bị bè bạn chế giễu là “công tử miệt vườn”, có thể một phần vì gia đình chàng sở hữu một thửa vườn cây trái khá rộng – vườn Tám Thà - tại ngoại ô thị trấn Châu Đốc, nhưng cũng có thể cũng do bản tánh hiền lành chơn chất và “nhát gái” của chàng.
04/11/2010(Xem: 16189)
Học Phật không phải học lý thuyết của một bộ môn tư tưởng, cũng không phải cố gắng hoàn tất những pho giáo lý được biện giải bởi những nhà tri thức đa văn và có tài diễn đạt, cũng không phải như những Pháp sư thông làu các tạng kinh, luận và giới luật. Học Phật ta có thể tạm thí dụ như học ngành bác sĩ chuyên khoa, chữa trị bệnh tật có hiệu lực và cứu sống được nhiều người.
02/11/2010(Xem: 14112)
Hôm nay chúng tôi xin nói qua và giải thích thêm về bản chất của Đạo Phật để quí Phật tử thấy rõ đạo Phật là bi quan hay lạc quan. Đây là vấn đề mà nhiều người muốn biết, nhưng Phật tử chúng ta đa số vẫn chưa giải nổi. Chúng tôi sẽ nói rõ để quí Phật tử hiểu cho thật đúng với tinh thần của đạo Phật, tránh bị người xuyên tạc, hiểu lầm. Trước hết, chúng tôi nói đến quan niệm mà đa số người hiểu lầm cho rằng đạo Phật là bi quan.
02/11/2010(Xem: 14732)
aukhi D.T. Suzuki qua đời, hội Phật giáo Hoa kỳ góp nhặt các bài viết cuối cùng củaông để in thành sách với tựa đề "Lãnhvực của Thiền học Zen" (TheField of Zen, 1969) và bốn mươi năm sau quyển sách này được dịch sang tiếngPháp với tựa đề "Những bài viết cuốicùng bên bờ của cõi trống không" (DerniersÉcrits au bord du Vide, 2010). Dưới đây là một trong số các bài được tuyểnchọn trong quyển sách này.
31/10/2010(Xem: 16363)
Đức Phật dạy có năm sự khéo léo trong giao tiếp đem đến nhiều kết quả tốt đẹp. Theo ngài Xá Lợi Phất, không tuân theo năm cách xử sự này sẽ đem đến những hậu quả...
31/10/2010(Xem: 17765)
Bài nầy do Chân Văn dịch từ Chương Bốn trong quyển "Living Buddha, Living Christ" của Thích Nhất Hạnh, Riverheads Book xuất bản 1995. Quyển sách gồm nhiều bài giảng bằng Anh ngữ của Thầy, được ghi âm, chép lại và nhuận sắc. Ðây là một quyển sách đã bán được rất nhiều trong loại sách về tôn giáo và tâm linh ở Hoa Kỳ. Theo lối quen dùng trong các sách Việt ngữ của Thầy, từ "Buddha" được dịch là "Bụt", một từ trong tiếng Việt cổ dùng để phiên âm "Buddha" khi đạo Phật được truyền vào Việt Nam vào đầu kỷ nguyên Tây lịch. Về sau, từ khi người Việt dùng kinh sách chữ Hán, từ "Phật" hay "Phật Ðà" (tiếng Hán Việt) được dùng thay từ "Bụt". Bài dịch nầy đã được đăng trên tạp chí Thế Kỷ 21, California, Hoa Kỳ, tháng 11-1995
31/10/2010(Xem: 17208)
Tham sống sợ chết, đó là sự thật của người đời. Thế nhưng tại sao lại giết hại, cắt đứt sự sống của chúng sanh khác? Trong bài viết ngắn này chúng tôi sẽ đề cập đến vấn đề "Không sát sanh" hay "tôn trọng sự sống" như là thái độ sống của một người Phật tử.