03. Tịnh hóa tâm thức

04/01/201202:51(Xem: 13643)
03. Tịnh hóa tâm thức
TỊNH HÓA TÂM THỨC
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển - 04/10/2011

Bảnchất của tâm là ánh sáng trong suốt(Tịnh Quang)
Nhữngnhiễm ô là bề ngoài(khách trần phiền não)
- DHARMAKIRTI

dalailama-0237654medCó thể loại trừnhững cảm xúc rắc rối một cách hoàn toàn, hay có thể chỉ có đè nén chúng màthôi? Theo tuệ giác căn bản của Đạo Phật,tâm một cách cốt yếu là sáng rỡ và tri nhận. Do thế, những rắc rối cảm xúc không thể lưu trú trong bản chất của tâm;những thái độ chướng ngại ẩn tàng là tạm thời và nông cạn, và có thể bị loại trừ.

Nếunhững cảm xúc tai họa như giận dữ vốn ở trong bản chất của tâm, thế thì từ lúckhởi đầu tâm sẽ luôn luôn giận dữ. Mộtcách rõ ràng, điều này không phải như thế.Chỉ dưới những hoàn cảnh nào đó chúng ta mới trở nên giận dữ và khi nhữnghoàn cảnh đó không hiện hữu, giận dữ cũng không hiện diện.

Nhữnghoàn cảnh nào phục vụ như căn bản cho việc phát sinh giận dữ hay thù hận? Khi chúng ta giận dữ, đối tượng sự giận dữ củachúng ta xuất hiện dễ sợ hơn nó thật sự ở đấy. Chúng ta đang giận dữ bởi vì người đã làm tổn hại, đang làm tổn hại, haysẽ làm tổn hại chúng ta hay bạn bè chúng ta. Vì vậy "cái tôi" này là gì mà đang bị làm tổn hại?

Trongsự phô trương của cơn thịnh nộ chúng ta cảm thấy rằng chủ thể, "cáitôi" và khách thể, kẻ thù, là cụ thể và độc lập. Bởi vì chúng ta chấp nhận những hiện tướngnày như một sự thiết lập cố hữu, nên giận dữ được phát sinh. Tuy thế, nếu tại sự bùng nổ đầu tiên của giậndữ, chúng ta đã quen với lý trí tự hỏi mình, Tôi là ai? Con người này là ai mà đang bị tổnthương? Kẻ thù là gì? Có phải kẻ thù là thân thể? Có phải kẻ thù là tâm? kẻ thù hiện hữu một cách cụ thể này,người trước đây dường như là được tạo nên một cách cố hữu như điều gì đấy để giậndữ, và "cái tôi" này, kẻ được tạo nên một cách cố hữu bị tổn thương,dường như biến mất. Và sự giận dữ tanthành từng mảnh.

Nghĩvề điều ấy. Chúng ta giận dữ tại những gì làm thất bại những khao khát củachúng ta. Giận dữ bị xúi bẩy bởi nhận thứcsai lầm khách thể và chính chúng ta được thiết lập trong cách này (như kẻ thùvà nạn nhân) trong tự chúng và của chính chúng.Thù hận không tách rời khỏi nền tảng của tâm. Nó là một thái độ không có nền tảng vững chắc. Tuy nhiên, yêu thương từ ái được tìm thấy mộtcách có căn cứ trong chân lý. Khi, trảiqua một thời gian dài, thái độ có nền tảng vững chắc tranh đua với thái độkhông có cơ sở, thì thái độ với nền tảng vững chắc sẽ lấn át thứ kia.

Nhữngphẩm chất tùy thuộc trên tâm có thể được gia tăng một cách vô giới hạn, và khichúng ta tăng cường các thái độ đối kháng với những cảm xúc buồn đau, những bộphận tương ứng không thiện chí sẽ giảm thiểu, cuối cùng trở nên bị dập tắt hoàntoàn. Vì tâm có bản chất tự nhiên rực rỡvà tri nhận, nên tất cả chúng ta có khí cụ căn bản cần thiết để đạt đến giác ngộ.

NHẬN DIỆN TÂM

Khoảnghai mươi năm trước đây, khi tôi ở Ladakh, Ấn Độ, tiến hành một loạt thiền quán,tôi có một bức tượng Đức Phật Thích Ca phía trước tôi, như vẫn là thói quen củatôi. Lớp vàng ở trái tim bức tượng đãbong mất rồi, và vì thế ở nơi ấy lộ một màu nâu. Khi tôi nhìn vào vùng trái tim của bức tượng,bây giờ không có màu sắc hấp dẫn nữa, nhìn vào tâm tư tôi, cuối cùng tư duy dừnglại, và trong một lúc ngắn ngủi, tôi cảm thấy tự nhiên rực rỡ và tri nhận của tâm. Rồi sau đó, khi tôi hồi tưởng lại điều này, kinhnghiệm sẽ trở lại.

Thậtrất hữu ích trong sự thực tập hàng ngày để nhận diện bản chất tự nhiên của tâm vàtập trung trên ấy. Tuy nhiên, thật khó đểnắm bắt tâm bởi vì nó ẩn tàng bên dưới những tư tưởng dàn trải của chính chúngta. Như một kỹ năng để nhận diện bản chấttự nhiên của tâm, đầu tiên dừng suy nghĩ về những gì đã xảy ra trong quá khứ, rồithì dừng suy nghĩ về những gì có thể xảy ra trong tương lai, hãy để tâm tuôn chảyphù hợp với chính nó mà không có sự phủ lên của tư duy. Hãy để tâm ngừng lại trong thể trạng tự nhiêncủa nó và quán xét nó trong một lúc.

Khi,thí dụ, quý vị nghĩ một tiếng động, giữa lúc nghe nó và nhận thức nguồn gốc củanó, chúng ta có thể cảm nhận thể trạng của tâm trống rỗng tư tưởng nhưng khôngphải ngủ, trong điều mà đối tượng là một sự phản chiếu của sự rực rỡ và tri nhậncủa tâm. Tự nhiên căn bản của tâm có thểđược nắm bắt tại một điểm như vậy. Vàolúc bắt đầu, khi chúng ta không quen với sự thực tập này, thì thật là khó khăn,nhưng đúng lúc tâm sẽ xuất hiện như nước trong vắt. Hãy cố gắng để trụ với thể trạng này của tâmmà không bị xao lãng bởi những tư tưởng nhận thức và tập cho quen thuộc với nó.

Thiềntập đề mục này vào buổi sáng sớm, khi tâm chúng ta đã tỉnh giấc và trong sáng,nhưng những giác quan của chúng ta chưahoạt động hoàn toàn. Cũng lợi ích nếukhông ăn quá nhiều tối đêm qua, cũng không ngủ quá nhiều: giấc ngủ của chúng tasẽ nhẹ nhàng hơn và điều này làm cho tâm thư thái hơn cũng như sắc bén hơn vàosáng hôm sau. Nếu ăn quá nhiều, giấc ngủsẽ dày và nặng, gần giống như thây ma.Trong việc tu tập hằng ngày, tôi ăn no nê vào lúc điểm tâm và buổi trưanhưng chỉ ăn chút ít vào buổi tối - ít hơn nửa chén hạt dẻ hay bánh quy giòn; rồitôi lên giường sớm và thức dậy lúc năm giờ ba mươi vào buổi sáng để bắt đầu thiềntập.

Thấyđấy nếu chú ý đến bản chất của tâm vào buổi sáng sớm tâm chúng ta sẽ tỉnh giáchơn suốt ngày. Tư tưởng chúng ta chắc chắnsẽ tĩnh lặng hơn. Trí nhớ của chúng ta sẽcải thiện nếu chúng ta có thể thực tập một ít thiền quán mỗi ngày, rút lui khỏitâm phân tán. Tâm nhận thức quanh quẩntrong việc suy nghĩ những chuyện tốt, những chuyện xấu, v.v... sẽ được ngơinghỉ. Một chút không phân biệt có thểcung ứng một sự ngơi nghỉ cần thiết rất nhiều.

ThiềnQuán

1- Không nghĩ vềnhững gì đã xảy ra trong quá khứ hay những gì có thể xảy ra trong tương lai.
2- Hãy để tâm tuôn chảy thích hợp với nó màkhông suy nghĩ.
3- Quán chiếu bảnchất rực rỡ trong sáng của tâm.
4- Trụ với kinhnghiệm này trong một lúc.

Chúngta có thể thực tập những đề mục này trong khi nằm trên giường vào buổi sáng,tâm chúng ta tỉnh thức nhưng những giác quan của chúng ta chưa hoạt động hoàntoàn.

ĐỐI KHÁNG NHỮNGRẮC RỐI

Bâygiờ chúng ta hãy nhìn vào những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng chẳng hạn như thèmkhát, thù hận, và ganh tỵ. Tất cả bọnchúng tùy thuộc trên sự tin tưởng sai lầm ban đầu rằng những đối tượng tồn tạinhư những thực thể độc lập, trái lại trong thực tế chúng không như thế. Qua năng lực của si mê như vậy, tất cả nhữngcảm xúc buồn khổ này sinh khởi. Nhưngnhư chúng ta đã thấy, khi chúng ta phân tích thì có phải nỗi si mê này và nhữngrắc rối tháp tùng của nó là bản chất bên trong của chính bản tâm không, chúngta thấy, như đại luận sư Ấn Độ Dharmakirti đã nói, "Bản chất của tâm làánh sáng trong suốt, Tịnh Quang, hay linh quang. Những nhiễm ô là bề ngoài (khách trần phiềnnão)." Bản chất của thức vi tế sâuxa nhất là tinh khiết. Giận dữ, dính mắc,v.v... thuộc ngoại biên và không tồn tại trong căn bản của tâm. Chúng ta gọi điềunày, nền tảng bẩm sinh của tâm là ánh sáng trong suốt, Tịnh Quang, hay linhquang. Bởi vì nó làm cho giác ngộ hiệnthực, nó cũng được gọi là Phật tính. Nóhiện hữu tại gốc rễ của tất cả thức. Cũngthế, tất cả chúng ta có một trình độ nào của bi mẫn, mặc cho những sự khác biệttrong sự phát triển và kiến thức, và tất cả chúng ta có một sự thông tuệ phânbiệt giữa tốt và xấu. Đây là tất cả nhữngđiều kiện cho giác ngộ.

Mộtkhi chúng ta biết rằng những nhiễm ô không "cư trú" trong bản chất củatâm, có thể loại trừ chúng qua việc phát sinh những đối trị với chúng, nhữngthái độ, như thuốc men, có thể chống lại chúng. Nhưng nếu những nhiễm ô không tách rời khỏicăn bản tâm, thế thì ngay khi mà tâm thể hiện chức năng, những tư tưởng tệ hại - giận tức, v.v... - sẽ phải hiện hữu,nhưng điều này không phải như vậy. Ngaychính lúc này, tâm chúng ta đang đọc và suy nghĩ: giận tức chắc chắn không hiệndiện. Những thái độ như giận tức và dínhmắc có thể được tách rời khỏi tâm chính yếu.

Vàonhững lúc trong đời sống chúng ta, tâm chúng ta bám chặc với giận tức và dính mắc,và vào những lúc khác là buông xả, toại nguyện, từ ái, và bi mẫn. Chúng ta không thể cảm thấy tham dục và thù hậnchính xác cùng lúc đối với cùng một đối tượng. Chúng ta chắc chắn có thể có những cảm nhận này tại những thời điểmkhác nhau, nhưng không cùng trong một thờiđiểm, điều này cho thấy rằng hai thái độ này thể hiện chức năng trong sự mâuthuẫn với nhau. Khi một trong chúng, thứnày gia tăng sức mạnh thì thứ kia giảm xuống.

Nhậnthức vững chắc hỗ trợ từ ái và bi mẫn. Sựtrình bày của chúng không cần sự giúp đở từ si mê ám chướng là thứ đã nhận địnhsai lầm các đối tượng như tồn tại cố hữu (có tự tính), hay trong chính chúng vàtự chính chúng mà thôi. Những thái độphi đạo đức như thù hận và kiêu mạn - cho dù chúng mạnh mẽ như thế nào đi nữa -chỉ được sản xuất với sự hỗ trợ và giúp đỡ của vô minh si ám. Do vậy, không có nhận thức sai lầm này trongbản chất của con người và sự vật, thì không có cách nào tham dục và thù hận cóthể triển khai. May mắn thay, những thứcđối lập với tham dục và thù hận có thể hoạt động ngay cả khi không có nhận thứcsai lầm về sự tồn tại cố hữu.

Simê và tuệ trí cả hai quán chiếu cùng những hiện tượng vạn pháp,nhưng những cung cách mà chúng nhận thức vạn pháp là hoàn toàn đối nghịch. Tuệ trí có nền tảng vững chắc, trái lại si mêám tối không có nền tảng có căn cứ và sai lầm với những gì nó nhận thức. Gia tăng sức mạnh của tuệ trí làm yếu simê. Tuệ trí làm giảm thiểu việc lãnh hộisai lầm về bản chất con người và sự vật cho đến khi si mê biến mất.

VẤNNẠN Ở PHÍA BÊN TRONG

Nhữnghoàn cảnh ngoại tại không phải là những gì đưa đẩy chúng ta vào khổ đau. Khổ đau được tạo nên và cho phép bởi một cáitâm chưa thuần hóa. Tâm bản nhiêntrong sáng bị che phủ bởi những cảm xúc và nhận thức phiền toái này. Năng lực lừa đảo của chúng đẩy chúng ta vàonhững hành vi sai lầm, những điều đưa đến khổ đau không tránh khỏi. Chúng ta cần, với sự tỉnh thức và quan tâm lớn,để phân biệt những thái độ rắc rối, thì phương cách tập hợp mây mù sẽ tan biếntrở lại trong không gian của bầu trời. Khi những thái độ, các cảm xúc, và những nhận thức tự thất bại ngừng lại,những hành vi tổn hại sinh khởi từ chúng cũng chấm dứt. Như đại hành giả du già Tây Tạng cuối thế kỷ11 đầu thế kỷ 12 Milarepa đã nói, "Khi sinh khởi, sinh khởi tự trong khônggian của chúng, khi tan biến, tan biến trở lại không gian". Chúng ta cần trởnên quen thuộc với thể trạng của tâm tư chính chúng ta để thấu hiểu những ý tưởngvà những thôi thúc vô căn cứ trở lại không gian sâu thẩm của thực tại như thếnào. Bầu trời vẫn ở đấy trước khi mây mùche phủ, và nó vẫn thế sau khi mây ám tan đi. Nó cũng hiện diện khi mây đen dường như che kín từng phân vuông của bầutrời mà chúng ta có thể thấy.

Bảnchất của nước không bị ô nhiễm bởi rác rưởi, bất chấp dơ bẩn như thế nào. Cùng cách như thế, bản chất ngay cả một tâmthức rối rắm là không bị nhiễm ô bởi cấu uế. Tâm Tịnh Quang của bất cứ chúng sinh nào cũng không bị nhiễm ô bởi nhữngcảm xúc phiền não như thù hận. Lần kế tiếpchúng ta cảm thấy thù hận, hãy thấy chúng ta có thể tách ra khỏi dòng chảychính của tâm chúng ta như một người quán sát sự thù hận. Trái lại chúng ta thường nghĩ, "tôighét.." giống như cảm giác của chúng ta về tự ngã và thù hận là hoàn toànkết chặt với nhau, ở đây chúng ta đang nhìn sự thù hận từ một khoảng cách mongmanh,thấy sự sai lầm của nó, là điều chính nó tạo nên thể trạng hấp dẫn này đểtĩnh lặng một cách tự nhiên.

Đểlàm điều này, trước nhất chúng ta cần phát triển một khả năng để nhìn vào tư tưởngcủa chúng ta, vì cho đến khi mà ý thức của chúng ta còn bị đắm trong nhận thứchóa, thật khó khăn cho tư tưởng quán sát tư tưởng. Nhưng nếu, khi các tư tưởng sinh khởi, chúngta có thể tách ra một chức năng quán sát để nhìn chúng, rồi thì dần dần, chúngta sẽ phát triển một khả năng dể phát triển một năng lực của ý thức quán sát ýthức, và ngay cả tại những thời điểm của thù hận, một nhân tố từ trong tâm ấy sẽcó thể bước ra ngoài sự giận tức. Bằngviệc quen thuộc với ý thức như cả người biết và đối tượng được biết, chúng tacó thể đi đến để nhận ra những gì được gọi là "tâm bình thường",không bị ảnh hưởng bởi sự thích hay không thích, muốn hay không muốn. Khi tâm không bị phân hóa thành nhiều chứcnăng khác nhau, thể trạng tự nhiên sáng rỡ và tri nhận có thể được nhận ra, vànếu chún ta trụ với điều này, kinh nghiệm của sự rực sáng và tri nhận sẽ giatăng. Vì bản chất nội tại ngay cả củathù hận là rực sáng và tri nhận, thù hận sẽ dần dần tan chảy vào trong bản chấtcủa ý thức.

Chúngta không phải dừng một cách cố ý những tư tưởng và cảm giác đa dạng bắt đầu lódạng trong tâm; đúng hơn, không nên tiêm nhiễm trong chúng, đừng để tâm chúngta bị đẩy vào trong chúng. Tâm rồi thì sẽđảm nhiệm hình thức tự nhiên của nó, vàTịnh Quang của nó có thể được xác định.Sau đó sự thanh tịnh căn bản của nó có thể được biết.

Khichúng ta thấu hiểu rằng Tịnh Quang là bản chất tự nhiên của nội tâm chúng ta,những phẩm chất ngày càng lớn hơn và lớn hơn như sự biểu lộ từ ái hay lòng yêuthương vô chấp. Đây là tại sao sự chuyển hóa tinh thần không thểlà kết quả của việc thực hiện những thay đổi môi trường bên ngoài của chúngta. Việc đạt được nhiều thứ hơn một khichúng ta có những gì cần thiết không đưa đến sự toại nguyện.

Sựgiải thoát đạt được bằng việc biết rằng bản chất tối hậu của chính tự tâm: nókhông được ban tặng cho chúng ta bởi một người nào đấy hay điều gì khác. Hạnh phúc đến qua việc thuần hóa tâm; khôngcó sự thuần hóa tâm thì không có cách nào để hạnh phúc. Bất chấp bản chất của thế gian chúng ta sẽkhông khổ sở vì phiền não hay gây rađau khổ khi chúng ta tin cậy trong bản chất nền tảng rực sáng của tâm, Tịnh Quangcủa nó.

TÂM KIM CƯƠNG

Cănbản tự nhiên và sáng rỡ của Tịnh Quang là cội nguồn của tất cả những tâm thức -là vĩnh viễn không thể phá hủy được, không thể biến đổi được như kimcương. Trong Đạo Phật, khía cạnh này củatâm được xem như thường trụ trong ý nghĩa sự tương tục của nó là liên tục - nóluôn luôn tồn tại và sẽ tiếp tục mãi mãi và vì thế không là điều gì đấy được bắtđầu một cách mới mẻ bởi nhân duyên (nguyên nhân và điều kiện).

Tâmcăn bản của chúng ta thanh tịnh một cách chính yếu, tự nhiên trống rỗng rắc rốingay từ bắt đầu. Trong nó, tất cả mọi hiệntượng thanh tịnh và nhiễm ô xuất hiện như những sự biểu hiện tự nhiên thanhthoát của nó. Hào quang chói lọi rực rỡ vôchướng ngại của tâm ngay cả được gọi là bi mẫn, bởi vì tác động của nó là nhữnghành vi thương yêu vô chấp, phát sinh từ thực thể thanh tịnh căn bản và tựnhiên thanh thoát.

Tinhkhiết từ lúc khởi đầu và được ban cho với sự thanh thoát tự nhiên, tâm kimcương này là căn bản của mọi phát triển tâm linh. Ngay cả trong sự phát sinh vô số nhận thức tốtvà xấu, chẳng hạn như tham dục, thù hận, và hoang mang, tâm kim cương tự nó tựdo khỏi sự quấy nhiễu của những nhiễm ô này, như bầu trời trong suốt những đámmây. Nước có thể cực kỳ dơ bẩn, tuy thếbản chất của nó vẫn trong sạch. Tương tựnhư thế, bất chấp những cảm xúc phiền não nào được sinh ra như sự tạo tác thiệnxảo của tâm kim cương này, và bất chấp chúng mạnh mẽ như thế nào đi nữa, căn bảncủa tâm tự nó duy trì không bị nhiễm ô bởi cấu uế; nó là toàn hảo mà không có bắtđầu hay kết thúc.

Nhữngphẩm chất tâm linh kỳ diệu, chẳng hạn như từ ái và bi mẫn không bị ràng buộc, tấtcả là sự hiện diện trong hình thức căn bản trong tâm kim cương này; sự biểu hiệncủa từ ái và bi mẫn chỉ bị ngăn ngừa bởi những điều kiện tạm thời mà thôi. Trong một ý nghĩa nào đấy, chúng ta được giácngộ ngay từ đầu, được phú cho một tâm căn bản hoàn toàn tốt đẹp.

ĐÁNH GIÁ HOÀN CẢNHHIỆN TẠI

Bằngviệc được sinh ra như một con người, chúng đã tiếp nhận một hệ thống hỗ trợ vậtchất mà qua nó chúng ta có thể dễ dàng đạt được cả những mục tiêu nhất thời lẫncác mục tiêu sâu rộng hơn. Bây giờ chúngta đã đạt được hình thể đời sống thuận lợi này rất đặc biệt trong vô số hình thểsinh ra trong thế giới này, nên thật quan trọng là [để nhớ rằng] chúng ta đừnglãng phí nó. Nếu trong hoàn cảnh nàychúng ta chỉ đơn thuần thực tập để đạt được một đời sống tốt đẹp trong những đờisống tái sinh sau này cho chính chúng ta, thì chúng ta sẽ sử dụng khả năngchúng ta một cách trọn vẹn. Hay, nếuchúng ta chỉ đơn thuần hướng đến giải thoát cho chính bản thân từ những trạngthái rối rắm của khổ đau, thì điều này cũng làm thui chột khả năng vốn có củachúng ta. Với thân người, chúng ta phảinên làm bất cứ điều gì đấy mà chúng ta có thể đạt đến một sự phát triển tâmlinh toàn hảo và trọn vẹn.

THIỀNQUÁN

1- Quán chiếutrên khả năng của tình trạng hiện tại của hành giả cho một sự tăng trưởng tâmlinh: chúng ta có một thân người; những giáo huấn tâm linh thuận lợi trong môitrường; chúng ta có khả năng tinh thần để tiếp thu những giáo huấn tâm linh -chúng ta có tâm kim cương thanh tịnh thuần khiết.
2- Đánh giá nhữngcơ hội hiện tại cho sự thực tập tâm linh.
3- Thiết lập độngcơ của chúng ta, một nguyện ước để hỗ trợ không chỉ chính chúng ta mà tất cảchúng sinh.
4- Hướng đếngiúp đỡ người khác.

Nguyêntác: Basic Purity of the Mindtríchtừ quyển How to Expand Love

ẨnTâm Lộ ngày 10/10/2011

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/11/2020(Xem: 9360)
Vào giữa thế kỷ thứ mười bảy, Đức Đệ Ngũ Đạt Lai Lạt Ma đã nhấn mạnh tầm quan trọng như thế nào để việc phân tích không trở thành một bài học thuộc lòng như vẹt mà phải là sống động. Khi chúng ta tìm kiếm cho một “cái tôi” tồn tại cụ thể như vậy mà không thể tìm kiếm được nó hoặc là cùng giống hay khác biệt với tâm thức và thân thể, điều thiết yếu là phải tìm kiếm cùng khắp; bằng khác đi chúng ta sẽ không cảm thấy tác động của việc không tìm thấy nó. Đức Đệ Ngũ Đạt Lai Lạt Ma đã viết:
15/11/2020(Xem: 10788)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tín và lâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu đã được rút gọn, chỉ giữ lại ý chính, sẽ không có chú thích về nguồn gốc. Ngoài ra trong bài 1 trước đây, người chuyển ngữ đã mạn phép ghi chú dài dòng với hy vọng có thể giúp một vài độc giả theo dõi dễ dàng hơn chăng các lời trích dẫn đôi khi khá cô đọng hoặc trừu tượng? Dầu sao thiết nghĩ sự suy tư và phán đoán là quyền hạn ưu tiên và thiêng liêng của người đọc, vì lý do đó kể từ bài 2 này, người chuyển ngữ sẽ mạn phép chỉ xin ghi chú thêm một vài suy nghĩ riêng của mình khi cảm thấy cần thiết. Độc giả có thể xem bản gốc tiếng Pháp của các câu trích dẫn này trên trang mạng của báo Le Monde: https://dicocitations.lemonde.fr/auteur/616/Bouddh
14/11/2020(Xem: 11910)
Kính mạn phép được thay đổi lại lời của một bài hát mà âm điệu đã thấm sâu vào huyết quản tôi từ bao giờ và hôm nay một lần nữa lại vang vang ...nửa như kích thích sự hưng phấn trong tôi nửa như khuyến khích tôi phải trình bày vì sao tôi thấy ra được điều này " Một niềm an vui hạnh phúc hỷ lạc thật sự có mặt và có thật trong mỗi con người chúng ta "
13/11/2020(Xem: 9189)
Từ khi có Lục tổ Huệ Năng đưa ra lý thuyết chúng sanh có sẳn Tánh Giác gọi là Phật Tánh trong người nhưng vì bị Ý thức che mờ đi nên cần ngồi thiền vén lớp ý thức này ra thì Phật tánh sẽ hiện ra thành Phật nên không cần kinh luật bất lập văn tự mà tu. Rất nhiều người bình dân phương nam đi theo một thời đông đảo. Câu hỏi được đặt ra là tánh giác này có trước hay sau ý thức? Thế nên mới đưa ra kế tiếp là giác ngộ rồi mới khởi tu tức là học kinh Phật. Vì Giác ngộ đến Giải thoát sinh tử là một chặng đường rất dài có khi rất nhiều kiếp cần trãi nghiệm. Vậy chúng ta nghiên cứu giác ngộ trước.
13/11/2020(Xem: 9366)
Nhân khi đọc bài Thành Tựu Niết bàn của Cư sỹ Nguyên giác Phan Tấn Hải, chúng tôi xin phép kết hợp với thuyết big bang của Stephen Hawking và tiến trình giác ngộ của Đức Phật, và sự sống và chết theo Phật giáo để luận bàn về Niết bàn, giải đáp thắc mắc đức Phật chết rồi đi về đâu? Đây chỉ là khởi niệm mới lạ, biết đâu tương lai sẽ có người chứng minh được.
13/11/2020(Xem: 9232)
Phương tây từ thế kỷ thứ 18 đã từng phát huy cái ngã cái tôi của con người như “tôi suy tư là tôi hiện hữu”. Từ đó đến nay người Phuơng tây phát triển cái tôi, đưa đến tôn trọng cái tính riêng biệt cũa cái tôi từ triết lý đến luật pháp. Nhưng đạo phật lại diệt ngã thì làm sao mà hoằng pháp cho người Phương tây tu theo phật được? Làm sao giải thích được ý nghĩa diệt ngã của đức Phật? Vậy ta có thể giải thích là không phải ngã? Khi người ngồi thiền định dưới cội bồ đề 49 ngày, người đạt giác ngộ và đập tay xuống đất mà nói ta đạt được chánh đẵng chánh giác do trời chứng , ta chứng và đất chứng.
13/11/2020(Xem: 8385)
Thiền tông luôn luôn nhấn mạnh “Tánh không có hai” cho đó là ý thức phân biệt nên che mờ tánh giác của chúng sanh. Vì thế thiền là vén bỏ đi ý thức vô minh này. Câu hỏi đặt ra là Tánh không phân biệt này cần thiết khi nào? Và nó thật chất là gì? Nên nghiên cứu sâu về nó. Kể từ khi lục tổ Huệ Năng đưa ra phép tu tập Vô Niệm cho thiền tông thì tánh vô phân biệt là cốt lỏi của thiền. Vô niệm là vô là vô phân biệt thì niệm là niệm Chân Như sẽ hé lộ ra mà không cần hành giả phải làm gì hết gọi là Đốn Ngộ.
13/11/2020(Xem: 14709)
Kính thưa chư Tôn đức & chư Phật tử hảo tâm Đã sắp đến ngày lễ Dewali (tết của xứ Ấn) nhưng năm nay vì tình hình lây nhiễm Dịch kéo dài nên dân nghèo sống quanh Bồ Đề Đạo Tràng trở nên túng thiếu triền miên do kinh tế sa sút và Bodhgaya không có khách hành hương lai đáo. Được sự đoái thương của chư Tôn Đức và chư Phật tử thiện hữu, chúng con, chúng tôi đã thực hiện một buổi phát chẩn lương thực cho 294 gia đình bần cùng tại 2 ngôi làng Muchalinda Naga. Đây là hai ngôi làng nằm phía sau hồ nước Mucalinda, nơi tương truyền ngày xưa vào tuần lễ thức 6 sau khi Phật Thành Đạo mãng xà vương, từ ổ chun ra, uốn mình quấn xung quanh Đức Phật bảy vòng và lấy cái mỏ to che trên đầu Ngài. Nhờ vậy mà mưa to gió lớn không động đến thân Đức Phật.
09/11/2020(Xem: 15357)
Quốc học Đại sư, Giáo sư Thiền giả Nam Hoài Cẩn, bậc thầy vĩ đại về Văn hóa Trung Hoa. Người đã tận tụy với công cuộc cứu vãn đất nước sau giai đoạn cách mạng văn hóa của những lãnh tụ Cộng sản Vô thần cực đoan, làm băng hoại xã hội, phá nát văn hóa truyền thống tổ tiên. Ông góp phần thanh tịnh hóa và tái tạo lịch sử văn hóa trong những biến động lịch sử chưa từng có của quốc gia, dân tộc Trung Hoa. Tiếp nối mạng mạch văn hóa, dung thông Trung Hoa cổ đại, hiện đại và hội nhập quốc tế.
08/11/2020(Xem: 30736)
Tôi đã có ý định từ vài tháng trước vào ngày Thầy giáo (20/11) sẽ viết một bài tri ân Sư Phụ tôi và các Giảng Sư đã gieo nhiều hạt giống tốt vào tâm thức tôi nhất là trong mùa đại dịch.