01-Tu Phải Là Hiền

27/02/201104:59(Xem: 9161)
01-Tu Phải Là Hiền

TU LÀ CHUYỂN NGHIỆP
HT. Thích Thanh Từ

Tu Phải Là Hiền

Buổi nói chuyện hôm nay tôinhắm vào Quý Phật tử Phước Thái nhiều hơn là Quý Phậttử ở các nơi. Vậy Quý vị hãy lắng nghe cho kỹ. Ở đâytôi không giảng những đề tài cao siêu, mà đặt những câuhỏi rất thực tế, rất thấp, quý vị hãy trả lời đúngnhư chỗ mình biết, để rồi tôi hướng dẫn cho quý vịtu hành.

- Quý vị đi chùa học đạo, cóphải tu theo đạo Phật không?

- Thưa Phải.

- Vậy người tu là hiền hay dữ?

- Dạ hiền.

- Người đi chùa, lậy Phật, ănchay, tụng kinh, nếu có người xúc phạm đến thì nóng nảyla lối. như vậy có hiền không?

- Dạ chưa hiền.

- À, chưa hiền tức là chưa tu.Vậy đi chùa tụng kinh mà chưa hiền chưa gọi là người tu.Người tự nhận mình tu theo đạo Phật mà chưa hiền thìsao?. Phải tu thế nào mới gọi là tu theo đạo Phật. Và làmthế nào để được hiền, quý vị biết không?

- Dạ chưa biết.

- Đây tôi hướng dẫn cho quý vịđể thành người hiền rất thực tế và dễ dàng. Theo tinhthần đạo Phật, tu là tu ở ba nghiệp: Thân nghiệp, khẩunghiệp, và ý nghiệp.

Khi chưa biết tu, Thân có khi làmlành có lúc làm dữ, miệng có khi nói lời thiện có lúc nóilời ác, ý có khi nghĩ tốt có lúc nghĩ xấu.

Khi biết tu thì việc lành nên làm,việc dữ nên tránh. Lời thiện thì nói, lời ác thì chừa.Điều tốt thì nghĩ, điều xấu thì dừng. Người biết tuthân không làm ác, miệng không nói ác, ý không nghĩ ác, đólà người hiền.

Tu chủ yếu không phải ăn chay nhiều,vậy mà Phật tử cứ đua nhau ăn chay, cho ăn chay nhiều làtu, chứ không biết tu là chừa ba nghiệp ác. Nhân gian có câuca dao để nhạo báng người ăn chay mà không hiền.

Sân si nghiệp chướng không chừaBo bo mà giữ tương dưa làm gì?

Tham sân si là nghiệp chướng củathân miệng và ý thì không chịu chừa bỏ, mà cứ đua nhauăn chay, rồi cho đó là tu, tu như vậy không đúng với chủtrương của đạo Phật. Tu là thân không làm ác, miệng khôngnói ác, ý không nghĩ ác.

Trong gia đình, nếu mọi ngườikhông biết tu thì cứ cãi và chửi bới gây phiền não chonhau. Thậm chí gây cãi không nguôi còn giận thì đánh đập,đánh đập không thỏa mãn cơn giận thì tình nghĩa không còn,mà tình nghĩa đã hết thì ly dị chia tay, gia đình đổ nát.

Nếu mọi người biết tu thì ývừa khởi nghĩ ác, liền biết xấu chế ngự không dám nóilời nặng, không nói nặng thì đâu có cãi, không cãi thìlàm gì có đánh đập, không đánh đập thì đâu có ly dị,gia đình thường an vui hạnh phúc.

Như vậy, nếu người biết tu thìý không bao giờ nghĩ xấu cho ai, tâm không bực bội phiềnnão, lúc nào cũng vui vẻ an ổn. Nếu ý không nghĩ xấu thìmiệng thân đâu có nói, làm hung ác khiến cho người đau khổ.Mà không làm khổ người thì được người thương mến, ngườithương mến thì không hại, nếu có chuyện bất trắc thìđược người giúp đỡ.

Khi đã biết tu thì thân miệng ýlúc nào cũng thiện, ba nghiệp mà thiện thì tự thân đượcan vui, trong gia đình trên thuận dưới hòa, ngoài xã hội khônggây xáo trộn sẽ được trật tự an bình. Như vậy ngườibiết tu, chẳng những chính bản thân mình được lợi ích,mà gia đình và xã hội cũng được lợi ích. Đó là ngườitu đúng theo lời Phật dạy.

Nếu chỉ biết ăn chay, tay lầntràng hạt, mỗi khi có ai xúc phạm đến thì la lối chửirủa không thua ai; Người như thế không hiền, chưa phải làngười tu. Do vậy, nên bị kiêu ngạo: "Ngoài miệng thì nammô, trong bụng thì chứa một bồ dao găm".

Ngoài miệng thì niệm Phật lâmrâm, nhưng trong tâm thì quá hung dữ. Thế nên, cho ăn chay nhiều,niệm Phật nhiều là tu mà không chịu chuyển thân, miệng,ý cho thiện thì làm trò cười cho thiên hạ. Vì vậy, khi nóilời tu, người Phật tử phải nhớ thân miệng ý phải thiện.

Phật dạy, tu một giờ, là đượcan vui hạnh phúc một giờ, tu một ngày là được an vui hạnhphúc một ngày, tu một năm là được an vui hạnh phúc mộtnăm. Nhưng gần đây có một số Phật tử nghĩ rằng ăn chay,đi chùa, làm công quả có phước nên ham đua nhau làm.

Ví dụ, trong gia đình trung bìnhăn chay một tháng bốn ngày, vì nghe nói ăn chay có phướcnhiều được khen, nên người vợ tăng thêm sáu ngày, rồimười ngày... chồng con ăn theo không nổi nên có chuyện xàoxáo trong gia đình. Rồi than trách rằng mình muốn tu muốntiến, mà bị quỉ nó phá nó ngăn không cho tu tiến, Ngườinghĩ nói như vậy có tu không? Tu mà ý khởi nghĩ ác, miệngchửi chồng con là quỉ. Như vậy, chưa phải là người Phậttử chân chính.

Người Phật tử chân chính khôngđặt nặng việc đi chùa thường, tụng kinh giỏi, ăn chaynhiều, mà phải biết tu ba nghiệp thân khẩu ý cho thiện.Tức là chuyển ba nghiệp ác thành ba nghiệp thiện, đi chùaniệm Phật ăn chay là phải nhớ từng hành động, từng lờinói, từng ý nghĩ luôn luôn phải thiện. Như vậy, có lúcnào là không tu. Chẳng hạn thân cuốc cỏ, xưa thấy rắnthì lấy cuốc đập chết, nay thấy rắn tránh không đập,đó là chuyển nghiệp thân ác thành thiện. Xưa khi tiếp xúcvới bạn bè họ nói lời hung dữ làm mình tức giận bènnói nặng lời cho bõ ghét, nhưng nay nhớ mình là người tukhông được lớn tiếng gây cãi nên im lặng mà nhẫn nhịn.Đó là chuyển nghiệp khẩu ác thành thiện.

Lúc ngồi một mình vừa khởi nghĩxấu về người liền hổ thẹn dừng không nghĩ nữa. Đólà chuyển nghiệp ý ác thành thiện. Tu như vậy, đâu có đợivô chùa tụng kinh lạy Phật mới tu, mà giờ nào ở đâu tucũng được, thế mới đúng ý nghĩa tu của đạo Phật. Nếuhiểu và tu như vậy, thì lo gì mai kia không được về cõiPhật. Trong kinh có câu:

"Tam nghiệp hằng thanh tịnh ĐồngPhật vãng Tây phương"

Ba nghiệp mà hằng trong sạch thìđồng với Phật về cõi Phật. Nếu không bỏ ba nghiệp ácmà cố niệm Phật nhiều câu Phật A-Di-Dà rước về CựcLạc, cũng không được rước về, vì ba nghiệp còn ác thìvề đó cứ gây cãi đánh đập hoài biến cõi Cực Lạc thànhcõi Ta Bà khổ hay sao ?

Vậy, tu cốt là chuyển ba nghiệpác thành ba nghiệp thiện là bước đầu, tụng kinh niệm Phậtlà bước kế tiếp. Bước đầu là nền tảng mà không thựchiện trước, lại đi bước thứ hai, giống như cất nhà lầumà không xây nền móng, quyết định cái nhà sẽ đổ khôngthành.

Lại cũng có nhiều Phật tử đichùa lâu năm, ăn chay, niệm Phật, Nếu con cháu có làm gìphật ý thì mắng chửi không tiếc lời, khiến cho con cháubuồn không thương mến. Rồi viện cớ là chỉ hiền vớingười ngoài thôi, đối với con cháu trong nhà phải khó phảidữ nó mới sợ. Người Phật tử nói vậy là không đúng.Tu là phải hiền, hiền với tất cả mọi người, từ trongnhà cho đến ngoài xã hội. Giả sử con cháu có làm bậy,làm sai, thì nên ôn tồn nhỏ nhẹ khuyên dạy con cháu. Đừngnên chửi bới la rầy, vì lúc nóng giận không kiểm soát đượcý nghĩ lời nói, sẽ nói bậy, mà nói bậy thì mất uy tínvới con cháu.

Kinh Phật ví dụ một Trưởng giảcó tất cả bốn bà vợ. Người thứ nhất rất trung thànhvới ông, thế mà suốt ngày ông không nghĩ tới. Người vợthứ hai được ông lưu ý chút ít. Người vợ thứ ba đượcông nhắc nhở liền miệng. Người vợ thứ tư thì ông ởđâu bà có mặt ở nơi đó, Không rời một gang tấc. Mộthôm ông đau nặng sắp chết, hỏi cả bốn người vợ:

- Tôi sắp chết, trong bốn bà cóai nguyện chết theo tôi không ?

Vợ thứ tư lên tiếng trước:

- Bình thường ông ở đâu thì cómặt tôi ở đó, bây giờ ông chết tôi xin đưa ông tới cửa.

Vợ thứ ba lên tiếng tiếp:

- Bình thường tôi được ông lưuý nhắc nhở liền miệng, bây giờ ông chết tôi xin đưa ôngtới cổng.

Vợ thứ hai nói:

- Bình thường tôi cũng được ôngnhắc nhở, bây giờ ông chết tôi xin đưa ông tới mộ.

Vợ thứ nhất nói:

- Bình thường tuy ông không nghĩtới, nhưng bây giờ ông chết, tôi nguyện chết theo ông.

Qúy vị thấy ông Trưởng giả quábất công và bội bạc, người thương mình, trung thành vớimình thì lơ là không nghĩ đến, người thương ít thì luônluôn theo dõi không rời... ông Trưởng giả bất công bộibạc này Phật dụ cho mỗi người chúng ta.

Người vợ thứ tư Phật dụ chotiền bạc, chúng ta ở nhà, hay đi đâu đều có tiền trongtúi không thể thiếu nó. Nhưng khi chúng ta chết thì nó nằmtrong tủ hoặc ở nơi rương thuộc phạm vi trong nhà, vì vậymà nói đưa tới cửa.

Người vợ thứ ba dụ cho của cảisự nghiệp nhà cửa, nó nằm ở trong phạm vi vòng rào nhà,nên nói đưa tới cổng.

Người vợ thứ hai dụ cho côngdanh chức tước khi đưa quan tài người chết tới huyệt thìđọc điếu văn kể công trạng rồi mới hạ huyệt chôn cất,nên nói đưa tới mộ.

Người vợ thứ nhất dụ cho nghiệplành hay nghiệp dữ theo mình như hình với bóng, có mình ởđâu thì có nó ở đó không rời nhau, nên mới tình nguyệnchết theo.

Tác động của thân khẩu ý lặptới lặp lui nhiều lần gọi là nghiệp. Người dậy họchằng ngày thì gọi là nghề giáo hay nghiệp giáo. Người cùnglàm một việc thì gọi là bạn đồng nghiệp. Có người làcó nghiệp. Người nghiệp không rời nhau.

Giả sử như ông thầy giáo đi đườngcó mang theo một số tiền của, bất thần ông bị tai nạn,bao nhiêu tiền ông mang theo bị mất hết. Nhưng nghiệp dạyhọc vẫn còn không mất, về nhà vẫn đến trường dạy họctrò. Như vậy, tiền của và sự sản là cái ngoài mình nênbị mất dễ dàng không thể giữ được mãi mãi. Còn nghiệplà cái không ngoài mình nên chẳng bao giờ mất. Thế mà trongcuộc sống hằng ngày mọi người đều nghĩ làm sao cho cótiền, làm sao cho có của, nếu có tiền có của rồi thì muốncó địa vị danh vọng. Trong ba thứ đó nghĩ tới tiền nhiềunhất, rồi tới của cải danh vọng. Khi chết, thì tiền củatừ giã mình trước nhất, tức là khi chết nó ở lại chứkhông theo mình.

Trong đời này không ai là (người)không chết, hoặc chết sớm hoặc chết muộn, khi chết thìkhông ai đem được tiền của theo, chỉ có nghiệp lành haynghiệp dữ theo mà thôi. Thế nên, nếu là người Phật tửkhôn ngoan sáng suốt, dù có làm ra nhiều tiền của mà làmác thì nhất định không làm, vì khi chết không cứu đượctội khổ mà phải để lại tất cả, chỉ có một mình mìnhchịu quả báo khổ đau. Nghĩ và nói ác mà đem lại lợi lộccho mình thì cũng không nói.

Như thế không bị tiền tài saisử tạo nghiệp ác. Ngày nay không gây tạo tội lỗi, khôngbị người chê trách, mai kia chết đi cũng nhẹ nhàng thảnhthơi. Ca dao có câu:

Bởi chừng kiếp trước khéo tuNgày nay con cái võng dù nghênh ngang

Do kiếp trước khéo tu nên ngàynay con cháu mới sang trọng, Nếu hiện tại không chịu tu thìcon cháu về sau khổ. Để thấy chúng ta tu là tạo cho cuộcsống hiện tại an vui, ngày mai lại càng an vui tốt đẹp hơn.Vậy, biết tu là thường nhớ tới nghiệp, để tránh nghiệpác làm nghiệp lành, hơn là nhớ tới tiền của vật chất.Tuy trong cuộc sống, chúng ta phải làm ra tiền mới sống được,nhưng phải làm cho công bằng lương thiện, mình an vui, ngườikhông khổ, hiện tại mình hạnh phúc, mai sau cũng an lành.Vậy, tu không phải là mong cầu cái gì cao siêu huyền bí,mà ngay trong thực tế thường làm lợi mình lợi người mộtcách cụ thể, không mơ hồ viễn vông.

Đạo Phật chủ trương tu là đểgiải thoát, song nói giải thoát có vẻ xa vời quá! Nhưng nếuthực tế thân chúng ta không làm ác là giải thoát đượccái khổ nghiệp ác của thân. Vì nếu cướp của giết ngườithì bị cái khổ đánh đập tù tội, bây giờ không tạo nghiệpác ấy thì thân được lành mạnh tự do, đó là giải thoátnghiệp ác của thân.

Nếu miệng không nói lời hung dữác độc thì giải thoát được nghiệp ác của miệng, ý khôngnghĩ ác thì giải thoát được tâm niệm xấu xa buồn ghétngười khác. Tuy không hoàn toàn giải thoát nhưng có giảithoát từng phần; tu ít thì giải thoát ít, tu nhiều thì giảithoát nhiều, có tu là có bớt khổ. Chẳng những bớt khổtrong đời này mà trong đời sau còn được an vui nữa. Nênngười biết tu không sợ chết. Vì ai cũng phải chết, vàbiết rằng mình không tạo nghiệp ác thường tạo nghiệplành, sau khi chết sẽ an vui chớ không khổ. Tuy nhiên, đừngvì muốn giải thoát mà liều chết sớm để được khỏeđược sướng thì không đúng với tinh thần giải thoát củađạo Phật.

Thông thường thì người đời thamsống sợ chết, nên nghe nói chết thì rất sợ. Nhưng ngườibiết tu thì ngay cuộc sống hiện tại lúc nào cũng an vui,khi chết đến thì bình thản không loạn động, nên khôngmuốn chết sớm mà cũng không sợ chết. Vì vậy mà Phậttổ mới dạy chúng ta tu, tu là nguồn cội hạnh phúc, hếtphiền não hết khổ đau.

Kể từ ngày nay quý Phật tử ởgần thiền viện, mỗi tháng hai lần vào ngày rằm và ba mươinên đi chùa sám hối và nghe quý thày giảng để biết phươnghướng mà tu tập. Nghe một lần tuy biết đó, nhưng vì cáibệnh chúng sanh hay quên, nên mỗi tháng phải đi hai lần, nhờcác thầy nhắc nhở, luôn ghi nhớ mới tinh tấn mà tu hành.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14302)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20266)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17446)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14960)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16761)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12777)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11659)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12135)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8063)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9135)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.