2. Lo âu và căng thẳng

25/02/201102:45(Xem: 9623)
2. Lo âu và căng thẳng
 
CHÌA KHÓA SỐNG THANH THẢN
Lại Thế Luyện

CHƯƠNG I: KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN

2. Lo âu và căng thẳng

Tất cả chúng ta ít nhiều đều có kinh nghiệm trải qua những cơn stress(căng thẳng) liên quan đến những tình cảnh hoặc những biến cố khó khăn trong cuộc sống. Thực tế cuộc sống hôm nay còn có rất nhiều những hoàn cảnh, tình huống khác mà lâu nay vẫn làm cho nhiều người chúng ta cảm thấy luôn bị stress. Nguyên nhân gây ra stressthì rất nhiều, nhưng tựu trung vẫn là những nguyên nhân liên quan trực tiếp hoặc bắt nguồn từ chính lối sống hằng ngày, công việc, gia đình của mỗi người...

Stresscó thể còn liên quan đến bệnh tật của cơ thể, làm giảm sự hưng phấn hoạt động của chúng ta. Và ngược lại, người bị stresscũng dễ bị ốm đau thể xác nhiều hơn. Stressảnh hưởng trên nhiều mặt khác nhau của cuộc sống mỗi người: từ sức khoẻ đến hiệu quả công việc, và quan trọng nhất là niềm vui sống, yêu đời...

Do đó, làm cách nào chúng ta có thể đối phó một cách hiệu quả với stress, làm giảm các nguyên nhân gây ra stress, đó là ước muốn không phải của riêng ai! Dưới đây là một vài kinh nghiệm hữu ích để giảm stress:

  • Đánh giá đúng những nguyên nhân gây ra stress:

Bước đầu tiên để làm chủ được stresslà nắm được những nguyên nhân, kể cả những nguyên nhân tiềm tàng gây ra stresscho bản thân mình. Hãy nhìn lại các hoạt động hằng ngày của mình. Liệu bạn có trải qua một trong các nguyên nhân dưới đây:

  1. – Bận tâm về tình hình thế giới;
  2. – Giảm hứng thú, nhiệt tình trong công việc;
  3. – Mất một số bạn bè;
  4. – Thời gian dành cho con cháu quá ít;
  5. – Cảm thấy thời gian của mỗi ngày quá ngắn ngủi;
  6. – Nghĩ về cái chết của chính mình;
  7. – Cảm thấy khó ngủ, mất ngủ;
  8. – Mong ước một điều gì đó trong cuộc sống của mình sẽ thay đổi;
  9. – Gặm nhấm một nỗi đau nào đó trong tâm hồn;
  10. – Sắp đến một cột mốc nào đó trong cuộc đời (65, 70, 75, 85, 90 tuổi... );
  11. – Bận tâm về con cái, cháu chắt;
  12. – Suy giảm khả năng trí tuệ;
  13. – Một thay đổi bất ngờ nào đó trong gia đình...
  • Loại trừ hoặc giảm thiểu những nguyên nhân gây ra stress:

Nếu có thể, hãy tâm sự với gia đình, bạn bè hoặc những người khác. Hãy tìm trong danh sách liệt kê nguyên nhân gây ra stresscủa bạn và tìm xem nguyên nhân nào bạn có thể loại trừ hoặc giảm thiểu. Nếu bạn có những nguyên nhân về mặt sức khoẻ, thì hãy tìm sự trợ giúp của bác sỹ. Nếu là những nguyên nhân thuộc về thói quen sinh hoạt, thì bạn nên thay đổi thói quen sinh hoạt theo hướng tích cực, có lợi cho tinh thần của bạn hơn.

  • Sắp xếp kế hoạch sống của mình:

Đây là cách hay nhất để giảm stress. Bạn hãy lập một kế hoạch, trong đó ghi rõ những hoạt động mình cần làm: học thêm một ngoại ngữ hoặc tập chơi một nhạc cụ, đi du lịch, thăm bà con họ hàng, thăm trại trẻ mồ côi, người già neo đơn. Những gì mình cần chuẩn bị cho các chuyến đi đó? Thời gian cụ thể để thực hiện từng hoạt động đó? Khi tích cực lao vào các hoạt động phong phú khác nhau vì bản thân và vì người khác như vậy, chắc chắn bạn sẽ tìm lại được sự tươi tắn cho tâm hồn mình và giảm được stress.

  • Có thêm nhiều bạn bè:

Cảm giác cô đơn là một trong những nguyên nhân gây ra stress. Tích cực tham gia vào các tổ chức xã hội – từ thiện, bạn sẽ có dịp cởi mở tấm lòng, đón nhận tình cảm, niềm vui giao tiếp, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng. Nói chung, đừng bao giờ bỏ lỡ những cơ hội mở rộng tấm lòng mình và giao tiếp với người khác.

  • Chẻ vụn những nguyên nhân gây ra stress:

Nhiều nguyên nhân gây ra stresscùng tác động lên bạn, bạn sẽ bị stressnặng hơn. Trái lại, từng nguyên nhân gây stresstác dụng riêng lẻ lên bạn, bạn sẽ dễ dàng đối phó hơn. Hãy luôn tìm cách giảm số lượng các nguyên nhân gây stress, đừng nên để cho chúng tác động cùng lúc lên bạn.


 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14369)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20295)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17499)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 15007)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16817)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12809)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11686)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12217)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8142)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9180)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.