7. Chân Thành

25/02/201116:59(Xem: 9410)
7. Chân Thành

THỬ HÒA ĐIỆU SỐNG
Võ Đình Cường

CHÂN THÀNH

Đời, sự tuôn trào bất diệt ấy, không thể nằm yên trong một hình thức nhất định nào. Ta dừng lại một nơi nào đó, trong thời gian hay không gian, là tự phản bội, là từ bỏ cuộc đời. Vì sống là đi chứ không phải đứng lại.

Trong mấy năm lại đây, cuộc thế đổi thay một cách nhanh chóng chưa từng thấy bao giờ. Em có cảm tưởng như đang ngồi trong rạp hát. Và khó chịu nhất là trên sân khấu, quanh đi quẩn lại chỉ chừng ấy con hát, thay đổi mặt mày, sắm đủ vai lớp, trung đấy và nịnh cũng đấy, ác đấy và thiện cũng đấy, vào cửa này là bằng hữu, qua cửa kia là kẻ thù. Lòng người xoay như chong chóng. Em cảm nghe một nỗi trơ trọi vô cùng, bạn bè với ai đây, chân thành với ai đây.

Ngọn cỏ xoay chiều theo hướng gió, đã đành vì nó là vật vô tri. Em chỉ ngạc nhiên sao lòng người cũng dễ dàng uống rạp mình theo mọi xu hướng thế được? Đấy là điều đáng buồn và tủi nhục nhất của con người.

Trái lại, có một hạng người khác, tuy không đáng khinh bỉ, nhưng lại đáng e ngại hơn. Ấy là hạng giữ độc quyền về tin tưởng của mình, nên đã độc đoán, tàn nhẫn với những kẻ không tin tưởng như họ. Họ làm như chân lý là của riêng họ, và ai không theo họ là những kẻ tà ngụy không đáng chung sống dưới một vùng trời. Thái độ ấy tạo ra bao nhiêu tai hoạ, mà kết quả chỉ có thể là sự thoái hoá, nếu không phải là sự diệt vong.

Xưa kia, trừ Phật giáo, nhiều tôn giáo đã gây ra không biết bao nhiêu cuộc tàn sát, giết chóc, chỉ vì muốn giữ độc quyền về tín ngưỡng. Cái hoạ ấy chưa hết, quyền tự do tín ngưỡng chưa được áp dụng triệt để ở mọi chân trời, thì ngày nay tiếp theo cái hoạ độc quyền phát xít …

Có cần phải áp bức, ác độc, giết chóc nhiều hơn nữa mới hiểu rằng chân lý là một điều rất tương đối, mọi hoàn cảnh tạo ra những tư tưởng khác nhau, và những phương pháp tàn bạo để bắt kẻ khác theo mình chỉ làm cho người ta xa lánh mình hơn nữa.

Có lẽ không ai không hiểu như thế. Nhưng khi người ta đã tin tưởng một cách chân thành vào giá trị tuyệt đối của một học thuyết, chủ nghĩa quỷ và dễ độc đoán với những ai không chia cùng họ một tin tưởng. Có lẽ đấy là trạng thái thông thường về tâm lý …

Trong sự tìm chân lý, điều kiện cần thiết đầu tiên là thái độ khoan hoà, rộng rải. Không ai có quyền viện sự chân thành với tin tưởng riêng của mình để độc đoán tàn bạo với những kẻ khác. Sự đời có muôn hình vạn trạng, cần có muôn vạn con mắt, lỗ tai để nghe ngóng khắp nơi. Không nơi bít kín chúng lại hay bắt buộc chúng chỉ hướng về một phía. Nếu ai cũng hiểu rằng mọi học thuyết, mọi tư tưởng đều có một mục đích chung là cải thiện đời sống, đưa nhơn loại đến gần sự thật hơn, khi ấy mọi người ở trường này hay phái nọ đều phải nhận thấy rằng mình là những tay thợ đang thực hiện lý tưởng chung; và mọi học thuyết mọi chủ nghĩa đều là những thí nghiệm để đi đến mụch đích chung ấy cả. Vả lại, sao ta dám chắc ta đã đi đúng đường và bao nhiêu kẻ khác đi sai ? Đối với kho tàng chân chân lý quý báu mà nhơn loại đã gom góp được qua bao nhiêu thế hệ chảy trôi, mỗi chúng ta chỉ là một kẽ chài lưới đang ra công mò mẫn trong bể sâu huyền bí bao la, là cái vũ trụ này, để lượm lặt những hạt châu chân lý và vứt vào kho báu tinh thần kia. Nhưng để làm tròn sứ mệnh ấy, đã bao lần, ôi đã bao lần và có khi suốt cả một kiếp sống, suốt nhiều kiếp sống chúng ta đã nắm được trong tay một hạt ngọc quý, nào hay khi đưa ra ánh sáng, thì đấy chỉ là một hòn đá sỏi !

Em tưởng thái độ rộng rãi gần như dè dặt ấy sẽ làm cho người ta không thể hoạt động mạnh nẽ được và cũng khó mà làm cho họ chân thành với tin tưởng họ. Có lẽ đấy là nguyên nhân chính khiến một số đông người đời hay thay đổi lý tưởng của họ như thay áo chăng ?

Không em ạ, chúng ta phải phân biệt hai hạng người, tuy bề ngoài giống nhau kỳ thật xa nhau như trời với vực. Một hạng chỉ biết làm nô lệ cho lòng tham danh, chuộng lợi của họ, nên khi nhận thấy ở đâu có thể thoả mãn được dục vọng thấp hèn là ngã ngay vào đấy. Hạng ấy tất nhiên chỉ để chúng ta khinh bỉ.

Nhưng có một hạng người khác, đáng kính chớ không thể khinh được. Ấy là hạng chỉ biết phụng sự chân lý. Họ có thể ruồng bỏ tất cả, tiền tài, danh vọng, bản thân để lắng nghe tiếng gọi của sự thật. Không có thể một trở ngại nào có thể cản ngăn họ. Họ chính là những người chân thành nhất, chân thành với sự thật, với cuộc đời. Và chỉ có sự chân thành ấy là quí báu nhất. Bao nhiêu thứ chân thành khác chỉ có một giá trị tương đối, tạm bợ mà thôi. Cuộc đời là một sự tiến bộ, mọi sự vật đều phải đổi thay. Một lý thuyết, một chủ trương dù hay ho bao nhiêu cũng chỉ sống được một thời. Trên bước thang tiến bộ, chúng chỉ là những cấp bực mà nếu muốn trèo cao, chúng ta phải bắt buộc phải dẫm lên và rời bỏ chúng lại.

Con tằm phá bỏ cái kén trong ấy nó đã tự giam để tuân theo nhịp sống. Đời sống tinh thần phải thoát ra những hình thức nhất thời để được tồn tại mãi mãi. Con tằm sống cho sự sống, không phải sống cho cái kén. Nếu nó trung thành với cái kén, nó sẽ tự giam mình chết trong đó. Để được thích hợp với cuộc đời rộng rãi, không bờ bến, và luôn luôn biến đổi,chúng ta bắt buộc phải sang bằng những gì chia rẽ ngăn cách, rời bỏ những gì nhất thời tạm bợ. Như thế gọi là chân thành với cuộc đời, với sự sống. Mà có chân thành với cuộc đời, với sự sống mới mong đi sát lẽ thật, vì lẽ thật nằm trong sự sống linh động, nóng hổi, đổi thay.

Về tinh thần cũng như vật chất, dừng lại, tự trói buộc lại, ở một nơi nào đó trong thời gian hay không gian, là tự huỷ. Sống, nghĩa là luôn luôn chọn lọc và tiến triển.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/02/2011(Xem: 13175)
Dưới đây là một bài viết của bà Aung San Suu Kyi trên báoBangkok Post tháng 9, năm 1996. Bài báo sau đó được một ký giả Pháp là AlainDelaporte-Digard viết lời giới thiệu và đưa lên mạng Buddhachanel.tv vào ngày13 tháng 10, năm 2010. Bài báo tuy đến với chúng ta hơi muộn, thế nhưng chính sựmuộn màng đó biết đâu cũng là một lợi điểm giúp chúng ta đánh giá cao hơn nữaLợi ích của Thiền định và sự Hy sinh"của bà Aung San Suu Kyi, vì gần đây bà đã phục hồi được sự tự do của mình. Dướiđây là lời giới thiệu của ký giả Alain Delaporte-Digard và tiếp theo đó là phần chuyển ngữ bài viết của bà Aung San SuuKyi.
10/02/2011(Xem: 12882)
Ngày nayđọc được một bài viết về Phật giáo của một tác giả Ấn độ là một việc hiếm hoi,vì Phật giáo đã biến mất trên bán lục địa này đã tám thế kỷ. Nhưng nếu đọc đượcmột bài viết của một tác giả khác thường, thì lại còn hiếm hoi hơn nữa. BhimraoRamji Ambedkar (1891-1956) là cựu bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ Nerhu, mộtngười tranh đấu cho công bằng xã hội, đơn độc chống lại sự phận chia giai cấp giữacon người và vạch trần những sai lầm của Ấn giáo.
09/02/2011(Xem: 11972)
Muốn giải thoát sanh tử, chúng ta cần phải biết gốc của sanh tử là gì? Theo pháp Mười hai nhân duyên, Phật dạy gốc của sanh tử là Vô minh.
09/02/2011(Xem: 12531)
Bốn mùa đã không thì làm gì có mùa Xuân, mùa Hạ. Thế mà nói ngày Xuân, tháng Xuân, mùa Xuân là nhằm trong cửa phương tiện tương đối luận bàn.
07/02/2011(Xem: 21668)
Trong Phật giáo, chúng ta không tin vào một đấng Tạo hóa nhưng chúng ta tin vào lòng tốt và giữ giới không sát hại sinh linh. Chúng ta tin vào luật nghiệp báo nhân quả...
06/02/2011(Xem: 12903)
Cúng lễ, cầu nguyện, xin ơn trên phù hộ cho bản thân, gia đình được bình an hay hoàn thành một điều ước, một tâm nguyện nào đó là một trong những nhu cầu căn bản và thiết yếu của con người, diễn ra trong sinh hoạt của hầu hết các tôn giáo.
06/02/2011(Xem: 22050)
Đạo Phật được đưa vào nước ta vào khoảng cuối thế kỷ thứ hai do những vị tăng sĩ và những thương gia Ấn Độ và Trung Á tới Việt Nam bằng đường biển Ấn Độ Dương.
02/02/2011(Xem: 16967)
Tập sách này gồm có những bài viết đơn giản về Phật Pháp Tại Thế Gian, Cốt Tủy Của Ðạo Phật, Vô Thượng Thậm Thâm Vi Diệu Pháp, những điều cụ thể, thiết thực...
01/02/2011(Xem: 13370)
Chúng tôi viết những bài này với tư cách hành giả, chỉ muốn đọc giả đọc hiểu để ứng dụng tu, chớ không phải học giả dẫn chứng liệu cụ thể cho người đọc dễ bề nghiên cứu.
31/01/2011(Xem: 12743)
Nói đến Tăng phục Phật Giáo trước tiên chúng ta nên tìm hiểu về những lý do căn bản, ý nghĩa thậm thâm của Tăng phục.