1. Lý Tưởng

25/02/201116:59(Xem: 9007)
1. Lý Tưởng

THỬ HÒA ĐIỆU SỐNG
Võ Đình Cường

Lý Tưởng

Lý tưởng chỉ hướng cho thuyền đời và nẩy hoa cho cuộc sống !

Anh kể một chuyện xưa: Xưa có người láng giềng của Dương Chu mất dê. Sau khi đã sai tất cả người nhà đi tìm, ông còn qua thưa với Dương Chu cho mượn thêm một người nữa đi tìm hộ. Dương Chu ngạc nhiên hỏi ?

- Sao mất có một con dê mà phải lắm người đi tìm thế ?

- Người láng giềng thưa: Vì đường lắm ngã ba.

Đến chiều tối người mất dê trở về. Dương Chu hỏi: Sao có tìm được dê không?

- Thưa không tìm được.

- Đông người thế sao lại không tìm được ?

Thưa, vì đường lắm ngã ba. Cứ đi một đoạn lại gặp ngã ba, rồi theo một trong những ngã ba ấy lại gặp ngã ba nữa, thành thử không biết theo đường nào để gặp dê, nên đành phải về không tất cả.

Em ạ, cũng thế, đường đời có muôn vạn nẻo. Nếu không sẵn có một chí hướng, một lý tưởng, thì cũng dễ lạc đường. Bơ vơ giữa muôn lối quấn quanh, người ta quấn quanh theo muôn lối, cho đến tối chiều, sương pha đã bạc nữa mái tóc sầu, mà nhìn lại chốn mình đã lên đường từ lúc ban mai còn rực rỡ, thì ôi, nào có cách bao xa ! bây giờ vừa ngạc nhiên, vừa tủi hổ cho phận mình có đi mà không tới, người ta gục ngã bên đường, nằm khóc trong đêm đen, để đợi một ban mai không bao giờ trở về với tuổi già của họ nữa.

Muốn đi xa, không phải chỉ bước mãi, bức hoạ đẹp không phải chỉ gồm nhiều nét hay, muốn thực hiện đời mình, không phải chỉ xung xăng hoạt động là đủ. Kẻ sành đi đường tìm hướng trước khi đi, hoạ sĩ có tài phác hoạ bức tranh mình sắp vẽ. Nhười đời không ai thiếu lý tưởng mà có thể thành đạt được. Lý tưởng, ngọn đèn treo cao trong đêm tối đời, vừa chỉ đường cho bao kẻ lạc hướng, vừa dồn năng lực vào một chỗ, như tình yêu của mẹ hấp dẫn đàn con quanh mình. Không có nó thì dù có tài cán bao nhiêu đi nữa, cũng bị tản mác một cách vô ích như đám người đi tìm dê kia, tuy đông mà không tìm dê lại được.

Vả lại, không có gì vô vị bằng một đời sống không lý tưởng. Sau những năm thơ ấu mà cuộc đời đối với đứa bé là một sân khấu để mỗi phút nó mỗi ngạc nhiên reo mừng, đây rồi cái tuổi trưởng thành, tấn tuồng ấu thơ vừa vãn, đôi ngã tẻ nhạc mở lối ra trước mắt người thiếu lý tưởng.

Một ngã phẳng buồn đưa đến sự an nhàn xuôi chiều theo hai nhịp ăn ngủ, ngủ ăn, những buổi mai nhạc, chán ngán nằm lì không muốn dậy, và những buổi tối, đặt mình xuống chiếu, không chút náo nức với dự định ngày mai, ôi cuộc đời ở đây bạc nhược, lờ đờ trôi như dòng nước óc khuấy loãng.

Một ngã đỏ rực đưa đến sự quay cuồng, như chiếc lá vàng rơi trước cơn gió lốc. Ở đây người ta sống giữa cảnh rối ren không được một phút tỉnh táo để xem mình đang ở đâu và tìm một phương hướng thích hợp với mình. Bừng mắt dậy giữa khuya và chợt thấy nhà mình đang ngùn ngụt cháy, đấy là tâm trạng loạn động của những hạng người đi trên đường này.

Để tránh hai con đường ấy, chỉ có một cách là vạch lấy một lối đi theo lý tưởng của mình.

Vẫn biết lý tưởng chỉ hướng cho thuyền đời và nẩy hoa cho cuộc sống, nhưngtìm được lý tưởng không phải là một chuyện dễ. Đứng trước những ngã ba, ngã tư hào nhoáng và lộng lẫy, người trẻ thơ mới đụng chạm với đời như em, biết sao được những uẩn khuất dấu trên đường mình chưa đi qua ? Và như thế họ phân vân là phải. Người đi tìm dê, boăn khoăn trước những ngã ba vì không biết đi đường nào cho gặp dê, thì người tìm lý tưởng do dự mãi trong sự tìm kiếm của mình cho đến lúc mỏi gối chồn chân, đành trở về tay không, cũng không phải là một chuyện lạ. Em nghĩ, thật ra lý tưởng không phải thiếu cho người, mà chính phần nhiều người đời thiếu lý tưởng vì quá phân vân trong sự lựa chọn lý tưởng.

Cũng có phần đúng trong lời em nói. Nhưng người đi tìm dê, vẫn khác hơn người đi tìm lý tưởng. Một đàng tìm vật ở ngoài, một đàng tìm ở trong. Tìm lý tưởng trước hết là tìm ta, tìm những khả năng của lý trí, tình cảm, thể chất, để nhận rõ ta, rồi dựa vào những điều ta có thể làm được để phác hoạ một cái ta sau này, cái ta thật của ta, cái ta mong ước. Khi đã biết rõ ta như thế, thì đường đời có muôn vạn ngã, mà chỉ có một ngã là thích hợp với ta mà thôi. Người đời thường phân vân trong sự lựa chọn lý tưởng, vì họ không tự biết mình. Có người tưởng mình có đủ tài năng nên muốn ôm cả mọi việc, mà rốt cuộc chẳng thành được việc gì. Có người tưởng mình không có một chút khả năng nào nên không dám nhận một việc nào cả. Nhưng đã là người, thì vụng về bao nhiêu cũng có vài đặc điểm, dù khôn khéo bao nhiêu cũng chẳng hoàn toàn. Chi bằng ta đi theo con đường ta biết có thể đến đích được. Ấy là thuật mầu nhiệm nhất để được thấy ánh sáng rực rỡ của ngày thành công.

Nhưng tìm lý tưởng, dù sao cũng chưa khó mấy. Khó nhất là giữ vững lý tưởng mình. Nhiều người sau vài lần thất bại, bỗng quay lái thuyền đời. Họ không ngờ rằng ở đây cũng như mọi trường hợp khác, kiên chí vẫn là mẹ đẻ của thành công. Trên đường lý tưởng, không phải lúc nào cũng có hoa và bướm. Đừng thấy những đoạn gai gốc khó đi mà vội rẽ sang lối khác, nó cũng đang dàn bày cho em cái hào nhoáng nhất thời. Cứ quyết chí theo hướng của ta đi, rồi chậm hay mau, thế nào cũng có ngày đến đích.

Em ạ, sóng triều rào rạt mỗi ngày hai bận xuống lên, kẻ thấp chí bạc tài thì theo nó mà ra vào sông bến cũ.

Những kẻ kiên tâm cả chí, thì dù sóng gió tơi bời, cũng cố ra sức chống chèo cho qua cơn biển động. Qua cơn biển động ấy rồi gió thuận căng buồm, sẽ đẩy vút thuyền ta đến những bến trời mới lạ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/07/2015(Xem: 29801)
Trong sinh hoạt thường nhật ở Chùa ai ai cũng từng nghe qua câu “Ăn cơm Hương Tích, uống trà Tào Khê, ngồi thuyền Bát Nhã, ngắm trăng Lăng Già “, do đó mà nhiều người thắc mắc “Thuyền Bát Nhã” là loại thuyền như thế nào? Bài viết này sẽ giải đáp đôi điều về nghi vấn ấy. Nói theo Thập Nhị Bộ Kinh, Thuyền Bát Nhã là pháp dụ, tức lấy thí dụ trong thực tế đời thường để hiển bày pháp bí yếu của Phật. Thuyền là chỉ cho các loại thuyền, bè, ghe đi lại trên sông, trên biển. Còn Bát Nhã là trí tuệ, một loại trí tuệ thấu triệt cùng tận chân tướng của vạn pháp trên thế gian là không thật có, là huyền ảo không có thực thể, mà nói theo Đại Trí Độ Luận thì mọi thứ trên thế gian này như bóng trong gương, như trăng dưới nước, như mộng, như sóng nắng… để từ đó hành giả đi đến sự giác ngộ giải thoát vì giác ngộ được chân lý “Nhất thiết pháp vô ngã”. Do vậy, Thuyền Bát Nhã chính là con thuyền trí tuệ có thể chuyên chở chúng sanh vượt qua biển khổ sanh tử để đến bến bờ Niết bàn giải thoát an vui.
01/07/2015(Xem: 32668)
Chủ đề Một Cõi Đi Về, Thơ và Tạp Bút tập hai, một lần nữa, được cái cơ duyên thuận lợi hân hạnh ra mắt quý độc giả. Cách đây ba năm tập một đã được xuất bản vào năm 2011. Hình thức và nội dung của tập hai nầy, cũng không khác tập một. Nghĩa là chúng tôi cũng chia ra làm hai phần: Phần đầu là thơ và phần sau là những bài viết rải rác đã được đăng tải trên các tờ Đặc san Phước Huệ. Tờ báo mỗi năm phát hành ba kỳ vào những dịp đại lễ như: Phật Đản, Vu Lan và Tết Nguyên Đán. Do đó nên những bài viết có những tiêu đề trùng hợp và nội dung có chút ít giống nhau. Tuy nhiên, mỗi bài đều có những sắc thái hương vị riêng của nó. Ngoài ra, có những bài viết với những tiêu đề khác không nằm trong phạm vi của những ngày đại lễ đặc biệt đó. Nay chúng tôi gom góp tất cả những bài viết đó lại để in chung thành một quyển sách tập hai nầy. Về ý nghĩa của chủ đề nói trên, chúng tôi cũng đã có trình bày rõ trong tập một. Ở đây, chúng tôi không muốn lặp lại. Điều quan trọng mà chúng tôi muốn nói ở đây là
01/07/2015(Xem: 15486)
Có những tiếng những lời những âm thanh nghe hoài không chán, nghe mãi không quên, không nghe thì trông ngóng đợi chờ. Tiếng nói của người thương kẻ nhớ kẻ đợi người mong, âm thanh của những ngọt ngào êm dịu, lời ru miên man đưa ta về miền gợi nhớ, những yêu thương da diết chôn dấu trong từng góc khuất, những trăn trở buồn vui có dịp đi qua. Và còn nữa, những thứ mà lúc nào ta cũng trông mong, lời khen tán thưởng tiếng vỗ tay tung hô của thiên hạ.
29/06/2015(Xem: 27987)
Như truyền thông đại chúng đã loan tải vào ngày 24 tháng 4/ 2015 một trận động đất xảy ra tại đất nước Nepal đã làm thiệt mạng gần 9.000 nạn nhân, và làm sập hư trên 100.000 ngôi nhà, trong hiện tại có trên 200.000 người không nhà cửa, và hàng ngàn trẻ em mồ côi cha mẹ. Nhìn thấy cảnh đời bể dâu tang thương đổ nát của người dân Nepal, Hòa Thượng Hội Chủ Thích Như Huệ đã ra thông tư, cũng như tâm thư kêu gọi lòng từ tâm của người con Phật. Sau gần 2 tháng kêu gọi, với tấm lòng tùy tâm của đồng hương Phật tử xa gần trong và ngoài nước Úc, cũng như 37 tự viện thành viên của Giáo Hội đã đem đến kết quả với số tiền cứu trợ là $ 304.900. Úc Kim. Phái Đoàn Cứu Trợ Nepal thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan đã lên đường vào tối ngày 8.6.2015 tại sân bay Melbourne.
29/06/2015(Xem: 10265)
Thời tiết mùa hè năm nay bất thường. Đã có những ngày quá oi bức, và cũng có những ngày lù mù, không mưa không nắng, gió se lạnh. Khí hậu đôi khi cũng tác động vào lòng người, khiến họ dễ bẳn gắt, khó chịu. Những người đã nuôi dưỡng từ lâu sự kỳ thị, thành kiến, hay tỵ hiềm nào đó, có thể bị thời tiết nóng bức châm ngòi cho sân hận và sự bạo động. Đã có những cuộc khủng bố đơn phương hoặc nhân danh tổ chức (thế tục hay tôn giáo) diễn ra khắp hành tinh trong những tháng năm qua.
27/06/2015(Xem: 16663)
Qua 4000 năm Văn Hiến của dân tộc thì trên 2000 năm, Phật giáo có mặt, đồng hành cùng dân tộc. Tính từ thời lập quốc họ Hồng Bàng – Kinh Dương Vương tên nước là Xích Quỷ (năm 2879 trước c.n) đến thời nhà Lý vào năm 1010-1225 đã là 4000 năm, đến nay cũng gần 5.000 năm. Từ thời lập quốc ở Trường Giang, bị Hoa tộc lấn dần cho đến Hùng Vương qua 18 đời, đất nước Văn Lang chỉ còn lại Bắc Việt và Bắc Trung Việt ngày nay.Quê hương vốn ở Hồ Động Đình, do Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh 100 con lập quốc. Kinh Dương Vương là con của Đế Minh và Vụ Tiên, là cháu ba đời của Thần Nông, mà Thần Nông là một trong Tam Hoàng thời thượng cổ.Như thế, Lạc Long Quân là con của Kinh Dương Vương, Kinh Dương Vương là họ Hồng Bàng, lấy quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương truyền ngôi cho Lạc Long Quân, Lạc Long Quân truyền cho Hùng Vương, lấy quốc hiệu là Văn Lang. Từ thời kinh Dương Vương lập quốc đến nay, dân tộc trãi qua 11 lần thay danh đổi hiệu:
24/06/2015(Xem: 41152)
Lời vàng của Thầy tôi, một Hướng dẫn vào các sự Chuẩn bị cho Tâm-yếu của Phạm Vi Bao La từ Đại Viên Mãn, trình bày các con đường của bốn trường phái chính của Phật Giáo Tây Tạng mà không có bất kỳ mâu thuẫn nào giữa chúng.
23/06/2015(Xem: 17648)
Câu hỏi: Lý do tại sao Trịnh Hội lại đi học tu? Có phải bị mất phương hướng cuộc đời hay chán cuộc đời nhiều phiền toái?(Than Nguyen ) Trả lời: Xin chào anh Than Nguyen. Có hai lý do chính thưa anh. Thứ nhất vì cách đây 3 năm mình có lời cầu nguyện với chư Phật là nếu cho mình cơ hội làm xong công việc giúp những thuyên nhân Việt Nam cuối cùng tại Thái Lan, mình sẽ xuống tóc để cảm ơn. Thứ hai là, một công hai việc, mình muốn và cần một thời gian tĩnh lặng để xem mình thật sự muốn làm gì trong suốt quãng đời còn lại.
23/06/2015(Xem: 16243)
Hơn hai mươi năm trước, khi đọc được bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế nói về tiếng chuông Chùa Hàn San ở Tô Châu bên Trung Hoa, tôi cứ thắc mắc không hiểu tại sao thơ Đường có không biết bao nhiêu bài thơ tuyệt tác, vậy mà bài thơ chỉ bốn câu này lại gây ra bao nhiêu cuộc bút đàm tốn bao nhiêu giấy mực. Hay tại vì ngôi Chùa ở bến Cô Tô này đã quá nổi tiếng chăng? Nhưng đã ngờ thì phải cố mày mò tìm cho ra lẽ. Tôi tìm đọc thêm những câu chuyện chung quanh quả Đại hồng chung và tiếng chuông Hàn San. Nhiều huyền thoại đọc thật thú vị nhưng sao thấy nó cứ thực thực hư hư! Trong số ấy có một câu chuyện nói rằng, tiếng chuông chùa Hàn San có thể ngân vang rất xa, xa
21/06/2015(Xem: 13899)
Văn phòng Chính phủ Tây Tạng lưu vong, Dharamsala đưa tin – Hội nghị Tôn giáo lần thứ 12 của bốn truyền thống Phật giáo Tây Tạng đã diễn ra vào các ngày 18-20/06/2015 tại Dharamsala miền bắc của bang Himachal Pradesh, Tây Bắc của Ấn Độ.