Thay Đổi Cách Nhìn

19/02/201114:57(Xem: 13294)
Thay Đổi Cách Nhìn

HẠNH PHÚC KHẮP QUANH TA
Nguyên Minh

HẠNH PHÚC VÀ KHỔ ĐAU

THAY ĐỔI CÁCH NHÌN

Mỗi một sự việc xảy ra được chúng ta tiếp cận và đánh giá theo những cách nhìn khác nhau. Và khuynh hướng thông thường nhất là mỗi chúng ta có một cách nhìn của riêng mình. Ta thường không chấp nhận nhìn theo cách của người khác, hoặc thậm chí luôn cho rằng chỉ có cách nhìn của mình mới là đúng đắn.

Nhưng sự thật không phải như thế. Bản thân mỗi sự việc tự nó không mang bất kỳ ý nghĩa nào nếu không có một mối tương quan nhất định đối với chúng ta. Và do đó mà tùy theo sự khác biệt về mối tương quan, sự việc cũng được nhận hiểu theo những cách khác nhau.

Các vị hiền triết ẩn cư của Hy Lạp vào thế kỷ thứ tư thường kể một câu chuyện thú vị để minh họa cho ý nghĩa này. Có một triết gia dạy người học trò của ông trong ba năm liền phải cho tiền bất cứ người nào đến lăng mạ, xúc phạm anh ta. Sau khi người học trò đã nghiêm túc thực hiện chỉ dẫn này qua ba năm, ông liền bảo anh ta đến thành Athens để học hỏi. Khi đến nơi, anh gặp ngay một nhà thông thái đang ngồi ở cổng thành và lớn tiếng lăng mạ tất cả mọi người ở đó. Bước vào cổng thành, người học trò cũng không tránh khỏi bị ông ta lăng mạ, nhưng anh ta chỉ vui vẻ phá lên cười mà đi. Nhà thông thái liền gọi lại hỏi: “Tại sao anh lại cười khi bị ta lăng mạ?” Người học trò trả lời: “Đã ba năm nay, tôi luôn phải trả tiền cho những người lăng mạ tôi, nhưng hôm nay ông đã làm điều đó với tôi mà không đòi hỏi gì.”

Điều thú vị trong câu chuyện là sự việc đã được người học trò nhìn theo một cách hoàn toàn không giống với những người khác, nhờ vào bài tập thực hành kéo dài ba năm của vị thầy. Tất nhiên là chúng ta sẽ không bỏ công để thắc mắc về việc một câu chuyện như thế có thật hay không, nhưng nếu suy nghĩ một chút ta sẽ dễ dàng nhận ra là có vô số những câu chuyện có ý nghĩa tương tự như thế xảy ra quanh ta trong cuộc sống này.

Cùng một sự việc xảy đến cho người này, trong hoàn cảnh này có ý nghĩa tích cực, nhưng khi xảy đến cho một người khác, trong hoàn cảnh khác lại có thể là tiêu cực. Một bác sĩ sau khi chẩn đoán cho bệnh nhân bị bệnh phổi đã đưa ra lời khuyên: “Ông nên hút mỗi ngày chỉ một điếu thuốc thôi, đừng bao giờ nhiều hơn.” Lần tái khám, bệnh nhân than phiền là ho dữ dội hơn cả trước đó. Nguyên nhân là vì trước khi đưa ra lời khuyên, vị bác sĩ đã quên hỏi xem bệnh nhân có hút thuốc hay không. Và trong thực tế thì bệnh nhân vốn là người xưa nay không biết hút thuốc!

Tất nhiên tôi sẽ giấu tên vị bác sĩ, và chắc là bạn cũng không muốn biết. Nhưng câu chuyện khôi hài này thực sự cho chúng ta một minh họa khác về những ý nghĩa không giống nhau của cùng một sự việc.

Khi ta phân tích một sự việc từ nhiều khía cạnh khác nhau, ta sẽ nhận ra một điều thú vị là hầu như bất cứ sự việc nào cũng có những khía cạnh tích cực nhất định của nó. Câu chuyện “Tái ông thất mã” nổi tiếng của người Trung Hoa là một ví dụ rất rõ nét cho nhận xét này.

Một ông già ở vùng biên giới bị mất con ngựa. Hàng xóm đến chia buồn, ông cười nói: Chưa hẳn đã là điều xấu. Ít hôm sau, con ngựa tìm về, hàng xóm đến mừng, ông cười nói: Chưa hẳn đã là điều tốt. Quả thật, mấy ngày sau con trai ông cưỡi con ngựa ấy mà bị ngã gãy chân. Hàng xóm lại đến chia buồn, ông cười nói: Chưa hẳn đã là điều xấu. Thời gian sau có giặc Hồ đánh phá, trai tráng trong làng phải đi lính chết gần hết, con trai ông nhờ có tật ở chân mà khỏi đi lính, được ở nhà phụng dưỡng cha mẹ.

Trong thực tế, việc nhận ra những khía cạnh tích cực của mỗi vấn đề luôn giúp ta giảm nhẹ rất nhiều căng thẳng trong cuộc sống. Điều đó không có nghĩa là ta sẽ thụ động trong việc giải quyết vấn đề, nhưng nó giúp loại trừ những căng thẳng không cần thiết, giúp chúng ta có thể tập trung giải quyết vấn đề một cách hiệu quả hơn.

Nhìn nhận khía cạnh tích cực của vấn đề cũng không phải là một cách tự kỷ ám thị nhằm xoa dịu những khó khăn của hoàn cảnh. Bởi vì chúng ta không hề tưởng tượng ra những mặt tích cực đó, ta chỉ sáng suốt nhận ra bằng vào sự phân tích khách quan, không thiên lệch. Mỗi người chúng ta đều có thể liên hệ thực tế để thấy được điều này.

Lấy ví dụ, những trẻ em sinh ra trong gia đình nghèo khó luôn gặp phải những khó khăn về vật chất. Các em thiếu thốn phương tiện học tập và đôi khi còn phải làm việc vất vả để phụ giúp gia đình, nên thiếu cả thời gian học tập. Tuy vậy, mặt tích cực của vấn đề là chính trong môi trường rèn luyện này mà các em có thể sớm hình thành những nhân cách tốt đẹp, biết tự lập và nỗ lực vượt qua khó khăn. Các em cũng dễ dàng hiểu được và cảm thông với những khó khăn của người khác, nhờ vào việc tự mình đã trải qua hoàn cảnh khó khăn. Chúng ta không nêu ra điều này như một cách để an ủi những người nghèo khó, mà là nêu lên một sự thật vốn có. Trong thực tế, có thể kể ra rất nhiều các bậc vĩ nhân thế giới đã xuất thân từ những môi trường khó khăn, vất vả. Sự thành đạt của họ rõ ràng là không thể phủ nhận yếu tố đóng góp từ sự tôi luyện trong cuộc sống khó khăn.

Khi bạn được chỉ định đi công tác xa, có thể là một bất lợi cho gia đình vì có rất nhiều việc sẽ phải trì hoãn trong suốt thời gian bạn vắng nhà. Nhưng vấn đề có thể có nhiều mặt tích cực khác, chẳng hạn như là một cơ hội để bạn học hỏi và tiếp xúc với nhiều điều mới lạ, hoặc cũng có thể là một dịp để bạn cải thiện điều kiện sức khỏe tốt hơn nhờ được tạm rời xa thành phố náo nhiệt và sống ở miền quê với không khí trong lành...

Không chỉ là các sự kiện, chúng ta cũng nên tiếp cận với những người quanh ta theo cách này. Mỗi người đều có những khía cạnh tích cực nào đó, ngay cả những người mà thoạt nhìn ta có thể đánh giá là người xấu. Một đồng nghiệp tham lam, keo kiệt quả là không tốt chút nào, nhưng rồi một hôm nào đó bạn mới tình cờ phát hiện ra ông ta là một người cha, người chồng lý tưởng, và chính vì lo lắng cho tương lai của các con mà ông đã trở nên một người tham lam, keo kiệt như bạn thấy...

Thường thì khi chúng ta đã có một định kiến xấu về ai đó, chúng ta rất khó nhận ra những mặt tích cực của người ấy. Đây là một khuynh hướng sai lầm, và nó ngăn cản ta thiết lập những mối quan hệ tốt đẹp với người khác. Vì thế, cũng là trở ngại cho chúng ta trên con đường hướng đến một cuộc sống an vui hạnh phúc. Khi chúng ta có thể nhận ra được những khía cạnh tích cực của ai đó một cách khách quan, ta xóa bỏ được những khoảng cách trong việc thiết lập mối quan hệ thân thiết cùng người ấy.

Mặt khác, mỗi vấn đề trong cuộc sống đều có mối tương quan nhất định với những vấn đề khác. Vì thế, ngoài việc xem xét vấn đề từ nhiều khía cạnh khác nhau, chúng ta cũng nên xem xét vấn đề một cách bao quát, trong một toàn cảnh các vấn đề có liên quan. Với cách nhìn nhận này, chúng ta mới có thể đưa ra những đánh giá xác thực và tích cực.

Khi chúng ta gặp phải một khó khăn, rắc rối nào đó, ta thường có khuynh hướng tập trung sự chú ý, lo lắng vào vấn đề. Khuynh hướng này làm ta có cảm giác như vấn đề là rất nghiêm trọng và chỉ có ta là người duy nhất phải chịu đựng. Thật không may là điều đó không có ích gì trong việc đối phó với vấn đề mà chỉ tạo ra cho chúng ta một trạng thái căng thẳng nhiều hơn. Chỉ cần ta nhìn nhận vấn đề trong một toàn cảnh bao quát hơn, ta sẽ thấy ngay là còn có rất nhiều vấn đề khác nghiêm trọng hơn nhiều, và còn có rất nhiều người khác cũng phải đối mặt với những vấn đề tương tự như ta. Ngay khi nhận thức được điều đó, ta sẽ cảm thấy dễ chịu hơn và có thể tập trung năng lực để giải quyết vấn đề một cách hiệu quả hơn.

Việc thay đổi cách nhìn nhận vấn đề từ nhiều khía cạnh khác nhau cũng như cố gắng tìm ra những mặt tích cực của vấn đề tuy không làm cho vấn đề thay đổi, nhưng nó giúp chúng ta tiếp cận với vấn đề theo một cách tích cực hơn và có khả năng đối phó, giải quyết một cách hiệu quả hơn. Tuy nhiên, trong thực tế chúng ta hầu như không thể nhất thời thay đổi ngay mà cần phải thông qua sự học hỏi và rèn luyện kiên trì với thời gian. Rồi chúng ta sẽ dần dần tạo thành thói quen tiếp cận với mọi vấn đề theo phương thức tích cực này.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14369)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20295)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17499)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 15006)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16817)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12809)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11686)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12217)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8142)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9180)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.