Những Chuẩn Mực Tinh Thần

19/02/201114:57(Xem: 15051)
Những Chuẩn Mực Tinh Thần

HẠNH PHÚC KHẮP QUANH TA
Nguyên Minh

CUỘC SỐNG QUANH TA

NHỮNG CHUẨN MỰC TINH THẦN

Sự rèn luyện hay tu dưỡng tinh thần sẽ trở nên cụ thể và dễ dàng hơn nếu chúng ta xác định được những chuẩn mực tinh thần nhất định để tuân theo. Những điều này giống như một thứ kỷ luật tinh thần mà việc tự nguyện tuân theo sẽ giúp chúng ta đạt đến một tâm hồn hoàn thiện hơn. Xuất phát từ những chuẩn mực này, mọi hành vi và tư tưởng của chúng ta sẽ được xác định là có lợi hoặc có hại.

Mặc dù tất cả chúng ta đều mong muốn đạt đến một cuộc sống hạnh phúc, nhưng chúng ta không thể tự nhiên có được điều đó. Chúng ta cần đến sự học hỏi và rèn luyện. Xác định những chuẩn mực tinh thần để tuân theo chính là một trong các phương thức hữu hiệu nhất để giúp chúng ta luôn đi đúng đường mà không sợ lầm lạc.

Chính sự nhầm lẫn giữa những niềm vui hay khoái lạc nhất thời với hạnh phúc chân thật lâu dài là nguyên nhân cơ bản nhất khiến cho chúng ta không đạt đến một cuộc sống an vui thanh thản. Khi chạy theo những niềm vui có được do sự thỏa mãn vật dục, chúng ta không biết rằng điều đó nuôi dưỡng những điều xấu ác trong ta. Những chuẩn mực tinh thần giúp ta phân vạch một cách cụ thể ranh giới giữa điều tốt và điều xấu, việc nên làm và không nên làm, hay nói khác đi là những điều có lợi và những điều có hại.

Trong thực tế, có những mức độ hạnh phúc khác nhau nên cũng có những chuẩn mực tinh thần khác nhau. Để đạt được cuộc sống thanh thản, hoàn toàn thoát tục, các vị tăng sĩ Phật giáo phải tuân theo những chuẩn mực được quy định một cách cụ thể và hệ thống trong giới luật của người xuất gia. Hệ thống giới luật này có thể giúp cho bất cứ ai cũng có thể đạt được một nếp sống giải thoát ngay trong đời này, miễn là người ấy có đủ quyết tâm để kiên trì tuân theo, không phạm vào bất cứ điều gì mà giới luật ngăn cấm. Có thể nói đây là một hệ thống chuẩn mực rất tinh vi, giúp cho người tuân theo nó sẽ chế phục được tất cả mọi hành vi và tư tưởng của mình, ngay cả những cử chỉ thường ngày như đi, đứng, nằm, ngồi như thế nào cũng đều được quy định rõ. Vì thế, việc giữ giới là một phần quan trọng tất yếu không thể thiếu được trong đời sống của một tăng sĩ, và là yếu tố cơ bản để giúp cho vị ấy đạt đến sự giải thoát khỏi mọi ràng buộc thế tục.

Mặt khác, trong đời sống thế tục thông thường của mỗi chúng ta, cũng cần có những chuẩn mực tinh thần để giúp chúng ta chế phục được hành vi và tư tưởng của mình. Nói một cách dễ hiểu hơn, chúng ta cần nhận ra một số những hành vi, tư tưởng nào đó là xấu ác, là có hại cho tinh thần và tự nguyện cam kết sẽ không bao giờ sống buông thả theo những hành vi, tư tưởng đó. Trong thực tế, sự tự chế này giúp ta hướng đến cuộc sống an vui hạnh phúc hơn, và sự buông thả mọi hành vi, tư tưởng tất yếu sẽ dẫn đến những khổ đau chất chồng trong cuộc sống. Bằng cách này, khi chúng ta phân biệt được những điều nên làm và không nên làm, chúng ta hình thành những chuẩn mực tinh thần cho cuộc sống của mình.

Một số chuẩn mực tinh thần được các tôn giáo vạch ra cho tín đồ. Một số các chuẩn mực tinh thần khác được giáo dục cho mọi thành viên trong xã hội thông qua hệ thống giáo dục. Cũng có những chuẩn mực tinh thần do chính chúng ta đạt được bằng vào kinh nghiệm tự thân của mình. Cho dù là thuộc về hệ thống chuẩn mực nào, tính chất nhất quán của tất cả những chuẩn mực được vạch ra là phải giúp kiềm chế những hành vi, tư tưởng xấu ác và phát huy những hành vi, tư tưởng tốt đẹp. Một chuẩn mực tinh thần không đạt được tiêu chí này sẽ không đáng để tuân theo, vì nó không mang lại lợi ích nào cả.

Việc xác định cho chính mình những chuẩn mực tinh thần để tuân theo là một bước khởi đầu tất yếu để chúng ta bước lên con đường hướng đến cuộc sống hạnh phúc. Thông qua việc hoàn thiện dần hệ thống các chuẩn mực của chính mình, chúng ta tác động một cách tích cực vào việc kiểm soát các hành vi, tư tưởng của bản thân, loại trừ được những điều có hại và phát huy những điều có lợi, giúp hoàn thiện tâm hồn ngày một tốt đẹp hơn.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14372)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20296)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17504)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 15013)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16820)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12811)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11687)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12226)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8146)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9182)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.