07-Phá rừng tre gai

01/02/201108:04(Xem: 10276)
07-Phá rừng tre gai


CÀNH LÁ VÔ ƯU
Thích-Thanh-Từ

Phá Rừng Tre Gai

Cuốinăm1992, chúng tôi suy yếu đi Vũng Tàu dưỡng bệnh, ở nhờnhà của một Phật tử. Chủ nhà vì chúng tôi mới xây cấtxong. Nhà nằm trên mảnh đất bằng phẳng, bên cạnh sườnnúi đá, dưới chân là biển cả mênh mông. Gió biển thổivào mát rượi, nang theo mùi mằn mặn của chất muối, thậtlà nơi thích hợp cho người dưỡng bệnh. Rất tiếc phiásau nhà có rừng tre gai mù mịt. Nhiều người tới thăm tôi,thấy rừng tre gai gần nhà đề nghị nên dọn sạch cho khoảngkhoát. Mấy chú và một số cư sĩ nghe đề nghị hợp lý,phát tâm "phá rừng tre gai".

Công việc đầu tiên của các vịấy, đi rèn mấy cái rựa bén, cào sắt và một số lốp xeđạp. Ðủ dụng cụ rồi, họ bắt tay vào việc. Nhưng nhìnrừng tre rậm rạp, gai giương lổm chổm, ai nấy đều ớnda gà. Can đảm xông vào chặt những màng nhện chung quanh gốctre sập xuống, họ lấy cào sắt cào cành lá tre khổ ấpvào gốc. Họ dùng lửa đốt gai gốc lia chia quanh bụi trecháy rụi, bày những thân tre trống trải rất dễ chặt. Saucùng họ cầm rựa tận lực chặt từng cây tre, những câytre non chặt ngọt sớt, song gặp cây tre già là dội tay. Nhữngcây tre sống lâu năm cứng như sắt nguội, họ phải vậndụng hết sức chặt đôi ba nhát mới đứt. Những bụi tređan chằng chịt nhau, tuy chặt đứt gốc mà không dễ gì xôngã. Phải gắng sức tối đa và hợp lực lại, họ lôi kéomới ngã xuống. Mặc dầu ngã xuống, song từng lớp sóng trengập cả khu đất. Cuối cùng họ phải dùng rựa, cào sắt,khó khăn lắm mới dọn dẹp thành từng cụm, từng khóm. Ðợitre khô, họ châm một mũi lửa cháy sạch, chỉ còn sót lạinăm ba cây thân còn tươi bị cháy nham nhở. Ðến đây đãthành một khu đất trống trải phủ trên mặt một lớp trothan. Dụng cụ quan trọng trong công cuộc phá rừng tre gai nàylà rựa bén, cào sắt và lửa. Song có dụng cụ tốt và đầyđủ mà thiếu quyết tâm, nỗ lực và bền chí của con ngườithì không thể nào làm thành công. Nhờ quyết tâm, nỗ lựcbền chí của con người mà rừng tre gai chằng chịt nguy hiểmphải tiêu tan.

Cũng thế, người Phật tử muốndẹp sạch rừng phiền não cần phải có đầy đủ dụng cụvà từng giai đoạn tiến lên mới đạt được cứu cánh giảithoát. Dụng cụ của Phật Tử là kiếm trí tuệ và lửa thiềnđịnh. Từng giai đoạn tiến lên phá dẹp tà kiến và phásạch chấp ngã chấp pháp.

Bát nhã là kiếm trí tuệ, như rựabén. Muốn xông vào phá rừng phiền não, Phật tử phải nhờvào văn tự Bát nhã làm kiếm bén. Căn cứ trên văn tự bátnhã, chúng ta mới nhận ra chân lý, nhân đó dẹp sạch nhữngkiến chấp sai lầm do phong tục tập quán còn để lại vàcác tà kiến tạo nên. Ví như lấy rượu làm lễ nghĩa, nhưkhay trầu rượu, hoặc nói "vô tửu bất thành lễ"; tập quánngười chết linh hồn ở mãi với con cháu ..., tà kiến thờthần cây đa, thờ ông táo, bình vôi ... Muôn ngàn thứ sailầm chằng chịt khó phá, giống như màn nhện tre gai, phảicó cây kiếm trí tuệ chặt đứt từng đoạn rã rời. Thứđến dùng chánh định đốt sạch, như dùng cào sắt gom cànhkhô lá mục vào gốc, châm một mũi lửa cháy tiêu tan.

Kế đó, chúng ta dùng quán chiếuBát nhã chiếu soi năm uẩn sáu trần đều do duyên hợp khôngcó thực thể. Chiếu soi tường tận thấu đáo, chúng ta thấyrõ thân này (ngã) và sự vật chung quanh (pháp) đều khôngcó chủ thể. Nói là ta (ngã) hay vật (pháp) chỉ căn cứ trêngiả tướng hư ảo làm chấp, chớ không có ta thật vật thật.Nhận thấy thấu đáo như thế, mọi chấp ngã chấp pháp đềutan vỡ. Ví như sau khi đốt xong màng nhện tre gai, chúng tadùng rựa bén chặt từng cây ngã gục.

Tuy thế chưa phải là xong, ngườiPhật tử phải tu tiến lên "Thật tướng Bát Nhã". Kinhnói "Bát nhã vô tri, vô sở bất tri". Nghĩa là đếnthật tướng Bát nhã, không còn khởi tâm phân biệt tất cảpháp, nên nói "vô tri"; song thể hằng trong sáng muôn vật đềuhiện bày rõ ràng, nên nói "vô sở bất tri". Như gương sángtrên đài, gương không phân biệt tất cả vật, mà không vậtnào ở trước không hiện bóng trong gương. Vô tri là định,vô sở bất tri là huệ, đến đây thể định huệ viên mãn.Ðược vậy, mọi phiền não thành tro bụi. Như khi những cụmtre khô rang, chỉ cần châm một mũi lửa là cháy sạch trởthành than tro. Thiền sư Huyền Giác nói: "Ðại trượng phubỉnh tuệ kiếm, Bát nhã phong hề kim cang diệm"(Chứngđạo ca). Nghĩa là "Người trượng phu cầm kiếm tuệ, lửakim cang chừ bát nhã bén". Lửa kim cang ở đây là "thậttướng Bát nhã". Ðược thật tướng Bát nhã là sạch phiềnnão, đến bờ thanh lương. Ngài Thái Hư nói: "Ví như cóngười muốn sang sông, trước phải nhờ thuyền bè, kế phảinhờ chèo bơi, sau cùng mới đến bờ kia. Thuyền bè là văntự Bát nhã, chèo bơi là quán chiếu Bát nhã, đến bờ kialà thật tướng Bát nhã". Phá rừng tre gai phải đi từngbước một, phá rừng phiền não, chúng ta cũng phải tiếntừng giai đoạn mới thu nhặt được kết quả nhu nguyện.

Tuy nhiên có văn tự Bát nhã, quánchiếu Bát nhã, thật tướng Bát nhã đầy đủ mà chúng tathiếu quyết tâm, tinh tấn và nhẫn nhục thì tiêu diệt phiềnnão cũng khó thành công.

Người tu Phật thấy thân này mỏngmanh như áng mây, tạm bợ như hòn bọt, quyết tâm hy sinh thântạm bợ (báo thân) đổi lấy thân kim cang bất hoại (phápthân), không có gì phải ngần ngại. Khi đã nhận thấy nhưthế, dù lao mình vào cảnh hiểm nguy vẫn xem như trò chơi.Do đó mới có nhà đại thí chủ cắt đầu tặng vua Kế Tân,chàng dũng sĩ chặt tay dâng tổ Ðạt Ma. Chính cái quyết tâmvong thân ấy, còn rừng phiền não nào mà phá chẳng sạch.

Kế đến phải mãi mãi tinh tấn.Tinh tấn là sức gắng gổ không ngừng. Dù biết là việctốt đáng làm mà không nỗ lực gắng sức thì việc tốtcũng khó thành công. Tinh tấn là chất nhiên liệu của chiếcxe ô tô, nhiên liệu hết thì xe phải dừng. Người ngồi xemuốn xe đến đích phải xem chừng không để cho nhiên liệucạn. Cũng thế, người học đạo giải thoát muốn đạt đạoquả phải nuôi dưỡng sức tinh tấn không cho thiếu vắng.Thiếu tinh tấn người tu sĩ sẽ dẫm chân tại chỗ, hoặcthối lui là khác. Có tinh tấn là có đạo quả và đạt đượcsở nguyện của mình.

Tinh tấn là thiết yếu, song cầnphải có nhẫn nhục phụ trợ thì sự tu hành mới đượcthành công. Vì phiền não vô vàn không thể tính kể được,chúng ta phá lớp này, lớp khác lại hiện ra, nếu không daisức nhẫn chịu thì dễ sanh chán nản rồi thối tâm bồ đề.Phiền não sâu dày như đất, bù tịt như rừng, muốn đàotận đáy, muốn chặt sạch trơn, phải dày công và trải quanhiều tháng năm mới thấy được kết quả. Nhẫn nhục làsức chịu đựng dẻo dai, đón nhận mọi khó khăn trở ngại,với thời gian dài mấy cũng không ngán. Có đủ sức chịuđựng này, dù rừng phiền não có gai góc bao nhiêu, có dàybịt đến đâu cũng bị dẹp tan phá sạch. Người tu Phậtnhắm đến xa thăm thẳm, chướng ngại và hầm hố dẫy đầy,nếu thiếu đức nhẫn nhục thì có đi mà không có đến.

Tóm lại, muốn phá rừng tre gai,chúng ta phải có đầy đủ dụng cụ, cộng thêm quyết tâmnỗ lực và bền chí của con người, rừng tre gai phải tanhoang, biến thành tro bụi. Muốn dẹp sạch trần lao phiềnnão, người tu phải có trí tuệ, thiền định đầy đủ.Trí tuệ, thiền định là pháp tu, cộng thêm quyết tâm, tinhtấn, nhẫn nhục của con người thì "phiền não vô tậnsẽ đoạn sạch" . Người tu là kẻ đối đầu với mavương, là chiến sĩ tảo thanh bọn giặc phiền não. Cho nên,kiếm trí tuệ không rời tay, cung thiền định nằm sẵn trênvai, vừa có bóng dáng kẻ thù xuất hiện, chúng ta liền hànhđộng ngay. Bất cứ lúc nào, nơi nào cũng là bãi chiến trường,chúng ta sẵn sàng ứng chiến hai mươi bốn trên hai mươi bốn(24/24). Có vậy, trận chiến với ma phiền não mới thành côngviên mãn. Bởi chúng là ma, nên sự ẩn hiện của chúng khólường, chúng ta luôn đề cao cảnh giác không một phút giâylơi lỏng, mới mong có ngày "ca khúc khải hoàn".







Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/06/2021(Xem: 10761)
Kể từ khi con người mới bắt đầu xuất hiện trên quả địa cầu nầy. Trong trang nghiêm kiếp của quá khứ, hiền kiếp của hiện tại, hay tinh tú kiếp của tương lai thì sự tu học của chư Tăng Ni và Phật tử vẫn là những điều kiện cần thiết để xiển dương giáo lý Phật đà. Nhằm tiếp nối tinh hoa tuệ giác siêu việt của chư Phật, chư Bồ tát, chư vị Tổ sư đã kinh qua trong suốt nhiều đời, nhiều kiếp mới có được sự kế tục đến ngày hôm nay. Nếu dùng thời gian hiện tại của kiếp nầy, kể từ thời Đức Phật Thích-ca Mâu-ni giáng thế đến nay chỉ trên 2.500 năm, mà chúng ta đã có vô số văn kiện và dữ liệu để tham cứu học hỏi, tu niệm, và cần bàn đến. Gần gũi và trung thực nhất là hai bộ thánh điển Phật giáo của truyền thống Nam và Bắc truyền. Nếu căn cứ theo đó để nghiên cứu thì chúng ta sẽ có một đáp án tương đối chính xác để ghi nhận những giá trị về Văn hóa và Giáo dục xuyên qua nhiều tâm lực và nguyện lực của các bậc tiền nhân.
09/06/2021(Xem: 13095)
NHƯ LỜI GIỚI THIỆU CỦA ARTHUR Zajonc, cuộc gặp gỡ Tâm thức và Đời Sống lần thứ mười đã đưa chúng ta vào một hành trình dài, từ những thành phần đơn giản nhất của vật chất đến sự phức tạp của ý thức con người. Cuốn sách này theo dõi hành trình đó diễn ra trong suốt một tuần trong một căn phòng chật cứng tại tư dinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma trên ngưỡng cửa của dãy Himalaya. Làm thế nào để bắt đầu theo dõi quỹ đạo đầy tham vọng, dường như bao la này? Chúng ta sẽ bắt đầu với tuyên bố mờ đầu thuyết trình của Steven Chu, nhà vật lý đoạt giải Nobel: “Điều quan trọng nhất mà chúng ta biết là thế giới được tạo ra từ các nguyên tử. Đây là quan điểm mà hầu hết các nhà vật lý ngày nay, vào đầu thế kỷ XXI, đồng ý với quan điểm này ”.
09/06/2021(Xem: 13492)
Trong Phật bảo, pháp bảo và Tăng bảo, Chúng con quy y cho đến khi đạt đến giác ngộ. Qua công đức của thực hành sáu ba la mật, Nguyện cho chúng con thành tựu quả Phật vì lợi ích của tất cả chúng sanh.
07/06/2021(Xem: 25890)
Trong mùa an cư kiết hạ năm nay (1984), sau khi đã viết xong quyển "Lễ Nhạc Phật Giáo“, tôi định dịch quyển luận "Đại Thừa Khởi Tín" từ Đại Tạng Kinh, cùng với quý Thầy khác, nhưng không thực hiện được ý định đó. Vì quý Thầy bận nhiều Phật sự phải đi xa. Do đó, tôi đình chỉ việc dịch trên. Sở dĩ như thế, vì tôi nghĩ, tài mình còn non, sức còn kém; đem ý thô sơ, tâm vụng dịch lời kinh Phật chỉ một mình làm sao tránh được những lỗi lầm, thiếu sót. Nếu có nhiều Thầy dịch cùng một lúc, văn ý trong sáng mà lại bổ khuyết cho nhau chỗ thừa, nơi thiếu thì hay hơn; thôi đành phải chờ dịp khác vậy.
07/06/2021(Xem: 27175)
LỜI NÓI ĐẦU Hôm nay là ngày 1 tháng 8 năm 2020, nhằm ngày 12 tháng 6 âm lịch năm Canh Tý, Phật lịch 2564, Phật Đản lần thứ 2644, tại thư phòng Tổ Đình Viên Giác, Hannover, Đức Quốc, tôi bắt đầu viết tác phẩm thứ 68. Hôm nay cũng là ngày có nhiệt độ cao nhất, 32 độ C, trong mùa dịch Covid-19 đang lan truyền khắp nơi trên thế giới. Sau hơn 5 tháng ròng rã, tôi đã đọc qua 8 tập kinh Việt dịch trong Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh, từ tập 195 đến tập 202, thuộc Bộ Sự Vị, được dịch từ 2 tập 53 và 54 của Đại Chánh Tạng.1 Nguyên văn chữ Hán 2 tập này gồm 2.260 trang.2 Bản dịch sang tiếng Việt của 2 tập này là 15.781 trang, chia thành 8 tập như đã nói trên. Như vậy, trung bình cứ mỗi trang chữ Hán dịch ra tiếng Việt khoảng 7 trang.
07/06/2021(Xem: 25899)
LỜI NÓI ĐẦU Hôm nay là ngày 9 tháng 7 năm 2018, trong mùa An Cư Kiết Hạ của năm Mậu Tuất, Phật lịch 2562 này, tôi bắt đầu đặt bút viết tác phẩm thứ 66 của mình sau hơn 45 năm (1974-2018) cầm bút và sau hơn 42 năm ở tại Âu Châu (1977-2018). Những sách của tôi viết bằng tiếng Việt hay dịch từ các ngôn ngữ khác ra Việt ngữ như: Anh, Đức, Hán, Nhật đều đã được in ấn và xuất bản với số lượng ít nhất là 1.000 quyển và có khi lên đến 2.000 quyển hay 5.000 quyển. Vấn đề là độc giả có nắm bắt được bao nhiêu phần trăm ý chính của kinh văn hay của sách dịch lại là một việc khác. Người viết văn, dịch sách cũng giống như con tằm ăn dâu thì phải nhả tơ, đó là bổn phận, còn dệt nên lụa là gấm vóc là chuyện của con người, chứ không phải của con tằm.
05/06/2021(Xem: 12112)
Sự ra đời của Đức Phật Thích Ca theo Thông Bạch Phật Đản Phật Lịch 2565- 2021 có đoạn ghi “Bản nguyện của ngài là gì khi hóa thân đến trần gian này?” Một câu hỏi mang đầy ý nghĩa nhất cần phải khai triển. Sự hóa thân xuống trần này với mục đích mở một kỷ nguyên mới, một kỷ nguyên cho đến ngày nay chưa từng có của loài người, đó là một kỷ nguyên trí tuệ và từ bi. Trước khi đi sâu vào trí tuệ và từ bi, trước hết ta quán chiếu đầu tiên sự xuất hiện bằng cách hóa thân của ngài xuống trần gian này.
03/06/2021(Xem: 10342)
- Kính thưa chư Tôn đức, chư Thiện hữu & quí vị hảo tâm. Vào ngày Chủ Nhật (May 30) vừa qua, được sự cho phép của chính quyền địa phương làng Rampur Village & Katiya Village Bihar India, nhóm Từ thiện Bodhgaya Heart chúng con, chúng tôi đã tiếp tục hành trình cứu trợ thực phẩm cho dân nghèo mùa Dịch covid. Xin mời chư vị xem qua một vài hình ảnh tường trình.. Buổi phát quà cứu trợ cho 363 căn hộ tại 2 ngôi làng cách Bồ đề Đạo Tràng chừng 14 cây số.
03/06/2021(Xem: 6221)
Nghe vẻ nghe ve, Nghe vè họ nói Chuyện người chuyện sói. Sói nói tiếng người
01/06/2021(Xem: 10625)
Tranh chăn trâu Thiền tông gồm mười bức rất nổi tiếng được sáng tạo trong thời nhà Tống (960-1279) và ngay từ đầu đã được xem như những bức họa tiêu biểu trình bày tinh hoa, cốt tủy của Thiền Trung Quốc. Mười bức tranh này là: 1. Tầm ngưu: tìm trâu, 2. Kiến tích: thấy dấu, 3. Kiến ngưu: thấy trâu, 4. Đắc ngưu: được trâu, 5. Mục ngưu: chăn trâu, 6. Kỵ ngưu quy gia: cưỡi trâu về nhà, 7. Vong ngưu tồn nhân: quên trâu còn người, 8. Nhân ngưu câu vong: người trâu đều quên, 9. Phản bản hoàn nguyên: trở về nguồn cội và 10. Nhập triền thùy thủ: thõng tay vào chợ.