Pháp Vô Lậu

19/01/201107:13(Xem: 10887)
Pháp Vô Lậu

TỪ NỤ ĐẾN HOA

(FROM NOVICE TO MASTER
Thiền sư: Soko Morinaga - Biên dịch: Thuần Bạch Ngọc Bảo
Nhà Xuất Bản: Thanh Niên 2007

Phần ba: THIỀN SƯ 

Pháp Vô Lậu 

Kể từ kinh nghiệm đó về cái chết của ông tôi, cũng đã có mấy lần tôi có ý tưởng muốn chết, muốn tự trong đáy lòng. Có lẽ đôi lúc bạn cũng có cảm nghĩ như vậy. Thực ra, có lần tôi đã từng thử uống thuốc quá liều, nhưng tôi tin rằng một cách vô thức, tôi đã giữ liều lượng thuốc đó trong vòng an toàn. Tôi không thể chết được. Có lẽ lý do chính khiến tự thâm tâm tôi ngần ngại không muốn chết là vì kinh nghiệm tôi đã trải qua khi chứng kiến cái chết của ông tôi. Sự cảm nhận về cái chết của tôi, qua kinh nghiệm đó, đã sâu xa tới mức khó thể nào vượt qua được. 

Cái “chết” mà nhiều người biết đến, tuy nhiên, không phải là cái chết tan rã thực sự của thể xác trong tương lai. Thường thì cái chết duy nhất được biết đến là cái chết như trong một phim lịch sử hay một phim kinh dị nào đó mà người ta thưởng thức trong khi nằm dài trên sàn nhà hay trên ghế sofa, ăn kẹo hay những thức ăn lặt vặt khác. 

Tôi xin kể lại một câu chuyện khác, về một người thầy thời tiểu học của tôi, một con người vĩ đại. Suốt từ lớp hai cho đến khi ra trường, các bạn học và tôi đã may mắn được thầy chỉ đạo lớp, và thầy đã có một ảnh hưởng tiên quyết lên trên mỗi người chúng tôi. 

Vài năm trước, để kỷ niệm nửa thế kỷ đã qua từ lúc ra trường, chúng tôi có một buổi hội ngộ. Trong năm mươi học trò thuở trước, hơn mười người đã qua đời, và ba mươi ba người chúng tôi còn lại đã đến thật đông đủ. Chính tôi cũng dẹp bỏ hết mọi việc để đến, vì không muốn bỏ lỡ cơ hội này. Chúng tôi có một buổi tiệc và nghỉ đêm ở một nơi du lịch có suối nước nóng, và tuy rằng có uống rượu saké, nhưng không có ai đề nghị hát karaoke cả. Ngay cả lúc chúng tôi tụ tập quanh người thầy cũ hồi xưa, uống rượu vui chơi, buổi họp mặt này vẫn có vẻ nghiêm túc. Có nhiều thành viên trong nhóm tham vấn với thầy, và cũng có vài người hỏi tôi về đủ thứ vấn đề ảnh hưởng đến đời sống của họ. Buổi họp mặt tái ngộ này hoàn toàn giống như một khóa tu học nhờ ảnh hưởng sâu đậm của thầy đã để lại trên chúng tôi trước nay. 

Thầy là một nhà mô phạm vĩ đại, và từ khi về hưu, thầy cũng vẫn tiếp tục sống một đời gương mẫu trong cộng đồng. Nếp sống cá nhân của thầy cũng không có điều gì đáng chê trách. Mặc dù đã ngoại tám mươi tuổi, trông thầy vẫn khỏe mạnh hơn bất cứ học trò cũ nào của thầy! 

Khi đến lúc tan tiệc, tất cả những người đã quay quần chung quanh thầy để nghe những lời vàng ngọc đều có vẻ không muốn làm phiền thầy hơn nữa, nên rốt cuộc là thầy và tôi đêm ấy được xếp chung một phòng. Chúng tôi để gối bên cạnh nhau, nằm xuống, tắt đèn rồi, bỗng thầy gọi tôi một cách lịch sự, “Morinaga-san”, thêm tiếng … san vào tên đứa học trò cũ của thầy thời xa xưa trước đây. 

“Xin lỗi, tôi thấy tôi điên quá”, thầy nói tiếp, “nhưng dạo sau này tôi đâm ra sợ chết quá, đến nỗi tôi hầu như là cảm thấy rằng giá không được sanh ra lại hơn!” 

Những lời của thầy đập vào tai tôi đã đem lại một ấn tượng không nhỏ. Tôi nhớ lại về trước, suốt tám mươi năm ròng rã thầy đã chuyên cần làm việc như thế nào, và sự thú nhận của thầy làm tôi cảm thấy thật mủi lòng. 

Những con người chúng ta sống một đời sống hữu hạn, hiện thân trong những hình tướng ở thế giới hiện tượng này, và bắt buộc phải chịu sự chi phối của luật nhân quả, luật của nghiệp. Ðiều cơ bản trong giáo lý đạo Phật là hễ có sanh, là có tử; có nỗ lực làm thì mới có kết quả. Tất cả những nghiên cứu khoa học về thiên nhiên và con người cũng đều đặt trên căn bản của luật nhân quả này. Không những vậy, trong đời sống hàng ngày, cả những người ít khi suy nghĩ nghiêm chỉnh đến những vấn đề này cũng cố sống sao để được những cái nhân tốt đem lại kết quả tích cực. 

Tuân theo luật (nhân quả) ấy, một số người đã không ngừng cố gắng tạo lấy nghiệp tốt và cũng được thành công trong sự nỗ lực của họ. Nhưng khi cuối cùng họ trạm chán phải bức tường kiên cố của sinh, lão, bệnh, tử, không có một số lượng tích trữ thiện nghiệp nào có thể giúp họ vượt qua được, và họ sẽ cảm thấy thất vọng vô cùng. 

Một điều tất nhiên là, người nào càng đặc biệt hãnh diện về công việc làm của họ, khi gập sự tấn công ồ ạt của tuổi già -- khiến cho họ không còn làm việc được như từ trước tới nay -- sẽ rất là hãi sợ. Người nào khoe khoang trí thông minh sắc bén phi thường của họ sẽ lo sợ sự suy yếu dần của trí óc. Người nào sống một đời gương mẫu của một thành viên trong xã hội sẽ đặc biệt hãi sợ khi chứng kiến sự hao mòn của năng lực thể chất cũng như tinh thần của họ. 

Như thế, chúng ta không thể mong sống với một tâm an lạc trong những ngày cuối cùng của cuộc đời chỉ bằng những việc công đức mà ta cố gắng tạo nên theo luật nhân quả này. 

Trong giáo pháp của đạo Phật, có đề cập đến sự tồn tại hữu hạn của chúng ta, bị chi phối trong luật nhân quả, và được gọi với danh từ pháp hữu lậu hay pháp hữu vi. Pháp này còn được gọi là Giới của Bẩy Vị Phật bởi vì nó đã được chư Phật ba đời trong thế gian này giảng nói, trong đó có dạy chúng ta nên cố gắng gieo trồng những hạt giống lành trong đời, như vậy sẽ thọ nhận được những phước báo. Một bài kệ nổi tiếng đã tóm lược giáo pháp này như sau: 

Tránh làm điều ác 

Năng làm điều lành 

Giữ tâm thanh tịnh 

Ðó lời Phật dạy. 

Nếu ta thâm cứu và thực hiện pháp tu này, soi chiếu vào bản tâm của mình, điều đó cũng đủ làm cho tâm thanh tịnh và đưa ta vượt qua khỏi một giáo lý chỉ dậy những pháp hữu vi cho một đời sống giới hạn trong hình tướng và nghiệp quả. Thật đáng tiếc là người ta thường diễn dịch giáo pháp này -- gieo nhân tốt, hái quả tốt, gieo nhân xấu, hái quả xấu -- là chỉ áp dụng để thụ đắc những hạnh phúc và thịnh vượng của thế gian. Dĩ nhiên mục tiêu đó trong đời tự nó cũng đã là quan trọng vô cùng, nhưng những công đức hữu vi này không thể đem lại sự an lạc tuyệt đối cho tâm khi trải qua sinh, lão, bệnh, tử. 

Dù bạn có nỗ lực đến thế nào để tạo dựng nên những thành quả mong muốn, một khi tên đã được gọi lên trong sổ bộ Nam tào, tất cả những tích lũy thế gian ấy cũng sẽ bị quét sạch. Cái vòng luân hồi này không chỉ áp dụng cho cõi giới của người mà còn cho tất cả mọi hiện tượng, cái gì cũng phải trải qua một thời kỳ sinh, một thời kỳ trưởng, một thời kỳ suy, và một thời kỳ hủy diệt để trở về với cái Không ban đầu. Trong con người thì đó là sinh, lão, bệnh, tử. Tất cả mọi hiện tượng đều trống rỗng như bọt nước, chợt hiện chợt mất, vô thường, biến đổi. Không có một thực thể cá nhân nào trên đời này có thể giữ nguyên trạng mãi mãi được. 

Ðó là khái niệm Không của Phật pháp, theo tiếng Phạn được gọi là shunyata và tiếng Nhật gọi là mu, và thực trạng của tánh Không này được gọi là Pháp Vô Lậu. Tất cả mọi chúng sinh đều là hữu lậu. Nhưng tánh Không, vốn ở nơi gốc cơ bản của mọi chúng sinh, là vô lậu. Hữu lậu và vô lậu là bất khả phân với nhau, điều đó đã được nói đến trong câu kinh bất hủ của Bát Nhã Tâm Kinh: “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc.” (Sắc chính thực là Không, Không chính thực là Sắc). 

Tuy nhiên, thực tế rất khó mà tự mình thấy rõ ràng được rằng tất cả mọi pháp tự nó đều căn bản là không. Có thể nói rằng, muốn tự giác ngộ được cái Không vốn có này nơi chính mình, ta phải dụng thân mình bằng mọi công phu, với tất cả mồ hôi và nước mắt. 




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/08/2025(Xem: 5079)
Hầu như ngưới Phật tử chúng ta ai ai cũng biết Đại Lễ Vu Lan là một ngày có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống tâm linh của người con Phật. VuLan là mùa báo hiếu, nhắc nhở các thế hệ con cháu nhớ tới công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, ông bà, tổ tiên cũng như những thế hệ người đi trước. Lễ Vu Lan mang giá trị nhân văn, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” ngàn đời..
15/08/2025(Xem: 2973)
David McMahan là giáo sư ngành Nghiên cứu Tôn giáo tại Đại học Franklin & Marshall, Pennsylvania. Trong những năm gần đây, ông đã mang đến cho cộng đồng Nghiên cứu Phật giáo một cái nhìn sâu sắc và tinh tế hơn về sự tái tạo Phật giáo hiện đại. Cuốn sách "Sự hình thành Chủ nghĩa Hiện đại Phật giáo" (Nhà xuất bản Đại học Oxford, 2008) của ông lập luận rằng hiện đại hóa Phật giáo là một nỗ lực hợp tác có ý thức của người châu Á và phương Tây nhằm trang bị cho Phật giáo những công cụ tư tưởng mới để phát triển mạnh mẽ trong thế giới mới mẻ và đầy thách thức của thế kỷ 19 và 20.
14/08/2025(Xem: 6835)
PHƯƠNG TRỜI THANH TỊNH HT Thích Thái Hòa MỤC LỤC SÁU TÍNH CHẤT CỦA TAM BẢO.. 1 ĐIỀU KIỆN THÀNH TỰU GIỚI THỂ VÔ BIỂU CỦA THANH VĂN.. 14 Ý NGHĨA CỤ-TÚC GIỚI 26 NGŨ ẤM XÍ THẠNH KHỔ HAY NGŨ THỦ UẨN KHỔ.. 42 PHÁP THOẠI TƯỞNG NIỆM HÚY NHẬT TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH ĐỨC CHƠN.. 50 AN TOÀN, HẠNH PHÚC VÀ CAO QUÝ CHO NGƯỜI TU.. 62 VÌ SAO CHÚNG TA TU HỌC.. 116 HUẤN TỪ NHÂN NGÀY 20-11-2023. 147
13/08/2025(Xem: 2781)
Báo Anh ngữ Little Bangkok Sangha chuyên về Phật sự ở Bangkok, trong ấn bản tháng 8/2011, đã loan tin rằng nữ diễn giả Tỳ Kheo Ni Ani Zamba sẽ thuyết pháp vào ngày 17/8/2011. Trước đó, Ni sư Ani Zamba cũng đã thuyết pháp tại đây vào tháng 11/2010. Tiểu sử của Ni sư gốc người Anh này cho thấy Ni sư đã có cơ duyên tham học theo rất nhiều truyền thống, trong đó Thái Lan là một chặng đường, nơi Ni sư tới để chữa bệnh và học thiền định.
13/08/2025(Xem: 3768)
Chúng tôi được nghe nhiều mẩu chuyện rất đau lòng về cách cư xử của con cái đối với cha mẹ. Hạng con đã làm điều này vì họ không nghĩ tới công lao dưỡng dục của mẹ cha. Điều đáng nói là trong số họ có cả những người học hành đỗ đạt. Nhóm người này sau khi có gia đình riêng, phần lớn họ không còn nghĩ cha mẹ mình đang sống ra sao.
13/08/2025(Xem: 3356)
Nhân dịp lễ Vu Lan 2025, xin gửi đến bạn đọc xa gần một vần thơ cũ. Thật vậy, thời gian luôn đổi mới, thế nhưng thời gian vẫn là thời gian. Những áng mây cũng vậy, trôi đi không bao giờ trở lại, thế nhưng đôi khi dường như cũng có những áng mây ‘sao trông giống như những áng mây một thuở nào’. Vần thơ này đã được một nghệ sĩ trên quê hương diễn ngâm.
13/08/2025(Xem: 3195)
Trương Hán Siêu là một trong các nhà Nho nổi tiếng chống phá Phật giáo kịch liệt nhất trong lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, ít người biết rằng nhiều năm cuối đời, từ khi còn trong quan trường, cụ Trương Hán Siêu đã trở thành một người sùng mộ Đạo Phật. Lập trường sùng mộ Phật giáo của cụ Trương chưa được ghi rõ ràng vào trang tiểu sử ở Wikipedia, tính tới thời điểm bài này được viết, tức là tuần lễ đầu của tháng 8/2025.
08/08/2025(Xem: 2710)
Bài viết sau đây ký tên tác giả là Sa Môn Tố Liên, đăng trên Báo Đuốc Tuệ, ấn bản tháng 7 năm 1936. Hòa thượng Thích Tố Liên (1903 – 1977), thế danh Nguyễn Thanh Lai, sinh năm Quí Mão (1903), tại tỉnh Hà Đông. Xuất thân trong một gia đình Nho giáo. Ngài xuất gia năm 13 tuổi tại chùa Hương Tích, là đệ tử của Tổ Thanh Tích. Với tính cương trực, năng động, mặc dù được chọn làm trưởng pháp tử kế vị chùa Hương Tích, song Ngài quyết tâm du phương tham học nơi các đạo tràng danh tiếng như Đào Xuyên, Tế Xuyên, Bằng Sở, Vĩnh Nghiêm… và đã từng trú trì ở chùa Côn Sơn, Thanh Mai.
07/08/2025(Xem: 3170)
Tôi tin rằng hôm nay chúng ta sẽ nói về các mối quan hệ và tình yêu, cùng tất cả những điều đó. Và có lẽ tôi không phải là người phù hợp để nói về những điều này. Nhưng mặt khác, tôi có lẽ là người rất phù hợp, bởi vì, ừm, điều này có thể hơi khó nghe đối với một số bạn. Nhưng tôi có rất nhiều vị thầy mà tôi đã được học hỏi. Tôi phải nói rằng, họ thực sự là Đức Phật bằng xương bằng thịt - lòng tốt, lòng từ bi, sự khoan dung của họ, và, trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng, người ta tin rằng vị đạo sư xuất hiện trong nhiều hiện thân khác nhau. Vì vậy, trong bối cảnh này, tôi sẽ nói rằng tôi cũng đã học được một vài điều, một điều gì đó thật quý giá và thức tỉnh từ một cô gái mà tôi yêu say đắm.
07/08/2025(Xem: 2707)
Có những buổi chiều, tôi ngồi bên hiên chùa lặng nhìn ánh hoàng hôn loang trên mái ngói cũ, và tự hỏi: "Giữa bao bộn bề, đâu là ý nghĩa thực sự của đời người?" Con người sinh ra, lớn lên, bươn chải, tranh đấu… Có người thành công, người thất bại, người được yêu thương, người bị lãng quên. Nhưng rồi cuối cùng, ai cũng phải buông bỏ tất cả, trở về với cát bụi.