3. Buông Bỏ Cuộc Đời Này

06/01/201111:08(Xem: 20356)
3. Buông Bỏ Cuộc Đời Này

 

3
BUÔNG BỎ CUỘCĐỜI NÀY

Lama Atishađã trả lời: “Hãy buông bỏ cuộc đời này trong tâm bạn!”

Lama Atisha

LAMA ATISHA,người đầu tiên viết luận giảng Lamrim với tựa đề Ngọn đèn Soi đường đến Giácngộ, là một tôn giả vĩ đại với kiến thức và thực chứng vô lượng, người giúp phổbiến Pháp hết sức sâu rộng.Ngài đã thành tựu ngũ minh (năm tri thức-ND) thểhiện trí huệ siêu việt, thiền định nhất tâm và luôn được nhiều hộ pháp bổn tônhộ trì. Ngài xây rất nhiều chùa, tu viện ở Ấn Độ, Tây Tạng và Nepal. Ngài thọbảy mươi hai tuổi (từ năm 982 đến năm 1054) trong đó có 17 năm ở TâyTạng.

Nhờ lòng tử tếcủa Ngài Lama Atisha khi viết Ngọn đèn Soi đường đến Giác ngộ mà giờ đâynhữngai đã gặp Lamrim sẽ không thể nhầm lẫn và biết mình bắt đầu ở đâu trên đường đạotừng bước đến giác ngộ. Những ai chưa gặp Lamrim sẽ không biết bắt đầu tu tậptừ chỗ nào. Dù một người đã nghiên cứu rất nhiều kinh luận nhưng nếu bạnhỏi họ“ông bắt đầu tu tập như thế nào?” thì họ không biết làm sao trả lời. Và nếu cótrả lời thì sẽ lầm lẫn trước thành sau, họ sẽ nói những phép tu tập ở khoảnggiữa trước khi bàn tới bước khởi đầu của đường đạo.

Chúng ta rất ưmay mắn, vì khi viết Ngọn đèn Soi đường đến Giác ngộ, Ngài Atisha đã hợpnhấtđược toàn bộ các con đường Kinh thừa và Tantra thừa của Đức Phật - Tiểu thừa, Đạithừa, Tantra thừa. Từ đó Ngài soạn thành một đường đạo trọn vẹn, một phép tutừng bước, và ai thực hành đều có thể đạt tới giác ngộ. Về phương diện giáo lý,luận giảng trình bày mọi việc rất rõ ràng, vấn đề duy nhất là, chúng ta khôngchịu tu tập.

Lama Atisha cónhiều học trò nổi tiếng : những người nổi tiếng ở Ấn Độ như tôn giả Bhumisara vàVua Mahapali, và ở Tây tạng, ngoài trưởng tử tâm linh là Dromtonpa còn có ba vịGeshe Kadampa: Gonpawa, Naljor Chaktri Chok và Jangchub Rinchen. Còn có nhiềuhọc trò khác nữa chẳng hạn như cháu trai của Vua Yeshe Od là Jangchub Od,Rinchen Zangpo, và Lotsawa Nagtso. Ngay cả những đệ tử của Lama Atisha cũng cóđược phẩm tính vô lượng như đã đề cập trong tiểu sử của họ.

Khi Lama Atishasắp qua đời, Geshe Naljor Chaktri Chok có nói với ngài: “Sau khi thầy qua đờicon sẽ hiến trọn đời mình cho thiền định”. Lama Atisha trả lời: “Hãy nêntừ bỏ tấtcả việc gì được coi là hành vi xấu”. Lama Atisha đã không nói rằng thiềnlàtốt, ngài không nói: “Ô! vâng, như vậy là tốt” thay vào đó, ngài nói “Hãy buôngbỏ việc gì được coi là hành vi xấu”.

Rồi NaljorChaktri Chok nói tiếp với Lama Atisha: “Thôi được, con sẽ thỉnh thoảng giảngPháp, thỉnh thoảng thiền định”. Lại lần nữa Lama Atisha lập lại câu trả lời nhưlần trước. Naljor Chaktri Chok suy nghĩ thêm rồi nói ra một đề xuất khác. Nhưngdù Naljor có nói gì, Lama Atisha vẫn giữ nguyên câu trả lời cũ. Cuối cùngNaljor Chaktri Chok hỏi: “Vậy con phải nên làm gì?” Lama Atisha đáp: “Hãy buôngbỏ cuộc đời này trong tâm”.

Khắc ghi lờidạy này trong lòng, Naljor Chaktri Chok đã vào rừng bách xù gần Tu việnReting, sống không khác gì một con thú ở trong rừng. Ở đây không đề cập đến tâmcủa ông ta – chỉ nói tới thân. Ông ta sống cô độc, không gặp ai cả và qua đời ởđó.

Dromtonpa

Dromtonpa làngười phiên dịch của Lama Atisha; Ngài sinh ra ở phía Bắc Lhasa, rất gầnvớiTolung, nơi sinh của Lama Yeshe. Đây là một nơi thiêng liêng ở đó Lama TsongKhapa đã thấy được Guhyasamaja và Mahakala. Và trong thời gian hành hương đếnTây tạng năm 1987 tôi (Lama Zopa Rinpoche) đã ban lễ quán đảnh Quán Thế Âm BồTát ở đó. Đây cũng là nơi các tu sĩ của Trường Cao đẳng Tantra sơ cấp học giáolý gốc tantra do tu viện trưởng dạy, học hát tụng lời cầu nguyện, và dự các kỳthi. Dường như Dromtonpa đã sinh ra rất gần nơi đó.

Đức Tara đã tiên đoán việc ra đời của Dromtonpa, Ngài là hiệnthân của Quán Thế Âm Bồ Tát. Đức Tara tiên đoán Dromtonpa sẽ là người nắm giữPhật Pháp, tâm thiêng liêng của ngài sở hữu vô hạn năng lực hiểu biết Kinh điểncùng những thực chứng và Ngài linh kiến (thấy) được các hộ pháp bổn tôn với sốlượng không thể nghĩ bàn.

Trước khi đếnvùng Trung Tây tạng và trở thành người phiên dịch cho Lama Atisha, Dromtonpa đãsống ở vùng Kham, làm thị giả cho Lama Setsuen. Sau khi gặp Lama Atisha,Dromtonpa đã hỏi Ngài điều gì là phép tu tốt nhất trong số những thực hành màbản thân (Dromtonpa) đã làm. Dromtonpa đã kể cho Lama Atisha nghe về những phépthực hành của mình. Ngài cũng nói ra những nỗi cực nhọc khi phục dịch cho LamaSetsuen. Ban đêm Ngài phải mang vũ khí canh chừng đàn gia súc. Ban ngày Ngàiphải làm việc quần quật suốt ngày. Ngài đốt các đống lửa. Ngài đưa lưng để chobà vợ của Lama Setsuen ngồi lên vắt sữa. Có những lúc vừa mang vật nặng trênlưng, tay vừa xe dây thừng bằng lông gia súc, chân vừa đạp vừa phết bơlên tấm da súc khô để làm cho nó mềm đi. Trong nhiều năm Ngài đã làm việc nhưthế – nhiều việc cùng một lúc. Dromtonpa kể cho Lama Atisha biết mọi sự.LamaAtisha nói: “Trong số những điều ông đã làm thì những việc cực nhọc mà ông phụcdịch cho Lama Setsuen mới là Pháp thực sự”.

Dromtonpa chânthành dâng hiến cuộc đời cho Lama Atisha trong suốt mười bảy năm ròng. Từ lúcgặp Lama Atisha, Dromtonpa luôn luôn ở bên cạnh thầy. Hằng đêm ngài thắpđèn bơ dâng cho thầy, để thầy khỏi bị tối.

Dòng truyềnthừa của các Geshe Kadampa bắt đầu từ Dromtonpa. Ngài có nhiều đệ tử, trong đócó ba vị xuất sắc nhất, thường được biết là ba đệ tử chính; đó là Geshe Potowa,Geshe Chen-ngawa và Geshe Puchungwa; họ là những người nắm giữ Phật Phápvới vôlượng thực chứng .Sau khi thành lập Tu viện Reting vào năm 1057, Dromtonpa sốngthêm bảy năm nữa, tổng cộng ngài sống được năm mươi mốt tuổi.

Dromtonpa khôngphải là một tu sĩ mà là cư sĩ giữ năm giới nguyện. Khi quán tưởng các vịLamatruyền thừa của Lamrim, bạn hãy quán Dromtonpa là một người dân du mục Tâytạng, mặc áo chupa dày màu xanh làm bằng tấm da súc.

Dromtonpa luônluôn mặc quần áo cũ rách. Đôi khi ngài khoát vội lên người chiếc áo chuba khôngcó tay áo, rồi đi vào rừng bách xù. Cắm hai hay ba cái cọc vào nhau rồi choàngmột tấm đan bằng lông thú lên, như các dân du mục Tây tạng thường làm, Dromtonpangồi thiền định trong một chỗ nhỏ như vậy. Khi đi xuyên qua rừng, Dromtonpathỉnh thoảng trì tụng đoạn văn ngắn trích từ Bức thư gửi Bạn của Ngài LongThọ:

Được, mất,sướng, khổ, khen, chê, vinh, nhục những bát phong này không phải là chuyện củatâm tôi. Tất cả bát phong đó đối với tôi là giống nhau.

Ngài cũng trìtụng một đoạn trong quyển Bồ Tát Hạnh như sau: “Tôi là người đi tìm giảithoát.Tôi không muốn bị ràng buộc với việc thọ nhận sự cúng dường hay sự tôn kính”. Đôikhi ngài trì tụng cả đoạn, đôi khi ngài chỉ đọc câu đầu của đoạn văn. Trong khiđọc, ngài thường lắc đầu ; ý muốn diễn tả rằng ngài chẳng cần nhận vật dụng haynhận sự tôn kính nào cả.

Các GesheKadampa thường nói: “Đối với bản thân, Dromtonpa không cần sống một cuộcsốngkhổ hạnh, nhưng sở dĩ ngài làm vậy là để các đệ tử noi theo”.

Dromtonpa,người đã buông bỏ mọi hoạt động đời thường của thế gian, có lần được mờiđếnmột nơi có tên là Rong để cử hành lễ cúng dường Puja cho các tu sĩ. Ngàigọi PelgyeWangchuk là đệ tử của ngài đến và nói: “Lần này con đi. Ta không thể đi được.Ta ngồi ở đây, cố gắng buông bỏ cuộc đời này.”

Vào một ngày nọcó tu sĩ đi nhiễu vòng quanh tu viện, Dromtonpa gọi ông ta đến và nói: “Đinhiễu là tốt, nhưng thực hành Pháp thì tốt hơn”. Vị tu sĩ khi nghe vậy nghĩrằng: “Có thể lễ lạy tốt hơn”.

Khi thấy vị tusĩ lễ lạy, Dromtonpa lại nói: “Lễ lạy thì tốt nhưng thực hành Pháp thì tốthơn”. Sau đó, khi vị tu sĩ trì tụng lời cầu nguyện và thiền định, Dromtonpa lạinói câu đó lần nữa. Cuối cùng tu sĩ hỏi: “Vậy con nên làm gì?” Dromtonpalậplại ba lần: “Hãy buông bỏ cuộc đời này trong tâm ông. Hãy buông bỏ cuộc đời nàytrong tâm ông. Hãy buông bỏ cuộc đời này trong tâm ông.”

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/07/2011(Xem: 19318)
Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn của Đại Sư Thật Hiền, Thật Hiền tôi là kẻ phàm phu Tăng bất tiếu ngu hèn, khóc ra lệ máu cúi đầu kính lạy, đau buồn khẩn thiết thưa với chư đại chúng hiện tiền, cùng với chư thiện nam tín nữ có đức tin trong sạch trong hiện đời. Cúi mong quý vị thương xót, lưu ý một chút mà nghe và xét cho.
27/07/2011(Xem: 15619)
Hỏi: Tại sao đạo Phật lại đề xướng ăn chay? Đáp:Người ăn chay thì dục niệm nhẹ. Kẻ ăn mặn thì dục niệm nặng nề. Có tôn giáo cho rằng động vật được sanh ra là để cho loài người ăn, cho nên ăn mặn là một việc hợp lý trời đất. Song le, Phật Giáo đề xướng tinh thần "mọi vật đều cùng một thể, đó gọi là Đại Bi," và xem mọi loài chúng sanh đều có Phật-tánh, đều sẽ thành Phật; cho nên chủ trương giới sát, phóng sanh.
27/07/2011(Xem: 19329)
Mỗi người đều có nhân quả báo ứng của riêng mình. Hễ tạo nghiệp gì thì chịu quả báo đó. Không những chỉ có loài người là phải chịu quả báo mà tất cả chúng sanh cũng vậy; tạo nghiệp từ xưa, ngày nay gặt quả. Điều đó không dễ hiểu đâu. Ví như bị đọa làm súc sinh hoặc ở nơi ác đạo thì rất khó khôi phục lại thân người; nên nói rằng:
26/07/2011(Xem: 15679)
Quyển “MỚI VÀO CỔNG CHÙA” ra đời trước, chúng tôi hướng dẫn độc giả vừa mới làm quen với mùi tương dưa, còn ngỡ ngàng khi bước chân vào cổng chùa. Đến quyển “VÀO CỔNG CHÙA”, chúng tôi nhắm đến những độc giả đã quen thuộc với những chiếc mái vốn cong, từng nghe tiếng mộc ngư nhịp đều buổi tối và tiếng chày kình ngân nga buổi khuya. Tuy nhiên vẫn còn là khách thấy nghe thân cận nhà chùa, chưa phải là người sống trong chùa.
24/07/2011(Xem: 17686)
Ngày nay, việc tổ chức đám cưới tại chùa có lẽ không mấy ai còn cho là lạ, nhưng đây là điều đã được mong muốn từ nửa thế kỷ trước, mà Ni trưởng trụ trì chùa Phước Hải hiện nay – ngày đó là sư cô Tịnh Nguyện, là một trong những vị tu sĩ mở đầu cho truyền thống tốt đẹp này. Một số người vẫn hình dung nhà thờ là nơi để tổ chức đám cưới với tiếng đàn Organ sang trọng, âm vang dưới mái vòm trang nghiêm phủ xuống cô dâu chú rể. Còn nhà chùa chỉ là nơi tổ chức đám tang, với những “vãng sanh đường” leo lét ánh nến, nhang khói mờ mờ, âm âm tiếng mõ trầm buồn.
22/07/2011(Xem: 15175)
Bạn bè là sự thể hiện sinh động cho mối quan hệ đặc thù giữa người với người. Mối quan hệ đó được thiết lập căn bản trên sự đồng đẳng hoặc bất đồng đẳng về giới tính, tuổi tác, chí nguyện, đam mê, sở thích,… là tiêu chí quan trọng để khẳng định nhân cách hoặc quan điểm sống của một con người. Với Phật giáo, sống là sống với. Do đó, bạn bè là một thuộc tính riêng có của các loài chúng sanh nói chung và của con người nói riêng, và là một trong những nhân tố quan trọng, có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực lên bối cảnh sống cũng như khả năng thăng hoa tâm linh của một con người. Sống phải có bạn bè. Không có bạn bè, được xem là một trong năm điều bất hạnh đã được Đức Phật cảnh báo(1).
22/07/2011(Xem: 11878)
Bên cạnh sự ảnh hưởng trực tiếp của gia đình, trong cuộc sống chúng ta, mối tương giao với bạn bè cũng đóng vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của mình. Trong mối quen biết ngoài xã hội, hay trong đoàn thể cùng sống chung, ta có nhiều loại bạn hữu; nhưng tìm được người bạn tốt, chân thật hiểu được ta, để có thể chia sẻ tâm tư là điều khó, huống chi là hỗ trợ ta vượt qua những khó khăn trong đời sống thì càng khó gấp bội phần.
22/07/2011(Xem: 13579)
Suốt ngàn năm bị nội thuộc Trung Quốc dân tộc Việt không ngừng nỗi dậy đấu tranh giành lại quyền độc lập, tự chủ. Năm 968 (Mậu Thân) Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên nạn cát cứ 12 sứ quân, thống nhất non sông xưng là Đại Thắng Minh hoàng đế. Nhà Đinh đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình), lập nên triều đại quân chủ đầu tiên của nước Đại Việt.
22/07/2011(Xem: 14312)
Có những biện giải Phật học mà đôi khi ý nghĩa thực tiển vượt thoát khỏi cái võ ngôn từ. Đó là khi hiện thực nương gá vào sự biện giải đó bị biến dạng theo lịch sử, thời gian. Gần gũi hơn, có những phạm trù, khái niệm mà khi vận dụng, ta vô tình quên mất nghĩa gốc ban đầu của chúng. Vấn dề Phật sự là một trường hợp như vậy.
16/07/2011(Xem: 13572)
Lúc này chúng ta hãy quan sát điều gì đang thực sự xảy ra trong thế giới; có bạo lực thuộc mọi loại; không chỉ phía bên ngoài mà còn cả trong sự liên hệ lẫn nhau của chúng ta.