1. Dẫn nhập

05/01/201116:42(Xem: 15881)
1. Dẫn nhập

Đức Đạt Lai Lạt Ma
TU TUỆ
Bản tiếng Anh: Practicing Wisdom - Nhà xuất bản Wisdom
Bản tiếng Pháp: Pratique de la Sagesse - Nhà xuất bản Presses du Châtelet
Bản dịch Việt ngữ: Hoang Phong - Nhà xuất bản Phương Đông TP. Hồ Chí Minh 2008

1
Dẫnnhập

Pháthuy một động lực tinh khiết

Suốttrong quyển sách này, với tư cách một người thầy tinh thần,tôi sẽ cố gắng phát huy trong tôi sự thúc đẩy tinh khiếtnhất mà tôi có thể làm được vì lợi ích của chính quývị, tức những người đọc quyển sách này. Về phần quývị cũng thế, đến gần với những lời giảng huấn bằngtấm lòng thiện cảm và một tâm ý tích cực là một điềuhệ trọng.

Đốivới quý vị độc giả nào là những Phật tử trung kiên,mang hoài bảo đạt đến sự Tỉnh thức tối thượng, thậtlà hệ trọng nếu quý vị biết liên tục cố gắng tìm cáchtrở thành những con người thiện cảm và nhiệt tình. Chủđích đó sẽ đem đến cho những cố gắng của quý vị mộtý nghĩa, giúp quý vị tích lũy được những điều xứng đángđể tạo ra chung quanh quý vị một sức mạnh tích cực. Vìvậy, trong lúc chuẩn bị để đọc quyển sách này, quý vịhãy nương tựa vào ba Vật báu (4) và xác định trở lạimột cách minh bạch lòng thương người của quý vị, quyếttâm của quý vị đạt đến Giác ngộ hoàn hảo vì sự tốtlành của tất cả chúng sinh. Không quy y Tam bảo, cách tu tậpcủa quý vị sẽ không phải là tu tập Phật giáo. Thiếu ướcvọng thương người, quyết tâm đạt được thể dạng củaPhật vì lợi tha, hành vị của quý vị sẽ không thể xemlà hành vi của một môn đệ Đại thừa.

Nếuquý vị nào, trong số nhũng người đọc của tôi, không phảilà những người Phật giáo chuyên cần, xin quý vị ít nhấtcũng nên có một chút quan tâm thật sự về đạo Phật. Sựkiện quý vị theo một truyền thống tôn giáo khác, Thiên chúagiáo chẳng hạn, điều đó cũng không cấm cản quý vị cảmthấy liên hệ đến một vài khía cạnh nào đó về phươngpháp và kỷ thuật của những người Phật giáo xử dụngđể cải thiện tâm linh của họ. Nếu quý vị thuộc vàotrường hợp này, quý vị cũng nên cố gắng chấp nhận mộtthái độ thiện cảm và sự thúc đẩy tích cực trong khi quývị chuẩn bị đọc quyển sách này. Nếu như một vàiphương pháp hoặc kỹ thuật nào mà quý vị thấy có thểghép thêm vào đời sống tinh thần của quý vị, thì quý vịcũng đừng do dự. Nếu như không làm được như thế, tốthơn xin quý vị hãy xếp quyển sách này lại, một cách thậtđơn giản.

Chínhtôi đây, tôi cũng chỉ đơn giản là một nhà sư Phật giáo,ngưỡng mộ và cảm ứng sâu xa trước những lời giáo huấncủa Phật, và đặc biệt trước những người đã thực hiệnđược lòng Từ bi và thấu hiểu về bản thể sâu kín củahiện thực. Tuy không hề có một chút xíu kiêu hãnh nào trongtư thế đứng ra trình bày những lời giáo huấn phong phúvề tinh thần này, nhưng ít ra tôi cũng phải cố gắng làmnhững gì tôi có thể làm được để nhận lấy trọng tráchcủa lịch sử đặt lên vai tôi trong công tác chia xẻ nhữnglời bình giải cá nhân của tôi về những lời giáo huấnnày với một số người càng đông càng tốt.

Cácngười đọc của tôi, nhiều vị cũng có thể mang hoài bảomuốn cải thiện tâm linh mình. Dù rằng người giảng huấncũng cần phải đủ sức nắm vững hoàn toàn những chủ đềđưa ra giảng dạy, mặc dù thế, về phần tôi, tôi cũng khônggiám tự cho mình đã hiểu biết đầy đủ và toàn diện vềnhững chủ đề mà chúng Ta-bàn thảo với nhau hôm nay. Tuynhiên, văn bản mà chúng ta sẽ nghiên cứu liên hệ chính yếuđến học thuyết về Tánh không, một học thuyết mà tôingưỡng mộ hết sức sâu xa, còn hơn thế nữa có thể nóilà một sự ràng buộc tình cảm, vì mỗi lần có dịp làtôi tìm cách suy tư về học thuyết đó. Theo kinh nghiệm hạnhẹp của tôi – ít ra tôi cũng tự cho phép tin là tôi đãđạt được cái kinh nghiệm ấy – chủ thuyết về Tánh khônglà một triết thuyết sinh động, và một khi nắm vững đượctriết thuyết ấy ta sẽ gặt hái được nhiều kết quả.Vì thế tôi nghĩ rằng đó là phẩm tính duy nhất mà tôi đãđạt được, giúp cho tôi dựa vào đó để thuyết giảngvề văn bản của Tịch Thiên.

Trínăng và lòng tin

Khiquý vị quan tâm sâu xa về Phật giáo và quý vị nhất địnhbước vào con đường tu tập tâm linh để khám phá sự phongphú trong những lời giảng huấn của Phật, hoặc trong trườnghợp ngược lại quý vị chỉ mới khởi sự chú ý đến vấnđề này cũng thế, trong cả hai trường hợp quý vị đừngbao giờ để bị mù quáng bằng một thứ đức tin duy nhất– đừng xài hết tiền mặt cho một đức tin đơn thuần.Nếu quý vị bị lôi cuốn vào đó, quý vị có thể gặp nguycơ đánh mất khả năng lý luận của quý vị. Đối tượngcủa đức tin và lòng mộ đạo phải được khám phá bằngnhững kinh nghiệm cá nhân, có nghĩa là bằng khả năng lýluận. Nếu sự khảo sát ấy đưa đến một sự tin tưởngsâu xa, đức tin của quý vị sẽ được nẩy nở. Sự tựtin và đức tin nếu dựa trên lý trí sẽ luôn luôn vững chắcvà có thể tin tưởng được ; nếu ta không xây dựng lòngtin bằng cách vận dụng trí thông minh, thì ta sẽ không cònbiết phải dựa vào những cơ sở nào vững chắc hơn đểxây dựng lòng tin nơi những lời giáo huấn của Phật.

Họchỏi để mở rộng tầm hiểu biết cá nhân của ta về nhữnglời giảng huấn của Phật quả thật là một điều hệ trọng.Long Thọ (Nagarjuna) (5), một vị thầy người Ấn thuộc thếkỷ thứ II, xác nhận rằng đức tin và trí thông minh, cảhai đều là những yếu tố cần thiết cho sự triển khai tinhthần, và đức tin còn có thể được xem trội hơn, như làmột nền móng căn bản vậy. Tuy nhiên, Long Thọ cũng phátbiểu thêm rằng đức tin chỉ đủ sức hướng dẫn sự thăngtiến tinh thần của ta khi nào nó được hổ trợ bởi tríthông minh, trí thông minh là phương tiện giúp ta đủ sứcnhận ra con đường phải theo và trau dồi sự hiểu biết sâuxa. Dù sao, ta không thể để sự quán nhận đơn thuần dừnglại ở cấp bậc hiểu biết và trí thông minh, như thế chưađủ ; nó còn phải thâm nhập vào tim ta và tâm thức ta đểcó thể ảnh hưởng trực tiếp đến những hành vi của ta.Nói cách khác, là nghiên cứu đơn thuần trên mặt trí năngvề Phật giáo sẽ không đưa đến một tác dụng nào trênthái độ và cách cư xử của ta trong cuộc sống.

Vănbản cội rễ

Đốivới Phật giáo Tây tạng, các văn bản cội rễ là các kinhđiển sou-tra và tan-tra, ghi chép lại những lời giáo huấnđích thực của Phật. Ngoài số kinh điển ấy còn phải kểđến các bộ sách Tengyour, đó là kho tàng mênh mông gồm cáctrước tác của các học giả lỗi lạc người Ấn, và hàngngàn những tập sách bình giải do các đại sư thuộc bốntrường phái Phật giáo Tây tạng biên soạn. Văn bản làmnòng cốt cho bài thuyết giảng này mang tựa đề « Sự hiểubiết siêu nhiên » thuộc vào chương IX của tập sách Hànhtrình đến Giác ngộ (Bodhicaryavatara), do một đại sư ngườiẤn là Tịch Thiên thuyết giảng vào thế kỷ thứ VIII.

Tôiđược thụ giáo về văn bản này qua ngài Khounou Rinpoché -Tenzin Gyalsen, ông là một Đại thiền sư và một bậc thầyvề tâm linh đã quá cố. Ông đã dốc lòng tu tập để thựchiện tâm linh Giác ngộ, dựa vào văn bản của Tịch Thiên,và chính ông, ông cũng đã được thụ giáo về văn bản nàyqua một vị Đại sư lừng danh khác là Djé Patrul Rinpoché.

Tôibình giảng tập luận Hành trình đến Giác ngộ dựa vào haicách bình giải trong số những lời bình giải vừa kể trênđây. Cách thứ nhất của Khentchen Kunzang Palden xử dụng thuậtngữ riêng của Ninh-mã phái (Cựu học phái) ; cách thứ haicủa Myniak Kunzang Seunam – vị này tuy là học trò của PatrulRinpoché nhưng lại đứng về phía trường phái Guélougpa –xử dụng thuật ngữ giảng giải của trường phái này. Trongphần thuyết trình của tôi, tôi sẽ trình bày những khácbiệt trong cả hai cách biện giải của hai học giả chuyêngia đó. Ta hãy sẽ xem kết quả biến chuyển như thế nào!



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/03/2021(Xem: 7220)
Dharamshala: Danh sách tham gia ngày càng tăng, bởi các nhà lãnh đạo thế giới đã được tiêm vaccine COVID-19, vào đầu giờ hành chính ngày 6 tháng 3 vừa qua, Đức Đạt Lai Lạt Ma tiêm liều vaccine COVID-19 đầu tiên tại Bệnh viện Zonal, Dharamshala, H.P., Ấn Độ. Sau khi tiêm liều vaccine COVID-19, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã kêu gọi tất cả những người đủ điều kiện, đặc biệt là ‘bệnh nhân bị nhiễm covid-19’ hãy vì lợi ích chung cho xã hội, nhanh chóng đăng ký tiêm liều vaccine COVID-19. “Điều này rất quan trọng, vì vậy tôi đã thực hiện việc tiêm vaccine COVID-19, tôi muốn chia sẻ nhiều người nên đã can đảm để thực hiện tiêm liều vaccine COVID-19 đầu tiên tại Bệnh viện Zonal.
07/03/2021(Xem: 12873)
Huế, cố đô một thời, là thành phố nhỏ bé như vậy mà lại có nhiều chùa nhất so với các miền khác trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Bởi, nơi đây có chiều dài lịch sử lập quốc của nhà Nguyễn từ khi người đầu tiên khai mở là Nguyễn Hoàng, muốn tránh sự sát hại của người anh rể là Trịnh Kiểm nên xin đi xa vào Nam để khai khẩn đất hoang theo sự vấn kế của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua câu phán: “ Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân.“ Và, Chùa Thiên Mụ danh Tự có từ đó. Đứng đầu bảng trong 10 ngôi chùa nổi tiếng tại Huế.
07/03/2021(Xem: 8043)
“Ai thấy Pháp người ấy thấy Ta, ai thấy Ta người ấy thấy Pháp”. Đây là lời dạy của đức Phật dành cho tỷ-kheo Vakkali. Lời dạy này được ghi lại trong Kinh Tiểu Bộ và Kinh Tương Ưng; do Hòa thượng Minh Châu dịch từ tiếng Pàli sang tiếng Việt. Trước khi tìm hiểu lời dạy trên của đức Phật, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về ngài Vakkali một chút.
06/03/2021(Xem: 7352)
Kính bạch Thầy nhân ngày phụ nữ sắp tới và còn trong tháng giêng, con chợt nghe bài hát này , nhớ đến trong bài pháp thoại Thầy kể về cụ bà Tâm Thái . Kính dâng bài thơ này đến Cụ Bà Tâm Thái và những bà mẹ từ thôn quê đến thị thành nhân ngày phụ nữ . Kính, HH Lễ hội 8/3 ngày phụ nữ bình đẳng ! Những bà mẹ quê ....từ sáng tinh mơ, Có khi nào nghĩ đến quyền lợi bao giờ. Sáng chiều vất vã hy sinh trong lặng lẽ !
27/02/2021(Xem: 11679)
Myanmar, đất nước chùa tháp, đang khổ đau. Hưởng ứng lời hiệu triệu kêu gọi của chư tôn tịnh đức tăng già Phật giáo “vì dân, do dân và của dân”, hàng triệu người dân trong mọi tầng lớp đã đổ ra đường phố ở các thị trấn và thành phố trên khắp đất nước Phật giáo Myanmar để phản đối cuộc đảo chính của chế độ độc tài quân sự Myanmar, đã lật đổ Chính phủ dân cử của nhà vô địch dân chủ kỳ cựu, nữ cư sĩ Phật tử Aung San Suu Kyi, Cố vấn nhà nước Myanmar, Chủ tịch và Tổng Bí thư Đảng Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (NLD) vào ngày 1 tháng 2 vừa qua.
25/02/2021(Xem: 15780)
Phần này bàn về cụm danh từ "khoa học" trong tiếng Việt từ thời bình minh của chữ quốc ngữ đến nay. Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "The Emergence of the Modern Sino-Japnese Lexicon – Seven Studies" (chủ biên/dịch giả Joshua A. Fogel – NXB Brill – Leiden/London 2015), và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
25/02/2021(Xem: 12447)
Vào hôm thứ ba, ngày 16 tháng 2 vừa qua, Đoàn thể Phật giáo Myanmar đã Tuần hành phản kháng chế độ độc tài quân sự Myanmar, tham gia chiến dịch chấm dứt chế độ độc tài quân sự Myanmar dưới sự cai trị hung hãn của các tướng lĩnh quân đội, và trả tự do cho các nhà lãnh đạo bị giam giữ của Chính phủ dân cử bị lật đổ, bao gồm cả nữ cư sĩ Phật tử Aung San Suu Kyi, Cố vấn nhà nước Myanmar, Chủ tịch và Tổng Bí thư Đảng Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (NLD).
23/02/2021(Xem: 12254)
Ngày càng có thêm nhiều bằng chứng về việc xây dựng Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) và các cơ sở dân sự ở các khu vực khác ngoài Ladakh, một khu vực ở bang Jammu và Kashmir của Ấn Độ. Nó kéo dài từ Siachen Glacier trong phạm vi Karakoram đến Himalaya ở phía nam và có người gốc các dân tộc Ấn-Arya và Tây Tạng, chẳng hạn như dọc theo biên giới tranh chấp ở Vương quốc Phật giáo Bhutan và Arunachal Pradesh, một trong hai mươi chín bang của Ấn Độ.
23/02/2021(Xem: 13512)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 19414)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.