1- Tâm Là Gì?

26/12/201017:30(Xem: 13732)
1- Tâm Là Gì?

SỐNG AN VUI, CHẾT AN LÀNH
Nguyên tác: Living Well, Dying Well
Tác giả: Kyabje Lama Zopa Rinpoche
tại Theosophical Society, Brisbane, Australia
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển-07/10/2010

TÂM LÀ GÌ?

 

LamaZopa Rinpoche đã thuyết giảng đề tài này tại Brisbane, Úc Đại Lợi vào năm 1991.

Trongbài thuyết giảng này, Rinpoche đã nói về mục tiêu của đời sống và phát triểnthái độ đúng đắn đối với sự chết.

Cầunguyện mở đầu!

Tôirất vui mừng được gặp gởi tất cả quý vị và như chúng ta chịu trách nhiệm đểmang hạnh phúc đến mọi người khác, như mỗi chúng ta chịu trách nhiệm để cống hiếnhạnh phúc, nguyên nhân hạnh phúc cho ngườikhác, hạnh phúc của người khác tùy thuộc trên chúng ta, hạnh phúc của chúng tatùy thuộc trên những người khác, vì vậy đấy là những gì tôi đang nói đến.

Vậythì, chủ đề chính mà chúng ta sẽ quán chiếu hay những gì tôi cố gắng để thựchành một ít và đôi khi tôi không lười biếng, khi tôi có thể nhớ, tôi chia sẻ sựthấu hiểu của tôi hay căn bản mà tôi đã học một ít, mà đấy chỉ là một ít từgiáo huấn của Đấng Toàn Giác, những lời dạy của Đức Phật. Do vậy, nếu có điều gì thực tiển, nếu có điềugì lợi ích mà quý vị tìm thấy qua sự phân tích sau đó hãy áp dụng đến đời sốngcủa quý vị.

Dovậy, trước hết tôi nghĩ có lẽ nên đề cập một ít về vấn đề tâm là gì. Không có tâm thức, nếu thân thể không có tâmthức, thế thì không có cách nào mà nó trãi nghiệm hạnh phúc. Vì thế, cóthân thể và tâm thức. Thân thể có thân thô, thân vi tế, và thân cựckỳ vi tế, như thế là có ba thân. Thânthô phù thì có thể dễ dàng để thấu hiểu và rồi thân vi tế, căn bản của chất lỏng,căn bản của thân thể. Sau đó, có thân cựckỳ vi tế, mà đấy là cổ xe của tâm thức cực kỳ vi tế. Do vậy, điều ấy làbất biến, thân thể cực kỳvi tế bất biến bên trong thân thể tại quả tim, bằng kích thước của hai lồng ngực,trong trung tâm. Rồi thì có, xa như tâmthức , có tâm thức thô, tâm thức vi tế, và tâm thức cực kỳ vi tế, thế làcũngcó ba, tối đa là tâm thức có ba loại như thế này. Thế thì tâm thức bất biến cực kỳ vi tế ở nơinào? Đấy cũng là tại quả tim, bằng kíchthước của hai lồng ngực, trong trung tâm, tại quả tim.

Vàbây giờ, tâm là gì? Hiện tượng, mà nókhông hình tướng, không màu sắc, không hình thể, không vật chất, mà tự nhiên làtrong sáng, nhận thức những đối tượng, như tấm gương có thể phản chiếu, tấmgương có thể cho sự phản chiếu trong sáng mọi thứ, của bất cứ thứ gì ở trướcnó. Vậy thì giống như thế, tâm thức cóthể làm cho đối tượng sáng sủa, đến tâm thức ấy, đối tượng có thể được xuất hiệnrõ ràng, bất cứ đối tượng nào, hiện tượng, đến với tâm thức, đối tượng được xuấthiện một cách rõ ràng. Vì vậy, sự nhận thức đối tượng là như thế này. Và đây là sự quy ước thông thường, có hai đặctính tự nhiên của tâm thức, một là đặc tính quy ước (tục đế) và một là đặc tínhbản thể (chân đế). Do vậy sự diễn tả nàylà đặc tính quy ước.

Bâygiờ, tâm thức tồn tại bằng sự tùy thuộc trên nguyên nhân và điều kiện (nhânduyên). Tâm thức hôm nay hiện hữu do bởitâm thức hôm qua. Tâm thức hôm qua tồn tạido bởi tâm thức ngày trước nữa, giống như thế, nó đi ngược lại. Tâm thức hôm nay được làm ra bởi tâm thức hômqua và tâm thức hôm nay sẽ làm nên kết quả của tâm thức ngày mai. Giốngnhư thế, tâm thức của giây phút này đượctạo nên bởi tâm thức của giây phút trước và tâm thức hiện tại làm nên trể hơn, tâm thức của giây phút tới. Vì thế đấy là duyên khởi, tâm thứclà duyênsinh mỗi lần như thế.

Vìvậy, bất cứ tư tưởng nào cũng có sự lệ thuộc trên đối tượng, vì bởi có sự hiệnhữu, đối tượng sau đó có một tư tưởng của đối tượng ấy. Khi đối tượng được nhận thức sau đó có một tưtưởng, vì thế tư tưởng là một sự duyên sinh lệ thuộc trên nguyên nhân và điềukiện (nhân duyên). Do thế, đấy là việcchúng ta có thể nhớ nghĩ như thế nào, bởi vì có một sự tương tục của tư tưởng từngày hôm qua, hôm nay, vì vậy chúng ta có thể nhớ lại những gì chúng đã làm hômqua, những gì chúng ta đã thấy hôm qua và những gì chúng ta đã làm năm trước,và v.v… Do vậy, tương tự thế, qua tiếntrình, trước tiên cả, chúng ta phải kiểm soát, chúng ta phải phân tích, chúngta phải học hỏi, chúng ta phải khám phá qua những kinh nghiệm của chúng ta, đấylà khi tâm ý xãy ra trong sự thụ tinh trứng, chúng ta phải phân tích có phải nóđến từ [nơi nào], chúng ta phải nghiên cứu, chúng ta phải phân tích có phải tâmý đến từ sự tương tục trước đấy của tâm ý hay không . Vì thế chúng ta phải nghiên cứu, chúng ta phảiphân tích, chúng ta phải khám phá với kinh nghiệm của chính chúng ta, bằng việcsử dụng tuệ trí của chính chúng ta, bằng sự phát triển tuệ trí của chính chúngta, rồi thì chúng ta phải khám phá qua kinh nghiệm của chính chúng ta có phảicó một tâm ý khác mà nó là sự tương tục của tâm ý ấy, tâm ý đã bắt đầu trong sựthụ thai, trong tử cung của bà mẹ. Nó phảiđược chứng tỏ với tuệ trí của chính chúng ta. Vì thế dù cách nào cũng qua sự phân tích.

Tuynhiên, qua thiền quán, nhiều người, nhiều người phương Tây thiền quán, nhiềusinh viên thiền quán cũng như những ai có tâm thức thật trong sáng, những ai cóít chướng ngại, những ai có một tâm thức trong sáng hơn thế thì họ có thể nhớ lạikhi nào họ ra khỏi tử cung của bà mẹ, một số có thể nhớ lại lúc họ đang ra khỏitử cung của bà mẹ, họ có thể nhớ lại những lúc ấy. Một số có thể nhớ lại. Vì thế, qua thiền quán, điều ấy không thể khôngcó thiền quán. Qua thiền quán họ có thểnhớ lại đời sống trước đời sống này, khi họ phân tích, khi họ quán chiếu lại,qua thiền quán khi họ trở lại tử cung rồi thì, trở lại chính ngay thời điểm tâmý bắt đầu, tâm ý đã phối hợp với sự thụ tinh,chính thời điểm đầu tiên đã phối hợpvới sự thụ thai. Vì thế, trước giây phútấy khi họ phân tích qua thiền quán, một số người có những hình ảnh rất rõ ràngtrong những ký ức của những đời sống quá khứ. Một số đã sống ở Tây Tạng có thể nhớ lại ngay cả nhà bếp, nhà bếp Tây Tạng,có thể nhớ lại nhiều thứ ngay cả bên trong phòng.

Tuynhiên như đề cập qua thôi miên, một cảm giác rất mạnh mẽ của ngày hôm qua cũngcó thể được nhớ lại. Nhưng rồi thì quaphát triển tâm thức trong thiền quán, khi chúng ta tiếp cận tâm thức tại một cấpđộ nào đó của con đường [tu tập], sau khi đạt đến sự thiền quán gọi là tịchtĩnh bất biến hay nhất tâm bất loạn, mà chúng ta có thể tập trung [đại định]hàng năm, hàng vô lượng kiếp, tùy theo hành giả mong ước, hành giả có thể tậptrung trên một đối tượng mà không có một chướng ngại nào, không có sự xao lãngnào, không có gì phá vở sự tập trung [đại định], mà bất cứ nơi đâu hành giả tậptrung tâm thức mình, bất cứ nơi nào hành giả đặt tâm thức của chính mình có thểtrụ trên đối tượng ấy như một ngọn núi, giống như đặt một ngọn núi ở đấy, và vìthế có thể trụ tâm trên đối tượng ấy. Điềuấy được phối hợp với một sự tập trung nhất điểm này phối hợp với trạng thái đạiđịnh, thân thể và tâm thức được tịnh hóa cực kỳ vi tế, trạng thái đại định, đạilạc hay niềm hạnh phúc chân thật, khi được phối hợp với điều ấy, có thể làm chosự tập trung đại định này [hiện hữu] với kinh nghiệm như thế.

Tuynhiên, sau khi đạt đến trình độ nhất tâm bất loạn thì chúng ta có thể có nhữngnăng lực có thể thấy được quá khứ và tương lai, vì thế trong những hành giả nhưthế có thể nhớ lại những thời gian như thế, rồi thì cao hơn, khi hành giả thựcsự tác chứng những lộ trình cao hơn và cao hơn thế thì họ có thể thấy xa hơn vềquá khứ, xa hơn về tương lai. Rồi thìcũng bằng sự thực hành mật tông tantra, những chân ngôn bí mật, có một phươngpháp thực hành gọi là Sáu Du Già của Naropa. Đấy là một phương pháp để thực sự chấm dứt tâm thức thô, tư tưởng thô vàthực sự tác chứng tâm thức cực kỳ vi tế. Rồi thì có thể sử dụng tâm thức cực kỳ vi tế này để thiền quán, để thânchứng con đường tu tập để có thể thực thi những lợi ích rộng lớn cho nhữngchúng sinh khác, cho những người khác. Vì thế, hành giả, thiền giả, người thực chứng điều này, tâm thức vi tế;đặc biệt sau khi đạt đến sự thực chứng này, có thể có những năng lực, khả năngtâm linh này. Có thể nhớ lại hàng nghìnđời sống trước đây, hàng nghìn năm trướcđây, nơi mà họ đã hiện diện trên thế giới này, xứ sở nào. Giống như thế, quý vị, tự mình là đệ tử của mộttrong những thánh giả hay đại sĩ nào đã xãy ra trên trái đất này hàng nghìn nămtrước. Vì thế, hành giả ấy có thể nhớ lạinhững đại hành giả như Milarepa, những người thành tựu toàn giác trong một đời,trong một vài năm, trong một thời gian ngắn của thời đại mạt pháp.

Mộtsố hành giả thực sự thực chứng điều này, cũng có những hành giả thực sự tác chứngnhững điều này qua sự thực hành mật tông tantra, con đường tu tập, sau đó hànhgiả ấy có thể nhớ lại rằng con người ấy đã từng hiện diện trong thời gian ấytrong một nơi như thế như thế. Những ngườiấy có thể thấy tương lai và quá khứ. Vàđiều này là chỉ nói về tâm thức, những khả năng của tâm thức có thể đạt đến sựphát triển cao hơn và cao hơn, sau đó có thể thấy nhiều hiện tượng khác, là nhữngthứ không thể thấy được trước khi tâm thức phát triển [đến trình độ này]. Khi tâm thức phát triển cao siêu hơn, thâmdiệu hơn thì có thể thấy nhiều hơn nữa về quá khứ và trong tương lai, vô số nhữnghiện tượng khác nữa, mà tâm thức phàm phu hiện tại không thể thấy được.

Tươngtự thế, trước một người đi đến một trường đại học, người ấy không thể hiểu biếttất cả những môn học, những hiện tượng, nhưng bằng việc đi đến trường đại học,nghiên cứu học hỏi sau đó người ấy mới có thể hiểu biết, thấy biết tất cả nhữngmôn học khác, tất cả những hiện tượng khác. Giống như vậy, qua thiền quán , giống như điều này dần dần sau đó hànhgiả phát triển hoàn toàn tâm thức trong tuệ trí, trong sự thông hiểu rồi thìhành giả có thể thấy, có thể thấy một cách trực tiếp tất cả những sự hiện hữu,tất cả những hiện tượng, mỗi sự tồn tại đơn lẻ, trong quá khứ, hiện tại vàtương lai. Mọi thứ đã tồn tại trong quákhứ và sẽ xãy ra trong tương lai cùng liên hệ đến tất cả những hiện tượng đanghiện diện bây giờ.

Tuythế, vào thời điểm khi tâm thức đã hoàn toàn phát triển, sự thông hiểu hoàntoàn phát triển, vào thời điểm ấy tâm thức hành giả có thể thấy tâm tưởng của mọingười, mọi chúng sinh, trong mỗi giây; hành giả có thể thấy một cách trực tiếp, có thể thấy mộtcách toàn hảo, qua thời gian ấy, sẽkhông có sự cản trở, tâm thức hiện hữu ở khắp mọi nơi. Tại thời điểm tâm thức chúng ta bao trùm chỉthân thể này, thì chúng ta không thể bao trùm tâm thức chúng ta khác hơn thânthể này, tâm thức chúng ta không thể bao trùm tất cả những đối tượng. Khác hơn thân thể này, tâm thức chúng takhông thể bao hàm. Vì thế có nhiều giớihạn, khi hành giả ở đây, trong khi chúng ta ở đây, tâm thức chúng ta không thểđồng thời ở tại nhà, không thể ở tại bờ biển, hay không thể ở những xứ sở khácnơi chúng ta ao ước. Tâm thức chúng takhông thể ở Hy Lạp cùng một lúc, trong khi chúng ta ở đây Úc Đại Lợi cùng mộtlúc, Hoa Kỳ hay Ba Li của Indonesia, bãi biển Ba Li. Tâm thức chúng ta không thể ở mọi nơi màchúng ta mong ước. Vì thế nhằm để ở đấy,thân thể phải đi đến đấy, thân thể phải tiếp nhận rắc rối, thân thể phải đi đếnđấy.

Cónhiều giới hạn trong năng lực, có nhiều cản trở, có nhiều giới hạn trong khảnăng. Vì thể khi thành công trên con đườngtu tập, không có giới hạn, không có chướng ngại. Vào lúc ấy không có thân thô, không có tâmthô, chỉ có thân vi tế và tâm vi tế. Dovậy, không có cản trở, không có chướng ngại, nên tâm thức có thể thâm nhập khắpmọi thứ. Tâm thức có thể thấy mọi thứ vàtâm thức có thể thâm nhập mọi hiện tượng. Như tâm thức của thân thể chúng ta có thể thâm nhập ngay hiện tại thânthể chúng ta, và vì thế, tâm thức có thể thấy mọi thứ và nó thâm nhập mọi thứngay lúc ấy. Do thế, vào thời điểm ấysau khi chúng ta có thể tất cả chúng sinh, tất cả sinh vật, những đặc tính củachúng, những trình độ khác nhau của tâm thức, mọi thứ. Vì thế sau đó hành giả có thể thấy mỗi mộtphương pháp để đưa họ, để giải thoát họ khỏi rắc rối, làm cho họ và để đưa họvào trong hạnh phúc, từ hạnh phúc đến hạnh phúc, đến hạnh phúc tối hậu, hạnhphúc tối thượng không gì có thể so sánh, thể trạng của tâm toàn giác, tâm thứchiểu biết một cách trọn vẹn. Hành giả cóthể đưa chúng sinh như thế này từ hạnh phúc đến hạnh phúc đến hạnh phúc tối thượng. Vì thế, hành giả có thể thấy mỗimột phương pháp thích hợp với tâm thức của họ, vì thế tất cả sự hướng dẫn khácbiệt gì nên được ban bố, hành giả có thể thấy một cách chính xác.

Vìthế, cũng tại thời điểm ấy, hành giả đã hoàn thành năng lực, năng lực toàn hảo,và có thể biểu hiện…

TuệUyển chuyển ngữ 19/10/2010

http://www.lamayeshe.com/index.php?sect=article&id=625&chid=1584

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/07/2015(Xem: 18180)
1. Bí mật của Đức Đạt Lai Lạt Ma: Đừng lo lắng về những thứ bạn không thể thay đổi và hãy có được chín giờ ngủ mỗi đêm. 2. "Mang theo thông điệp tình yêu, lòng khoan dung, và sự tha thứ." 3. "Hãy xem nhân loại là đồng nhất, sau đó không có cơ sở để giết hại lẫn nhau. Tôi yêu đời sống của tôi. Mọi người đều có quyền được sống hạnh phúc. Hầu hết các vấn đề gây ra bởi con người. Giết chóc, bắt nạt, bóc lột. Chúng ta phải tìm giải pháp dài hạn. Điều này rất khó khăn.
01/07/2015(Xem: 27919)
Hề chi một phận đời riêng Buông hơi nằm xuống mà nghiêng đất trời Thiếu ta, đời cũng vậy thôi! Ta là hạt bụi giữa đời bao la..
01/07/2015(Xem: 31865)
Trong sinh hoạt thường nhật ở Chùa ai ai cũng từng nghe qua câu “Ăn cơm Hương Tích, uống trà Tào Khê, ngồi thuyền Bát Nhã, ngắm trăng Lăng Già “, do đó mà nhiều người thắc mắc “Thuyền Bát Nhã” là loại thuyền như thế nào? Bài viết này sẽ giải đáp đôi điều về nghi vấn ấy. Nói theo Thập Nhị Bộ Kinh, Thuyền Bát Nhã là pháp dụ, tức lấy thí dụ trong thực tế đời thường để hiển bày pháp bí yếu của Phật. Thuyền là chỉ cho các loại thuyền, bè, ghe đi lại trên sông, trên biển. Còn Bát Nhã là trí tuệ, một loại trí tuệ thấu triệt cùng tận chân tướng của vạn pháp trên thế gian là không thật có, là huyền ảo không có thực thể, mà nói theo Đại Trí Độ Luận thì mọi thứ trên thế gian này như bóng trong gương, như trăng dưới nước, như mộng, như sóng nắng… để từ đó hành giả đi đến sự giác ngộ giải thoát vì giác ngộ được chân lý “Nhất thiết pháp vô ngã”. Do vậy, Thuyền Bát Nhã chính là con thuyền trí tuệ có thể chuyên chở chúng sanh vượt qua biển khổ sanh tử để đến bến bờ Niết bàn giải thoát an vui.
01/07/2015(Xem: 35310)
Chủ đề Một Cõi Đi Về, Thơ và Tạp Bút tập hai, một lần nữa, được cái cơ duyên thuận lợi hân hạnh ra mắt quý độc giả. Cách đây ba năm tập một đã được xuất bản vào năm 2011. Hình thức và nội dung của tập hai nầy, cũng không khác tập một. Nghĩa là chúng tôi cũng chia ra làm hai phần: Phần đầu là thơ và phần sau là những bài viết rải rác đã được đăng tải trên các tờ Đặc san Phước Huệ. Tờ báo mỗi năm phát hành ba kỳ vào những dịp đại lễ như: Phật Đản, Vu Lan và Tết Nguyên Đán. Do đó nên những bài viết có những tiêu đề trùng hợp và nội dung có chút ít giống nhau. Tuy nhiên, mỗi bài đều có những sắc thái hương vị riêng của nó. Ngoài ra, có những bài viết với những tiêu đề khác không nằm trong phạm vi của những ngày đại lễ đặc biệt đó. Nay chúng tôi gom góp tất cả những bài viết đó lại để in chung thành một quyển sách tập hai nầy. Về ý nghĩa của chủ đề nói trên, chúng tôi cũng đã có trình bày rõ trong tập một. Ở đây, chúng tôi không muốn lặp lại. Điều quan trọng mà chúng tôi muốn nói ở đây là
01/07/2015(Xem: 17057)
Có những tiếng những lời những âm thanh nghe hoài không chán, nghe mãi không quên, không nghe thì trông ngóng đợi chờ. Tiếng nói của người thương kẻ nhớ kẻ đợi người mong, âm thanh của những ngọt ngào êm dịu, lời ru miên man đưa ta về miền gợi nhớ, những yêu thương da diết chôn dấu trong từng góc khuất, những trăn trở buồn vui có dịp đi qua. Và còn nữa, những thứ mà lúc nào ta cũng trông mong, lời khen tán thưởng tiếng vỗ tay tung hô của thiên hạ.
29/06/2015(Xem: 29501)
Như truyền thông đại chúng đã loan tải vào ngày 24 tháng 4/ 2015 một trận động đất xảy ra tại đất nước Nepal đã làm thiệt mạng gần 9.000 nạn nhân, và làm sập hư trên 100.000 ngôi nhà, trong hiện tại có trên 200.000 người không nhà cửa, và hàng ngàn trẻ em mồ côi cha mẹ. Nhìn thấy cảnh đời bể dâu tang thương đổ nát của người dân Nepal, Hòa Thượng Hội Chủ Thích Như Huệ đã ra thông tư, cũng như tâm thư kêu gọi lòng từ tâm của người con Phật. Sau gần 2 tháng kêu gọi, với tấm lòng tùy tâm của đồng hương Phật tử xa gần trong và ngoài nước Úc, cũng như 37 tự viện thành viên của Giáo Hội đã đem đến kết quả với số tiền cứu trợ là $ 304.900. Úc Kim. Phái Đoàn Cứu Trợ Nepal thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan đã lên đường vào tối ngày 8.6.2015 tại sân bay Melbourne.
29/06/2015(Xem: 11636)
Thời tiết mùa hè năm nay bất thường. Đã có những ngày quá oi bức, và cũng có những ngày lù mù, không mưa không nắng, gió se lạnh. Khí hậu đôi khi cũng tác động vào lòng người, khiến họ dễ bẳn gắt, khó chịu. Những người đã nuôi dưỡng từ lâu sự kỳ thị, thành kiến, hay tỵ hiềm nào đó, có thể bị thời tiết nóng bức châm ngòi cho sân hận và sự bạo động. Đã có những cuộc khủng bố đơn phương hoặc nhân danh tổ chức (thế tục hay tôn giáo) diễn ra khắp hành tinh trong những tháng năm qua.
27/06/2015(Xem: 17999)
Qua 4000 năm Văn Hiến của dân tộc thì trên 2000 năm, Phật giáo có mặt, đồng hành cùng dân tộc. Tính từ thời lập quốc họ Hồng Bàng – Kinh Dương Vương tên nước là Xích Quỷ (năm 2879 trước c.n) đến thời nhà Lý vào năm 1010-1225 đã là 4000 năm, đến nay cũng gần 5.000 năm. Từ thời lập quốc ở Trường Giang, bị Hoa tộc lấn dần cho đến Hùng Vương qua 18 đời, đất nước Văn Lang chỉ còn lại Bắc Việt và Bắc Trung Việt ngày nay.Quê hương vốn ở Hồ Động Đình, do Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh 100 con lập quốc. Kinh Dương Vương là con của Đế Minh và Vụ Tiên, là cháu ba đời của Thần Nông, mà Thần Nông là một trong Tam Hoàng thời thượng cổ.Như thế, Lạc Long Quân là con của Kinh Dương Vương, Kinh Dương Vương là họ Hồng Bàng, lấy quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương truyền ngôi cho Lạc Long Quân, Lạc Long Quân truyền cho Hùng Vương, lấy quốc hiệu là Văn Lang. Từ thời kinh Dương Vương lập quốc đến nay, dân tộc trãi qua 11 lần thay danh đổi hiệu:
24/06/2015(Xem: 43005)
Lời vàng của Thầy tôi, một Hướng dẫn vào các sự Chuẩn bị cho Tâm-yếu của Phạm Vi Bao La từ Đại Viên Mãn, trình bày các con đường của bốn trường phái chính của Phật Giáo Tây Tạng mà không có bất kỳ mâu thuẫn nào giữa chúng.
23/06/2015(Xem: 18730)
Câu hỏi: Lý do tại sao Trịnh Hội lại đi học tu? Có phải bị mất phương hướng cuộc đời hay chán cuộc đời nhiều phiền toái?(Than Nguyen ) Trả lời: Xin chào anh Than Nguyen. Có hai lý do chính thưa anh. Thứ nhất vì cách đây 3 năm mình có lời cầu nguyện với chư Phật là nếu cho mình cơ hội làm xong công việc giúp những thuyên nhân Việt Nam cuối cùng tại Thái Lan, mình sẽ xuống tóc để cảm ơn. Thứ hai là, một công hai việc, mình muốn và cần một thời gian tĩnh lặng để xem mình thật sự muốn làm gì trong suốt quãng đời còn lại.