Chương XIV: Cõi Phật

08/12/201017:00(Xem: 17829)
Chương XIV: Cõi Phật

 

TẤM LÒNG RỘNG MỞ
LUYỆN TẬP LÒNG TỪ BI TRONG ĐỜI SỐNG HÀNG NGÀY

Tác giả Dalai Lama - Lê Tuyên biên dịch - Lê Gia hiệu đính
Dịch từ nguyên tác tiếng Anh: An Open Heart Practicing Compassion in EverydayLife

CHƯƠNG XIV
CÕI PHẬT
(BUDDHAHOOD)

Để tìm được sự che chở ở"ba nơi nương tựa", với khát vọng mạnh mẽ đạt tới sự giác ngộ caonhất nhằm giáp ích cho mọi sinh linh, chúng ta phải thông hiểu tường tận bảnchất của sự giác ngộ. Đương nhiên, chúng ta phải hiểu rõ bản chất của thế giantrần tục là đầy rẫy những khổ đau. Chúng ta biết được sự phù phiếm vô nghĩa củanhững đam mê trong cuộc sống luân hồi, mà chúng ta thì rất dễ bị cám dỗ bởinhững đam mê đó. Chúng ta quan tâm đến những đau khổ mà mọi người đang liên tụcgánh chịu và chúng ta khao khát giúp mọi người vượt qua được đau khổ đó. Khiviệc luyện tập của chúng ta được thúc đẩy bởi những khao khát như vậy, chúng tacố gắng hết sức đạt tới sự giác ngợ hoàn toàn của Cõi Phật, chúng ta là nhữngngười luyện tập Mahayana.

Thuật ngữ"Mahayana" thường gắn liền với những hình thức Phật giáo ở Tây Tạng,Trung Hoa và Nhật Bản. Thuật ngữ này đôi khi cũng được áp dụng cho những trườngTriết học Phật giáo.

Tuy nhiên, ở đây tôi sửdụng thuật ngữ "Mahayana" để chỉ về những khao khát trong lòng củamột cá nhân luyện tập. Động cơ thúc đẩy mà chúng ta có là mong muốn đem niềmhạnh phúc đến với mọi sinh linh và nổ lực lớn nhất mà chúng ta thực hiện lànhằm giúp cho tất cả mọi người đều đạt được niềm hạnh phúc đó. Những ngườiluyện tập Mahayana cống hiến hết mình nhằm đạt tới Cõi Phật. Họ cố gắng thủtiêu những suy nghĩ ích kỷ và sự ngu dốt gây cản trở họ đạt tới trạng thái giácngộ hoàn toàn và thông suốt. Những người luyện tập hiến mình cho việc đào luyệnnhững phẩm chất đạo đức như lòng khoan dung quảng đại, nhân nghĩa và lòng kiênnhẫn tới một mức độ mà họ có thể sẽ cho đi bản thân mình bằng mọi cách cầnthiết và bất chấp mọi khó khăn cũng như những điều bất công nhằm phục vụ mọingười. Quan trọng nhất là họ phát triển sự thông suốt của mình: ý thức của họvề "sự trống rỗng". Họ cố gắng đạt được sự nhận thức về "sựtrống rỗng" của sự tồn tại cố hữu ngày một sâu sắc hơn và nâng cao tínhtinh tế của tâm hồn nhằm đạt được mục đích. Dĩ nhiên là rất khó có thể mô tảđược rõ ràng quá trình đạt tới Cõi Phật. Có thể nói rằng khi ý thức của conngười về "sự trống rỗng" của sự tồn tại cố hữu trở nên sâu sắc hơn,thì mọi vết tích của lòng ích kỷ sẽ bị xóa sạch và người ta đạt tới một trạngthái giác ngộ hoàn toàn - Cõi Phật. Tuy nhiên, cho tới lúc chúng ta bắt đầu cóđược những ý thức như vậy, sự hiểu biết của chúng ta cũng chỉ là lý thuyết.

Khi những tàn tích cuốicùng của những quan niệm sai lầm ngu dốt và những khuyng hướng sai trái được gỡbỏ khỏi tâm hồn của người luyện tập, tâm hồn trong sạch tinh khiết còn lại đólà một tâm hồn của Đức Phật. Người luyện tập đã đạt được sự giác ngộ hoàn toàncòn mang nhiều đặc tính khác nữa, theo ngôn ngữ Phật giáo, những đặc tính đó là"những thể xác". Một số thể xác này ở hình thức vật chất, một số kháclại không ở hình thức vật chất. Những thể xác không ở hình thức vật chất baogồm cả một thân thể thật sự. Đây chính là một tâm hồn tinh khiết như chúng tađã biết. Đặc tính thông suốt của một tâm hồn giác ngộ, khả năng liên tục nhậnthức mọi sự vật hiện tượng của tâm hồn, và cả ý thức của tâm hồn về "sựtrống rỗng" của sự tồn tại cố hữu đều được biết đến như là một thề xácthông suốt của Đức Phật. Và đặc tính trống rỗng của tâm hồn thông suốt này gọilà thể xác bản chất của Đức Phật. Cả 2 loại thề xác trên đều không ở hình thứcvật chất. Những thể xác đặc biệt này đạt được qua khía cạnh "bao la"của cuộc hành trình tâm hồn.

Vậy thì có 2 biểu hiệnthể xác khác nhau của sự giác ngộ. Ở đây, chúng ta bước vào một lĩnh vực mà hầuhết chúng ta điều khó có thể nắm bắt. Những biểu hiện này được gọi là nhữnghình thức thể xác của Đức Phật. Thể xác đạt được của Đức Phật là một biểu hiệncủa hình thức vật chất, nhưng hầu hết chúng ta đều không nhìn thấy được. Chỉ cónhững ai nhận thức được ở một mức độ rất cao mới có thể nhìn thấy được, đó lànhững vị Bồ Tát thấu hiểu những tận cùng của chân lý được thúc đẩy bởi khaokhát mãnh liệt đạt tới Cõi Phật vì lợi ích của mọi người.

Không giống như thể xáccó được của Đức Phật, những biểu hiện của việc đạt tới giác ngộ hoàn toàn cóthể được trông thấy bởi hầu hết mọi người. Đó là những cơ thể phát xạ(emanation). Nói cách khác, những biểu hiện này là hiện thân của những ngườigiác ngộ hoàn toàn. Tình trạng phát xạ xuất hiện vào lúc một người luyện tậpđạt tới sự giác ngộ hoàn toàn, đó lá kết quả của lòng từ bi khao khát giúp đỡmọi người. Qua cơ thể phát xạ đó, Đức Phật dạy bảo mọi người về phương pháp màchính Đức Phật đã ứng dụng tâp luyện và đạt được trạng thái thoát ra khỏi đaukhổ.

Một Đức Phật giúp đỡchúng ta qua thân th? phát xạ của mình như thế nào? Một Đức Phật thực hiệnnhững hành vi giác ngộ của mình chủ yếu qua những lời truyền dạy, Đức PhậtShakyamuni, vị Phật trong lịch sử, người đã đạt được sự giác ngộ dưới gốc câyBồ Đề cách đây 2500 năm, là một thân thể phát xạ.

Lời giải thích như vậyvề những khía cạnh khác nhau của trạng thái giác ngộ hoàn toàn nghe có vẻ hơigiống một chuyện khoa học viễn tưỡng, đặc biệt khi chúng ta khảo sát khả năngxảy ra của vô số sự phát xạ của vô số Đức Phật hiện thân ở vô số vũ trụ để giúpđỡ vô số người. Tuy nhiên, trừ khi sự hiểu biết của chúng ta về Cõi Phật đủ sâusắc đề nắm bắt những khía cạnh bao la của sự giác ngộ, của sự che chở mà chúngta có nơi Đức Phật sẽ không thể gây ra được những hiệu lực cần thiết. Việc rènluyện Mahayana, chúng ta hiến mình luyện tập nhằm tìm kiếm niềm hạnh phúc vìmọi ngưới, là một sự thông hiểu rộng lớn. Nếu hiểu biết của chúng ta về ĐứcPhật chỉ giới hạn ở những câu chuyện lịch sử về Đức Phật Shakyamuni, chúng tasẽ tìm kiếm sự che chở nơi những người đã chết rất lâu và những người đó khôngcòn khả năng giúp đỡ chúng ta được nữa. Để cho sự nương tựa của chúng ta nơiĐức Phật thật sự sinh động mạnh mẽ, chúng ta phải nhận thức được những khíacạnh khác nhau của Cõi Phật.

Vậy thì chúng ta giảithích như thế nào về sự tồn tại đời đời của Đức Phật? Chúng ta hãy xem xét tâmhồn của chính chúng ta, nó giống như một dòng sông - một dòng sông chảy liêntục của sự hiểu biết giới hạn, mỗi dòng sông chảy đến một hướng khác nhau củahiểu biết. Dòng sông của ý thức như vậy trôi chảy giờ này qua giờ khác, ngàynày qua ngày khác, năm này qua năm khác và thậm chí theo quan điểm Phật giáo,từ kiếp này qua kiếp khác. Mặc dù thể xác của chúng ta không còn theo chúng tađược nữa một khi sức lực của chúng ta cạn kiệt, nhưng những dòng chảy của ýthức vẫn tiếp tục băng qua cái chết và cuối cùng xuất hiện ở kiếp sau, bất kểlà nó sẽ xuất hiện ở hình thức nào. Mỗi người trong chúng ta đều sở hữu một dòngsông về ý thức như vậy. Và dòng sông đó không có điểm khởi đầu, cũng chẳng cóđiểm kết thúc. Chẳng có gì có thể ngăn nó lại được. Nó không giống những cảmxúc tức giận và lưu luyến dễ dàng bị chặn đứng khi áp dụng những biện pháp đốikháng thích hợp. Hơn nữa, tính chất chủ yếu của tâm hồn là trong sạch, tinhkhiết; những ô uế trong tâm hồn có thể được tẩy sạch, làm cho sự liên tục củatâm hồn tinh khiết này trở thành bất diệt. Một tâm hồn hoàn toàn không một chúto â uế là một thân thể thật sự của Đức Phật.

Nếu chúng ta suy ngẫm vềtrạng thái giác ngộ hoàn toàn theo cách này, sự cảm kích của chúng ta dành chosự vĩ đại của Đức Phật sẽ tăng lên, lòng tin của chúng ta nơi Đức Phật cũng tănglên, Khi chúng ta ý thức được những phẩm chất của Đức Phật, khát vọng đạt tớitrạng thái này của chúng ta trở nên mãnh liệt hơn. Chúng ta sẽ hiểu rõ được giátrị và sự cần thiết của khả năng xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, ởnhiều nơi khác nhau để giúp đỡ mọi sinh linh. Điều này cho chúng ta một sứcmạnh và quyết tâm cao độ đạt tới một tâm hồn hoàn toàn giác ngộ.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/07/2025(Xem: 4757)
Cuốn theo tám ngọn gió đời, Tâm ta loạn động, chẳng hồi nào ngơi. Được khen: vui vẻ, tươi cười. Bị chê: sân dậy, giận người chê ta.
17/07/2025(Xem: 3606)
Bài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông: Khi tính người tịch diệt, thì tính trời hiển lộ. Sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.
16/07/2025(Xem: 3672)
Hầu hết các loài trên hành tinh này đều thiếu khả năng trí tuệ để xây dựng hệ thống niềm tin. Ví dụ, mèo và chó không nghĩ về ý nghĩa cuộc sống của chúng và có xu hướng sống hạnh phúc miễn là chúng nhận được những gì chúng cần ngay tại thời điểm hiện tại. Điều này khiến Loài Người Thông Tuệ (Homo sapiens) trở thành loài duy nhất trên Trái đất có khả năng tham gia vào các quá trình tư duy phức tạp và tạo ra các hệ thống tôn giáo và triết học. Do đó, việc có tôn giáo là một đặc điểm riêng của con người mà không có ở bất kỳ loài vật nào khác.
16/07/2025(Xem: 4967)
Trong bốn năm qua, tôi đã viết 17 bài luận về Phật giáo tại Nhật Bản cho trang Buddhistdoor Global. Trong những bài luận này, tôi đã khám phá rất nhiều hoạt động và tín ngưỡng ở Nhật Bản, ở nhiều mức độ khác nhau, có liên quan đến các truyền thống Phật giáo. Những bài luận này có thể gợi lên một hình ảnh, mà tôi nghĩ là khá chính xác, rằng tôn giáo vẫn tồn tại và phát triển mạnh mẽ ở Nhật Bản, mặc dù dưới vỏ bọc của một xã hội ở thế kỷ 21.
12/07/2025(Xem: 9998)
Mùa hè năm nay tôi được mời dự lễ Vu Lan ở chùa Quán Âm, Kansas City, tiểu bang Missouri. Khi đến nơi tôi thấy trên bàn của phòng có quyển sách The Art of Living. Ngoài những thời gian thăm viếng các chùa như Phổ Hiền, Pháp Hoa, ...và một vài nơi ở thành phố Kansas như Country Plaza cùng Limestone Kansas City, và thăm một số nhà Phật tử, thời gian còn lại tôi đã dịch ngay chương đầu của quyển sách này (12/08/2011), ngay trong thời gian ở chùa Quán Âm. Sau ba ngày ở Kansas City tôi chia tay với thành phố này và anh Quảng Tịnh Đạt, hội trưởng chùa Quán Âm đã tặng tôi quyển sách này. Thế là tôi mang theo và dịch luôn trọn quyển sách.
12/07/2025(Xem: 8509)
“Nghệ thuật sống hạnh phúc trong thế giới phiền não” được bác sĩ Howard C. Cutter tổng hợp và viết lại từ những lời dạy của đức Dalai Lama tại nhiều bối cảnh thuyết giảng khác nhau. Tác phẩm được trình bày theo một hệ thống gồm bốn phần, ba phần đầu là một tác phẩm độc lập mang cùng tựa đề tác phẩm này và phần 4 cũng là một tác phẩm bỏ túi độc lập, vì có cùng nội dung nên được gộp vào phần cuối của tác phẩm, để độc giả có thể thưởng thức hai tác phẩm trong một của đức Đạt Lai Lạt Ma.
12/07/2025(Xem: 9736)
ĐẠO PHẬT ĐÃ HƯỚNG ĐẠO con đường phát triển của Đức Đạt Lai Lạt Ma – cả nội tại lẫn ngoại tại – và vẫn là một sự hướng dẫn cho cội nguồn thích đáng của nhân loại. Những bài diễn thuyết bao hàm trong sự sưu tập này không đối diện trực tiếp với mục tiêu Giác Ngộ hay Quả Phật. Đúng hơn, chúng soi sáng những chủ đề phổ thông về từ bi; bất bạo động và hòa bình; chủ nghĩa thế tục; một thân thể, tâm thức, cá nhân, và xã hội lành mạnh; và tiềm năng của con người cho hạnh phúc qua sự thực chứng nội tại. Loài người trên thế giới hiện hữu đã sẵn sàng để tiếp nhận tuệ giác xuất phát từ Phật giáo và về Phật giáo vốn trực tiếp che chở chúng ta khỏi khổ đau của chúng ta.
12/07/2025(Xem: 9290)
Nguyên bản: Advice on Dying and Living a Better Life Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
12/07/2025(Xem: 8576)
Tại sao con người tìm đến tôn giáo? Bởi vì con người cần những ý tưởng cực lạc, thiên đàng, hay niết bàn. Tại sao con người cần những ý tưởng cực lạc, thiên đàng, và niết bàn?
12/07/2025(Xem: 9008)
Đức Đạt Lai Lạt Ma thường nói rằng có lẻ nhân loại là một gia đình loài người duy nhất trong vũ trụ này, và trái đất là ngôi nhà duy nhất của loài người chúng ta. Trong thực tế, chúng ta thấy khi một con chó, mèo hay bất cứ một con thú nào sắp chết thì tất cả những con bò chét, con ve vội vả chạy ra khỏi con thú ấy đề tìm thân thể một con thú khác để sinh sống, còn con người chúng ta nếu trái đất này có mệnh hệ gì thì chúng ta sẽ chạy đi chốn nào. Người ta nói rằng số lượng vũ khí hạt nhân hiện có trên thế giới có thể phá hủy cả chục trái đất mà chúng ta đang ở. Người ta cũng nói rằng hơn nửa tài nguyên thiên nhiên hay có thể là hai phần ba tài nguyên thiên nhiên là đang dùng vào việc chế tạo vũ khí.