Chương X: Trạng Thái Bồ Tát

08/12/201016:52(Xem: 16491)
Chương X: Trạng Thái Bồ Tát

 

TẤM LÒNG RỘNG MỞ
LUYỆN TẬP LÒNG TỪ BI TRONG ĐỜI SỐNG HÀNG NGÀY

Tác giả Dalai Lama - Lê Tuyên biên dịch - Lê Gia hiệu đính
Dịch từ nguyên tác tiếng Anh: An Open Heart Practicing Compassion in EverydayLife

CHƯƠNG X
TRẠNG THÁI BỒ TÁT
(BODHICITTA)


Chúng ta đã nói về lòngtừ bi và đức trầm tĩnh với những phương pháp trau dồi những phương pháp nàytrong đời sống hàng ngày của chúng ta. Khi chúng ta phát huy được lòng từ bicủa chúng ta đến một mức độ mà chúng ta cảm thấy rằng mình có trách nhiệm đốivới mọi người, chúng ta sẽ cảm thấy phấn khích muốn hoàn thiện bản thân để phụcvụ mọi người. Phật giáo gọi khát vọng đạt tới trạng thái đó là "BồTát" (Bodhisattva). Có 2 phương pháp đề đạt được trạng thái này. Thứ nhất,được gọi là "phương pháp nhân quả 7 lần" (sevenfold cause-and-effectmethod), xoay quanh việc nghĩ về mọi người như là mẹ của mình trong quá khứ.Thứ hai, "đánh đổi bản thân vì mọi người" (exchanging self forothers), chúng ta xem mọi người như chính bản thân chúng ta. Cả hai phương phápđược xem như là những bài thực hành, hay mở rộng hướng đi.

PHƯƠNG PHÁP NHÂN QUẢ BẢY LẦN
(SEVENFOLD CAUSE-AND-EFFECT METHOD)

Nếu chúng ta đã được táisinh hết lần này đến lần khác, vậy thì rõ ràng là chúng ta đã cần phải có rấtnhiều người mẹ để mà sinh ra chúng ta. Chúng ta có thể nói rằng sự ra đời củachúng ta không bị giới hạn ở phạm vi hành tinh trái đất. Theo quan điểm củaPhật giáo, chúng ta đã trải qua rất nhiều chu kỳ sống-chết từ rất lâu trước khihành tinh này tồ tại. Vì vậy những kiếp trước của chúng ta là vô số kể, kiếptrước của những con người tồn tại là những người đã sinh ra chúng ta. Vậy thì,nguyên nhân thúc đẩy tạo ra trạng thái Bồ Tát là nhận thức ra rằng mọi người đãlà mẹ của chúng ta trong quá khứ.

Lòng yêu thương –tử tếmà mẹ chúng ta dành cho chúng ta trong kiếp này thật khó mà đền đáp. Mẹ chúngta đã trãi qua nhiều đêm không ngủ để mà chăm sóc chúng ta khi chúng ta vẫn cònlà một đứa bé không tự lo liệu được. Mẹ chúng ta đã cho chúng ta ăn, nuôi nấngchúng ta và sẵn lòng hy sinh mọi thứ kể cả mạng sống của mình để mà cứu lấychúng ta. Khi chúng ta suy niệm về sự hy sinh và công lao của mẹ chúng ta,chúng ta nên nghĩ rằng tất cả mọi người trong cuộc sống này đã từng đối đãi vớichúng ta theo cách đó và mọi người đã từng có một lúc nào đó trong quá khứ bấttận là mẹ của chúng ta và đã đối đãi với chúng ta bằng lòng yêu thương – tử tếvô bờ bến. Suy nghĩ như vậy làm cho chúng ta thêm cảm kích. Đây chính là nguyênnhân thúc đẩy chúng ta đạt tới trạng thái Bồ Tát.

Khi chúng ta hình dunghoàn cảnh sống của những người này, chúng ta phát sinh khao khát giúp họ thayđổi vận số của họ. Đây là nguyên nhân thúc đẩy thứ ba và ngoài ra nó còn hìnhthành nguyên nhân thúc đẩy thứ tư, một cảm xúc yêu mến tất cả mọi người. Đâychính là động lực lôi cuốn chúng ta về phía mọi người, giống như đứa trẻ cảmthấy lôi cuốn khi trông thấy mẹ của nó. Điều này dẫn chúng ta đến lòng từ bi,đây chính là nguyên nhân thúc đẩy thứ năm. Lòng từ bi là một mong ước táchnhững người mẹ của chúng ta trong quá khứ ra khỏi hoàn cảnh đáng thương của họ.Ở mức độ từ bi này, chúng ta cũng trải qua lòng yêu thương – tử tế, một mongước rằng tất cả mọi người đều tìm được niềm hạnh phúc. Khi chúng ta đạt đượcmức độ "trách nhiệm" này, chúng ta đi từ mong ước mọi người đều tìmđược niềm hạnh phúc và vượt qua đau khổ tới trách nhiệm gánh vác giúp đở mọingười đạt được trạng thái ra khỏi những đau khổ. Đây là nguyên nhân thúc đẩycuối cùng. Khi chúng ta suy xét cách tốt nhất để giúp đở mọi người, chúng tađam mê đạt được trạng thái thông suốt hoàn toàn của Cõi Phật (Buddhahood).

Câu hỏi được đặt ra ởđâycũng chính là vấn đề trung tâm của Phật giáo Mahayana: Nếu những người đãđối xử tốt với chúng ta từ trong quá khứ vô tận đang chịu đau khổ, thì làm saochúng ta có thể đi tìm hạnh phúc cho riêng mình? Tìm kiếm hạnh phúc cho riêngmình mặc kệ những đau khổ mà người khác đang phải gánh chịu là một điều bấthạnh thảm thương. Vậy thì, rõ ràng là chúng ta phải cố gắng giúp đở mọi ngườithoát ra khỏi đau khổ. Phương pháp này giúp chúng ta nâng cao khát vọng làmđược điều đó.

ĐÁNH ĐỔI BẢN THÂN VÌ MỌI NGƯỜI
(EXCHANGING SELF FOROTHERS)

Phương pháp còn lại đểđạt được trạng thái Bồ Tát (Bodhicitta), khát vọng đạt được sự giác ngộ caonhất vì lợi ích của mọi sinh linh, là "đánh đổi bản thân vì mọingười". Ở phương pháp này, chúng ta thực hiện nhằm nhận ra được rằng chúngta phụ thuộc vào mọi. Chúng ta suy ngẫm về căn nhà mà chúng ta ở, quần áo màchúng ta mặc, con đường mà chúng ta đi… đã được tạo ra từ sự lao động vất vảc?a mọi người như thế nào. Họ đã làm rất nhiều công việc để cuối cùng cung cấpcho chúng ta chiếc áo mà chúng ta đang mặc, từ việc gieo trồng hạt giống câybông cho tới việc dệt vải và may áo. Mẩu bánh mà chúng ta ăn đã được nướng chínbởi một người nào đó. Cây lúa mì đã được gieo trồng bởi một người khác nữa, saukhi tưới nước và làm cho đất màu mỡ, người ta phải gặt hái và xay chúng thànhbột. Tiếp theo, chúng được nhồi thành bột dẻo và được nướng chín. Không thể nàokể được hết những người có liên quan đến việc cung cấp cho chúng ta dầu chỉ làmột mẩu bánh. Trong nhiều trường hợp, máy móc làm được nhiều công việc; tuynhiên máy móc đã được phát minh và được sản xuất cũng như được giám sát bởi conngười. Thậm chí, mọi đức tính của chúng ta như lòng kiên nhẫn và những ý thứcđạo đức khác đều được phát triển phụ thuộc vào mọi người. Thậm chí chúng ta cóthể nhận thấy rằng những người gây ra khó khăn cho chúng ta cũng đem đến chochúng ta những cơ hội để rèn luyện lòng khoan dung. Qua sự suy nghĩ này chúngta thấy được rằng tất cả mọi thứ chúng ta được hưởng trong cuộc đời này đều phụthuộc vào mọi người. Chúng ta phải cố gắng phát huy nhận thức này trong đờisống hàng ngày sau những buổi luyện tập thiền định vào lúc sáng sớm của chúng ta.Có rất nhiều ví dụ về sự phụ thụôc của chúng ta vào mọi người. Khi chúng tanhận ra được chúng, ý thức về trách nhiệm của chúng ta đối với mọi người tănglên và khát vọng đền đáp lại sự tử tế của mọi người cũng tăng lên.

Chúng ta cũng suy ngẫmvề luật nhân quả, về những hành vi ích kỷ của chúng ta đã dẫn đến những khókhăn mà chúng ta phải đối mặt hàng ngày . Khi chúng ta xem xét hoàn cảnh củamình, chúng ta nhận thấy cách cư xử ngạo mạn ích kỷ của chúng ta vô nghĩa biếtbao, những hành vi vị tha giúp đỡ mọi người mới đúng là cách cư xử hợp lý nhất.Một lần nữa, điều này đã làm cho chúng ta có được những hành vi cao thượng:tham gia luyện tập những phương pháp nhằm đạt được trạng thái của Cõi Phật(Buddhahood) nhằm giúp đỡ tất cả mọi người.

Khi áp dụng phương pháp"đánh đổi bản thân vì mọi người", chúng ta cũng phải rèn luện , pháthuy lòng kiên nhẫn, bởi vì một trong số những chướng ngại chính ngăn cản sựphát triển và gia tăng lòng từ bi và trạng thái Bồ Tát là thiếu lòng kiên nhẫnvà đức khoan dung.

Cho dù chúng ta có dùngphương pháp nào để phát triển trạng thái Bố Tát, chúng ta cũng phải trung thànhvà trau dồi khát vọng cao cả này hàng ngày qua việc thiền định trang nghiêm vàcả trong đời sống hàng ngày. Chúng ta phải thực hiện việc luyện tập siêng năngđể giảm thiểu bản năng ích kỷ và thay thế vào đó là một bản năng cao thượng củalý tưởng Bồ Tát . Đầu tiên chúng ta phải phát triển một tri giác mạnh mẽ về đứctrầm tỉnh – thái độ cảm thông không thiên vị đối với tất cả mọi người, đồngthời phải liên tục cố gắng giảm thiểu những khuynh hướng gây trở ngại cho khátvọng cao cả của mình.

Trong khi chúng ta làmviệc để trau dồi khát vọng cao thượng về trạng thái Bồ Tát, nhiều trở ngại sẽxuất hiện. Những cảm xúc như lòng lưu luyến và sự chống đối sẽ xuất hiện và pháhoại nỗ lực của chúng ta. Chúng ta cảm thấy mình bị lôi cuốn bởi những thóiquen của bản thân, những thói quen như xem ti vi hoặc thăm viếng bạn bè sẽ kéochúng ta xa dần mục tiêu cao cả mà chúng ta đang theo đuổi. Chúng ta cần phảicố gắng vượt qua những cảm xúc như vậy bằng cách sử dụng những phương phápthiền định được mô tả trong sách này. Sau đây là những bước mà chúng ta phảilàm theo. Trước tiên chúng ta phải nhận ra được những cảm xúc đau khổ và nhữngthói quen xấu của chúng ta, chúng ta suy xét , chứng minh xem bản thân có lưuluyến hay không rồi mới tiếp tục suy xét về những bản chất có hại của nó. Sauđó chúng ta phải áp dụng những biện pháp kháng cự phù hợp và quyết tâm khôngđam mê những cảm xúc như vậy nữa. Chúng ta phải cố luôn giữ vững sự tập trungvào mục tiêu mà mình đang theo đuổi.

Chúng ta đã khảo sát tỉ mỉnhững phương pháp để mở rộng tấm lòng. Lòng từ bi là bản chất của một tấm lòngrộng mở và phải được trau dồi xuyên suốt cuộc hành trình tâm hồn của chúng ta.Đức trầm tĩnh (equanimity) tiêu diệt những định kiến của chúng ta về mọi ngườivà gia tăng lòng vị tha của chúng ta đối với mọi người. Trạng thái Bồ Tát làmục tiêu theo đuổi của chúng ta nhằm giúp đỡ mọi người. Bây giờ chúng ta hãycùng nhau nghiên cứu những phương pháp để chúng ta phát triển sự tập trung cầnthiết nhằm trau dồi mọi khía cạnh trong việc luyện tập sự thông suốt (wisdom).

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/05/2015(Xem: 10645)
Tâm linh là sự kiện phi vật thể, đối lập với duy vật. Hầu hết các tôn giáo đều mang tính chất tâm linh; tín ngưỡng tâm linh của các tôn giáo không thuần nhất, tùy trình độ, căn cơ và khuynh hướng của mỗi loại tín ngưỡng mà có chánh tín và tà tín.
07/05/2015(Xem: 19619)
(Bộ kinh Milindapanha xuất hiện vào khoảng năm trăm năm sau Phật Niết-bàn, do ngài Pitakaculàbhaya ở trung Ấn Độ trước thuật bằng tiếng Pàli. Nội dung kể lại những câu hỏi, đáp giữa vua Milinda và tỳ kheo Nàgasena. Những câu hỏi thì đa trí, sắc bén mà lời giải đáp lại thâm sâu, quảng kiến, lợi tuệ; nhiều khi chỉ là những ví dụ cụ thể, bình dân, giản dị, rất bổ ích cho các nhà học giả, người nghiên cứu, kẻ đa nghi cũng như sự học Phật của các hàng hậu tấn.) - Thưa đại đức! Trẫm nghe rằng giáo hội của Đức Tôn Sư trong sạch, quý báu, cao thượng lắm phải chăng? - Tâu, vâng. - Trong giáo hội ấy, tất cả Tăng chúng và Ni chúng đều là người đã chứng đắc các quả vị thanh tịnh cả chăng?
06/05/2015(Xem: 12045)
Đời sống là một chuỗi những câu chuyện xen lẫn nhau, không phải là những khái niệm. Khái niệm thì khác xa với sự thật. Do vậy, một câu chuyện được kết cấu với tình tiết phong phú và có ý nghĩa thì gần gũi với đời sống thực tế. Đó là lý do tại sao chúng ta dễ dàng liên hệ với đời sống qua các câu chuyện hơn là những lý thuyết trừu tượng. Và đó cũng là lý do mà thầy Ajahn Brahm - tu sĩ người Anh, Tu viện trưởng rừng thiền Bodhinyana và là Giám đốc hội Phật học Tây Úc - chọn cách giảng dạy, trình bày pháp thông qua những câu chuyện.
01/05/2015(Xem: 17217)
HỎI: Tôi vì học tập và công việc nên sống xa nhà, hiện đang ở trọ một mình. Gia đình tôi thờ Phật, trước đây mỗi ngày tôi đều tụng kinh, lạy Phật. Hiện nơi tôi ở trọ cách chùa rất xa, việc đến chùa lạy Phật hàng ngày rất khó khăn. Gần đây, tôi được người quen tặng một bức tượng Bồ-tát Quán Thế Âm, tôi vui lắm và mong được thờ Ngài trong phòng để tiện tụng niệm, lễ bái. Nhưng tôi rất băn khoăn vì phòng trọ rất nhỏ hẹp, bạn bè thường hay tới chơi, đôi khi có cả bạn trai của tôi đến nữa. Xin hỏi, tôi thờ Bồ-tát có trong phòng trọ có được không? Nếu được thì quy cách như thế nào để không phạm lỗi bất kính?
01/05/2015(Xem: 43388)
Một tập sách với tựa đề như trên, trong xã hội hiện nay, không có gì đặc biệt; so với Kito giáo tại Việt Nam, cũng là việc làm bình thường, vì hàng năm, một số giáo xứ thường xuyên tổ chức các lớp hướng dẫn giáo lý và hôn nhân cho thế hệ trẻ từ tuổi 18 trở lên; nhưng đặc biệt của tập sách nầy nằm trong hai lĩnh vực: 1/ Phật giáo chưa từng xuất hiện sách hoặc lớp hướng dẫn về hạnh phúc gia đình, mặc dù có những kinh điển nói qua vấn đề nầy, quá tổng quát, chưa thích ứng với từng cảnh trạng của từng xã hội biến thái khác nhau hiện nay. 2/ Sách không trực tiếp dạy giáo lý như các lớp “giáo lý và hôn nhân” của các giáo xứ, nhất là giòng Tên; nhưng sách hướng dẫn tháo gỡ nhiều vấn đề mắc mứu liên quan đến tâm lý xã hội và đạo đức nhà Phật.
30/04/2015(Xem: 16727)
Quán Âm Tình Vô Lượng Mẹ về với những yêu thương Dịu dàng trên sóng trùng dương Mẹ về Mắt buồn xót cõi đời mê Dáng Từ phủ khắp sơn khê .. Mẹ ngồi Con tim Mẹ chứa cõi đời Lắng sâu như lượng trùng khơi dạt dào Tình Người vời vợi trăng sao Đường trần bóng Mẹ ngọt ngào chở che..
30/04/2015(Xem: 13081)
Hunzas – Bộ tộc 900 năm trở lại đây không có ai bị ung thư Trên thế giới có nhiều dân tộc kỳ lạ, mà những đặc điểm của họ khiến người ta phải kinh ngạc, bộ tộc mà chúng tôi muốn giới thiệu ở đây là bộ tộc Hunzas, họ là tộc người khỏe mạnh nhất trên toàn thế giới.
27/04/2015(Xem: 19141)
Thư Mời Tham Dự Khóa Tu Mùa Hè tại San Jose, California
27/04/2015(Xem: 14304)
Hai tiếng mẹ cha trở nên lớn lao, là do sinh thành dưỡng dục. Không có công sinh công dưỡng, đức Phật đã không ca ngợi hai tiếng mẹ cha như vậy.
26/04/2015(Xem: 15992)
Ajahn Chah sinh năm 1918 trong một ngôi làng phía Bắc Thái Lan. Ngài xuất gia từ lúc còn nhỏ và trở thành một vị tỳ khưu năm 20 tuổi. Ngài theo truyền thống hành đầu đà của các sơn tăng trong nhiều năm. Hằng ngày mang bát xin ăn, chuyên tâm hành thiền và đi khắp nơi để truyền bá giáo pháp. Ajahn Chah hành thiền dưới sự chỉ dẫn của nhiều thiền sư danh tiếng trong đó có ngài Ajahn Mun, một vị thiền sư nổi tiếng và được kính trọng vào thời bấy giờ. Ajahn Chah đã chịu nhiều ảnh hưởng của ngài Ajahn Mun. Ajahn Chah là một thiền sư tuyệt diệu, Ngài đã dạy đạo một cách trực tiếp, rõ ràng, và tận tụy chia sẻ sự chứng nghiệm giáo pháp của mình cho những người đến sau. Lời dạy của Ngài thật đơn giản: "Hãy để sự vật tự nhiên, đừng dính mắc. Hãy xả bỏ tất cả. Sự vật thế nào, hãy để y như vậy". Ajahn Chah viên tịch vào ngày 16 tháng Giêng, 1992 ở Wat Pah Pong, tỉnh Ubon Ratchathani.