10. An tâm

17/11/201017:19(Xem: 12189)
10. An tâm

AN TÂM

Hàng năm khi nhữngngày đông ảm đạm giá rét trôi qua, bầu trời lại đượcsưởi ấm và trên những cành cây trụi lá đã nẩy lộc đơmhoa, lòng người theo đó cũng hớn hở đón xuân với bao niềmước vọng. Trong khung cảnh Minh niên đầy hân hoan, lòng ngườicon Phật lại thành kính hướng về Tam Bảo để cầu nguyện.

Trong đời sống không ai không khỏibất an trước bao nỗi lo toan phiền muộn, nên cầu an là điềuai cũng đều mong ước. Người ta cầu nguyện bằng nhiềucách, tùy ở niềm tin và nhận thức.

Nếu ai chưa thấm nhuần Chánh pháp,thì họ đi khấn vái am này đền nọ, hoặc cúng sao giảihạn đầu năm. Người thấm nhuần Chánh pháp không cho lốicầu nguyện ấy là thích đáng, là lợi lạc viên mãn. NgườiPhật tử nghĩ rằng: Duy chỉ đem tâm thành kính thanh tịnhtrang nghiêm trì tụng kinh chú trước ngôi Tam Bảo và vânglời Phật dạy làm những việc ích mình lợi người, bốthí phóng sanh để cầu cho thế giới hòa bình chúng sanh anlạc, thì sự cầu nguyện ấy mới đúng với Chánh pháp.

Sự an hay bất an được thể hiệnở trên hai lãnh vực là thân và tâm. Khi thân bị bệnh, bịđói khát, rét mướt, tai nạn, tật nguyền, bị tra tấn đánhđập v.v... đó là những bất an của thân. Khi tâm sầu muộn,bi ai, âu lo, sợ sệt, ân hận hay uất hận, giận hờn, bịcác phiền não của tham, sân, si chi phối đó những mối bấtan của tâm.

Ở đời cũng có những hạnh ngườisống hời hợt, chỉ biết tìm cầu sự an lành ở thể chấtqua sự đáp ứng cho những đòi hỏi như: ăn ngon, mặc đẹp,lắm của nhiều tiền, mong cho tai qua nạn khỏi, công thànhdanh toại, chứ ít khi nghĩ đến sự an lành cho tâm hồn, nênhọ thường thản nhiên để cho tham tâm khởi, si tâm, kiêucăng, ngã mạn khởi. Kết quả họ là phải chuốc lấy nhiềuphiền muộn, ray rứt ân hận đè nặng lên tâm thức hằngngày, hằng giờ, từng phút, từng giây không bao giờ nguôi.

Trong mối tương quan tương duyêngiữa thân và tâm quyện vào nhau thì những nỗi bất an hoặcsự an lành của thân và tâm khó mà trình bày một cách táchbạch. Hơn nữa, vấn đề cảm nhận còn tùy vào nhận thứcvà khả năng tu tập.

Trình bày một cách giản lược,thì sự bất an và an lành được tác động trên hai lãnh vựclà bên ngoài và chính tự trong ta.

Những cái bất an đau khổ từ bênngoài đưa đến, đó là sự bất an của hoàn cảnh, như bịtai nạn, bị đánh đập, tai trời vạ người. Muốn tránh,ta phải có những hành động thích ứng để đem lại an lành.Nếu bị bất an do đói rét, ta phải tìm công ăn việc làm,phải cần mẫn, làm việc có phương pháp để đem lại cơmno áo ấm. Khi thân nhuốm bệnh, ta phải điều trị, uốngthuốc, biết đi dưỡng và đề phòng.

Còn sự bất an chính tự trong talà những sầu, bi, khổ, ưu, não. Muốn tránh những bất anấy, ta phải trì tụng kinh chú, tức là trau dồi tâm ta bằngcách tu tâm dưỡng tánh, thực hành theo giáo lý của đứcPhật dạy. Như đau khổ vì tham tâm, ta cố gắng tu pháp mônbố thí. Quán rõ thật tướng của vạn pháp là vô thường,khổ, vô ngã cho lòng tham lắng xuống. Khi sân làm ta đau khổ,thì phải tu pháp quán từ bi, tu pháp nhẫn nhục, để đậptan ngọn lửa sân hận đang hừng hực đốt cháy từ tâm củata. Nếu đau khổ vì si mê tật đố, ta phải tu pháp quán nhânduyên, để nhận thức rõ ràng tất cả sự vật đều do nhânduyên giả hợp, là trống rỗng, là hư dối, chứ không phảilà chắc chắn như ta tưởng. Khi đã quán rõ được các phápnhư vậy, thì tự nhiên tâm bỉ thử, tật đố lắng xuốngnhường chỗ cho một nhận thức rộng rãi hơn, sáng suốthơn, không bị cái bỉ thử, tham lam chấp thủ làm điên đảo.

Giải trừ được sự tác độngcủa tham, sân, si trong tâm, đó là cách cầu an làm cho tâmhồn nhẹ nhàng trong sáng.

Ngài Thần Quang đến cầu xin TổBồ-đề-đạt-ma an tâm cho mình, cũng chính vì lẽ này.

Thần Quang là một cao tăng TrungHoa, sau khi mệt nhọc lặn lội tìm đến gặp Tổ Bồ-đề-đạt-mađang ngồi lặng nhìn vách tại chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn,âncần tha thiết van xin Tổ giải thoát nổi thống khổ ray rứtcủa lòng mình, nhưng Tổ vẫn yên lặng, lầm lì thản nhiênmột cách tàn nhẫn. Thần Quang không nản chí, đứng suốtđêm giữa tuyết với đôi mắt long lanh, hoài vọng. Tổ cảmthấy động lòng, liền hỏi:

- Ngươi đến đây để cầu việcgì?

Thần Quang rưng rưng nước mắtvội thưa:

- Bạch Thầy, tâm con không an, xinThầy an tâm cho.

- Người hãy đem tâm ngươi ra đây,ta an cho.

Thần Quang sửng sốt một hồi lâu,rồi thưa tiếp:

- Bạch Thầy, con kiếm tâm mà chẳngthấy đâu cả.

Tổ đáp:

- Ðó, ta đã an tâm cho người rồiđó (Vô môn quan).

Ðây là một cách an tâm thâm thúynhất trong muôn vàn cách an tâm mà đức Phật đã dạy, đượcghi lại thành văn và không thành văn. Nếu ai có một tâm hồntha thiết cầu an tâm và biết tiếp thu thấu đáo pháp an tâmcủa đức Phật thì chắc chắn cũng được an tâm như ngàiThần Quang.

Vậy vấn đề cầu an không phảichỉ một mực cầu an thân mà bỏ mất sự cầu an nơi tâmhồn. Nếu thân không có tâm thì đó là một đống thịt,một xác chết. Cho nên, thể xác được an lạc khi có sựcảm nhận ấy của tâm thức, và cấp độ an lạc cũng tùythuộc vào sức mạnh của tâm thức. Như có người dù bệnhnhẹ, nhưng tâm hồn yếu đuối, khiếp nhược thì nỗi khổđau của cơn bệnh sẽ tăng gấp bội. Và ngược lại, ngườibị bệnh nặng, nhưng với tâm thức bình tĩnh sáng suốt,có ý chí vững mạnh, không giải đải buông xuôi, thì nỗikhổ đau của cơn bệnh cũng được giảm thiểu. Với sứcmạnh của tâm hồn, tức là tâm an lạc, có tác động làmvơi đi những khổ đau ở thân xác.

Ở đời thường có hai hạng ngườisống theo hai lối sống thái quá: - Có hạng chỉ chú trọngcưng dưỡng thân xác, tạo an lạc cho thân xác bằng sự thỏamãn những ham muốn nhục dục. Lại có hạng quá khổ hạnhbằng sự tiết chế tất cả những nhu cầu tối thiểu vàtự hành hạ thân xác. Ðó chỉ là những lối sống khôngtrung đạo, thiếu cân bằng mà ngày xưa đức Thế Tôn đãtừ bỏ và cấm các đệ tử thực hành.

Trong bài pháp Tứ đế đầu tiêncho năm vị Tỷ-kheo, câu mở đầu Ngài dạy rằng:

Có hai thái cực cần phảitránh xa:

- Thái cực thứ nhất là sống xahoa trụy lạc vật dục, đó là lối sống thấp hèn, khôngđưa đến giải thoát, cần phải tránh.

- Thái cực thứ hai là sống épxác khổ hạnh, nhịn ăn nhịn mặc, chịu đói chịu rét, đứnggiữa trời, nóng lạnh hành hạ, thì đó cũng là lối sốngtà vạy không đưa đến giải thoát, cần phải tránh.

Ðức Phật khuyên cần phải tránhxa hai lối sống ấy để tu hành mới đưa đến giải thoát.Như vậy Ngài không phủ nhận đời sống về thể xác, nhưngNgài cũng không tán dương cái lối sống tham đắm vật chất,chỉ biết chú trọng đến thân mà không chú trọng đến tâm.Lời dạy của đức Phật nhắc nhở cho tất cả ai muốn đitrên con đường an lạc, thì trước nhất phải có lối sốngquân bình, chứ không phải bỏ ăn, bỏ làm, ghét bỏ củacải hoặc phung phí của cải, nhưng phải biết sống khôngsay mê vật chất, không say mê theo đời sống dục lạc, xahoa, không tìm hạnh phúc, không chôn vùi cuộc đời vào cầnsa thuốc phiện, chén rượu sòng bạc. Ðức Phật đã bỏquốc thành, thê tử đi xuất gia là dạy cho chúng ta bài họcđó. Nhiều tiền chưa hẳn có hạnh phúc, chức trọng quyềncao chưa chắc có hạnh phúc. Các yếu tố vật chất chỉ lànhững phần phụ thuộc, còn cái hạnh phúc chân thật bao giờcũng chính là trong lòng chúng ta.

Khi lòng ta khởi tham lam do bị tiềncủa chi phối, bị quyền lợi danh vọng chi phối, thì tấmlòng của ta trở nên hẹp hòi ích kỷ, khi đã ích kỷ thìnó không thể trải rộng để hứng lấy những hạnh phúccao thượng, chân thật được. Bởi vậy, trên bước đườngtu tập cầu giải thoát an lạc, người Phật tử phải chútrọng tu tập cả hai mặt thể xác lẫn tâm hồn. Với thểxác luôn luôn phải biết tri túc, cần có cơm đủ no, mặcđủ ấm, cần đủ những tiện nghi tối thiểu mà không nênhưởng thụ tham đắm vật chất tức là phải sống quân bìnhkhông để rơi vào hai thái cực như Phật đã dạy. - Vớitinh thần, phải giữ cho tâm hồn luôn luôn được trong sáng,được rộng rãi. Người Phật tử càng biết mở rộng từbi tâm, càng diệt trừ được chấp thủ, tham ái thì càngcó hạnh phúc chân thật. Khi tâm hồn không trong sáng nhiềutham đắm thì dù ở trên vàng trên bạc họ vẫn không cholà đủ, vì còn mong cầu là còn khổ. Hạnh phúc chỉ đếnvới những tâm hồn biết tiết chế, có đạo đức cao cả,có tu tập theo giáo pháp đức Phật, sống trong sáng, hướngthiện, sống vô tham, biết đủ như trong kinh Di Giáo đã dạy:"Người nhiều ham muốn, nhiều tham cầu lợi dưỡng nên khổnão cũng nhiều. Người biết đủ tuy nằm dưới đất màvẫn lấy làm an vui, người không biết đủ, dù ở thiên đườngvẫn không vừa ý".

Chúng ta nhìn lên gương chư Tổđức, quý ngài có đời sống vật chất rất đơn sơ, đạmbạc, thế mà tâm hồn quý ngài rất tự tại, rất khoan khoái,rất an nhiên vui vẻ. Không hề thoáng những nét cau có, giậnhờn hoặc buồn rầu. Vì sao như vậy? Bởi vì tâm hồn củaquý ngài đã lướt trên tất cả những tầm thường củađời sống thế gian, đời sống của tham lam ích kỷ. Quýngài đã làm chủ được tâm, điều phục được tâm, đểtâm không bị chi phối bởi ngoại cảnh, bởi tham, sân, si,nên đối trước hoàn cảnh nào quý ngài vẫn tự tại an vui.Ðúng là "Tâm bình thế giới bình, tâm xuân vũ trụ xuân".

Cho nên Phật đã dạy: "Tự tạivới tâm, tự tại với pháp". Thường chúng ta chỉ đi tìmsự an bình trong thế giới hiện tượng, tìm nguồn vui trongvũ trụ vật chất luôn chuyển biến vô thường, nên chúngta chỉ nắm bắt được những bào ảnh an lạc. Và chính cáilạc ấy lại là nhân của cái khổ, nhân quả quả nhân, mãivận hành, trong quá trình sinh tử.

Có một hôm, đức Thế Tôn ngồimột mình trên đám cỏ, một người đi qua thấy vậy liềnhỏi:

- Sa-môn Cù-đàm có sầu muộn haysao mà ngồi một mình cô độc thế?

Ðức Phật trả lời:

- Ta mất gì mà Ta sầu muộn?

Ông ta lại hỏi:

- Nếu không sầu muộn thì chắclà Ngài hoan hỷ, mà hoan hỷ thì sao lại ngồi cô độc mộtmình?

Ngài lại trả lời:

- Ta được gì mà Ta hoan hỷ?

Người đó ngạc nhiên hỏi lại:

- Không sầu muộn thì hoan hỷ, khônghoan hỷ thì sầu muộn. Ngài không hoan hỷ, không sầu muộnlà nghĩa làm sao?

Ngài trả lời rằng:

-Hoan hỷ chỉ đến với ngườicó tâm sầu muộn, sầu muộn chỉ đến với người có tâmhoan hỷ. Ta đã dứt bỏ nguồn gốc của sầu muộn rồi, chonên Ta không sầu muộn, cũng không hoan hỷ. Tâm ta không daođộng.

Qua lời dạy ngắn gọn, nhưng hàmchứa một ý nghĩa thâm sâu vô cùng, giúp ta soi rọi vào thựctế cuộc đời để thấy rằng: hoan hỷ là điều ngườiđời mong muốn, và chỉ đạt sự mong muốn qua sự nắm bắt,chấp thủ, như mong cho được trúng số độc đắc, mong sựước muốn tìm cầu của cải vật chất, như vậy thì cáihoan hỷ đó là những hoan hỷ đi đến với người có tâmthiếu thốn và sầu muộn, và sau hoan hỷ đó chắc chắn lànhững sầu muộn âu lo của mất mát. Như người vừa trúngsố thì sung sướng vô cùng nhưng liền sau đó không khỏilo sợ bà con biết sẽ đến xin, đến mượn, hoặc bị mất,hoặc bị cháu con tranh giành làm mất hòa khí gia đình. Nếucố giấu không cho ai biết thì cũng phập phồng sợ ngườita biết.

Tham cầu là một nỗi khổ, khi thànhđạt là một sự hoan hỷ, rồi mất mát lại là một nỗikhổ. Sầu muộn rồi hoan hỷ, hoan hỷ rồi sầu muộn cứnối đuôi nhau mãi.

Có người đang cồn cào vì cơnđói, đang khổ vì đói, nếu ai đem cho ổ bánh ma thì họrất sung sướng, rất hoan hỷ. Thế là hoan hỷ đi đến vớingười có tâm sầu muộn.

Có người trong ngày Tết mặc chiếcáo đẹp, đang hoan hỷ trong chiếc áo đẹp, bỗng bị mộtkẻ tinh nghịch ném pháo làm áo bị rách, loang lỡ làm ngườiấy tức tối, sầu muộn, như vậy là sầu muộn đi đôi vớingười có tâm hôn hoan hỷ.

Cuộc đời chúng ta cứ mãi diễnđi diễn lại, hoan hỷ rồi sầu muộn; sầu muộn rồi hoanhỷ. Ngày qua tháng lại. Suốt cả cuộc đời mãi loanh quanhở trong cái vòng, cái tâm lượng của chúng sanh phân biệt,so đo nhơn ngã mà có như thế.

Ðức Phật, Ngài đã dứt hết nguồngốc chấp thủ, tức là diệt hết nguồn gốc của khổ đau.Ngài luôn hoan hỷ, một sự hoan hỷ không tạo nên bằng tiềntài danh vọng, chức quyền mà là một sự hoan hỷ đã dứtsạch nguồn gốc khổ đau, tức dứt sạch vô minh, tham ái,chấp thủ. Bởi vậy, Ngài dạy: "Ta không hoan hỷ cũng khôngsầu muộn". Nhưng chính cái không hoan hỷ không sầu muộntrong đối đãi ấy, mới là một sự hoan hỷ không thể diễnđạt bằng cái quan niệm so sánh, bỉ thử của nhị nguyên,của người trúng số đầy mong cầu và tham đắm.

Cái hoan hỷ của đức Phật đượctạo nên bằng trí giác ngộ, bằng tâm từ bi, lòng hỷ xả,đó là sự hoan hỷ vi diệu, vĩnh cửu. Một sự hoan hỷ phátxuất từ nội tâm của một người tu tập đã tự tại vớinguồn tâm. Ðó là sự hoan hỷ không bị ai cướp mất vìkhông phải giành của ai mà có được, nhưng lại ban bố chotất cả.

Cho nên, hễ học Phật, chúng tacố gắng xây dựng niềm hoan hỷ, an lạc bằng những côngphu tu tập, trưởng dưỡng từ bi, khơi sáng nguồn tri giác,thì sự hoan hỷ an lạc đó đằng sau không nhuốm bóng dángsầu muộn, sợ hãi.

Người có tu tập là người hiểubiết tâm, khi tham tâm khởi, sân tâm khởi, tâm kiêu mạn khởi,v.v... thì phải điều phục tâm, chế ngự tâm để trở thànhtự tại, tâm giải thoát. Ðược thế, thì trước bất cứmột hoàn cảnh nào cũng được tĩnh giác, tâm không bị chiphối. Ðã thế, ta lại còn chủ động, biết sử dụng mọiphương tiện, mọi đối cảnh, để phục vụ những mục đíchcao đẹp. Làm chủ được đời sống cả vật chất lẫn tinhthần là cách sống an lạc, tự tại giải thoát.

Là người Phật tử còn sống trongtương quan giữa cuộc đời, chúng ta cần phải có tiền, cầncó cơm ăn, áo mặc, cần có mọi tiện nghi cần thiết trongcuộc sống. Song cũng phải cần có từ bi hỷ xả, cần cótrí tuệ, có bố thí, trì giới v.v...

Thực hiện lời Phật dạy đểxây dựng bản thân và xã hội tốt đẹp là cách cầu an đầunăm thiết thực nhất, đem lại an lạc cho nhiều đời, hiệntại cũng như tương lai.

Chúng ta tụng kinh, lạy Phật cũngchỉ với mục đích trưởng dưỡng thiện tâm và tiến dầnđến giải thoát tâm vậy.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/07/2015(Xem: 17729)
1. Bí mật của Đức Đạt Lai Lạt Ma: Đừng lo lắng về những thứ bạn không thể thay đổi và hãy có được chín giờ ngủ mỗi đêm. 2. "Mang theo thông điệp tình yêu, lòng khoan dung, và sự tha thứ." 3. "Hãy xem nhân loại là đồng nhất, sau đó không có cơ sở để giết hại lẫn nhau. Tôi yêu đời sống của tôi. Mọi người đều có quyền được sống hạnh phúc. Hầu hết các vấn đề gây ra bởi con người. Giết chóc, bắt nạt, bóc lột. Chúng ta phải tìm giải pháp dài hạn. Điều này rất khó khăn.
01/07/2015(Xem: 25604)
Hề chi một phận đời riêng Buông hơi nằm xuống mà nghiêng đất trời Thiếu ta, đời cũng vậy thôi! Ta là hạt bụi giữa đời bao la..
01/07/2015(Xem: 30143)
Trong sinh hoạt thường nhật ở Chùa ai ai cũng từng nghe qua câu “Ăn cơm Hương Tích, uống trà Tào Khê, ngồi thuyền Bát Nhã, ngắm trăng Lăng Già “, do đó mà nhiều người thắc mắc “Thuyền Bát Nhã” là loại thuyền như thế nào? Bài viết này sẽ giải đáp đôi điều về nghi vấn ấy. Nói theo Thập Nhị Bộ Kinh, Thuyền Bát Nhã là pháp dụ, tức lấy thí dụ trong thực tế đời thường để hiển bày pháp bí yếu của Phật. Thuyền là chỉ cho các loại thuyền, bè, ghe đi lại trên sông, trên biển. Còn Bát Nhã là trí tuệ, một loại trí tuệ thấu triệt cùng tận chân tướng của vạn pháp trên thế gian là không thật có, là huyền ảo không có thực thể, mà nói theo Đại Trí Độ Luận thì mọi thứ trên thế gian này như bóng trong gương, như trăng dưới nước, như mộng, như sóng nắng… để từ đó hành giả đi đến sự giác ngộ giải thoát vì giác ngộ được chân lý “Nhất thiết pháp vô ngã”. Do vậy, Thuyền Bát Nhã chính là con thuyền trí tuệ có thể chuyên chở chúng sanh vượt qua biển khổ sanh tử để đến bến bờ Niết bàn giải thoát an vui.
01/07/2015(Xem: 33442)
Chủ đề Một Cõi Đi Về, Thơ và Tạp Bút tập hai, một lần nữa, được cái cơ duyên thuận lợi hân hạnh ra mắt quý độc giả. Cách đây ba năm tập một đã được xuất bản vào năm 2011. Hình thức và nội dung của tập hai nầy, cũng không khác tập một. Nghĩa là chúng tôi cũng chia ra làm hai phần: Phần đầu là thơ và phần sau là những bài viết rải rác đã được đăng tải trên các tờ Đặc san Phước Huệ. Tờ báo mỗi năm phát hành ba kỳ vào những dịp đại lễ như: Phật Đản, Vu Lan và Tết Nguyên Đán. Do đó nên những bài viết có những tiêu đề trùng hợp và nội dung có chút ít giống nhau. Tuy nhiên, mỗi bài đều có những sắc thái hương vị riêng của nó. Ngoài ra, có những bài viết với những tiêu đề khác không nằm trong phạm vi của những ngày đại lễ đặc biệt đó. Nay chúng tôi gom góp tất cả những bài viết đó lại để in chung thành một quyển sách tập hai nầy. Về ý nghĩa của chủ đề nói trên, chúng tôi cũng đã có trình bày rõ trong tập một. Ở đây, chúng tôi không muốn lặp lại. Điều quan trọng mà chúng tôi muốn nói ở đây là
01/07/2015(Xem: 15750)
Có những tiếng những lời những âm thanh nghe hoài không chán, nghe mãi không quên, không nghe thì trông ngóng đợi chờ. Tiếng nói của người thương kẻ nhớ kẻ đợi người mong, âm thanh của những ngọt ngào êm dịu, lời ru miên man đưa ta về miền gợi nhớ, những yêu thương da diết chôn dấu trong từng góc khuất, những trăn trở buồn vui có dịp đi qua. Và còn nữa, những thứ mà lúc nào ta cũng trông mong, lời khen tán thưởng tiếng vỗ tay tung hô của thiên hạ.
29/06/2015(Xem: 28643)
Như truyền thông đại chúng đã loan tải vào ngày 24 tháng 4/ 2015 một trận động đất xảy ra tại đất nước Nepal đã làm thiệt mạng gần 9.000 nạn nhân, và làm sập hư trên 100.000 ngôi nhà, trong hiện tại có trên 200.000 người không nhà cửa, và hàng ngàn trẻ em mồ côi cha mẹ. Nhìn thấy cảnh đời bể dâu tang thương đổ nát của người dân Nepal, Hòa Thượng Hội Chủ Thích Như Huệ đã ra thông tư, cũng như tâm thư kêu gọi lòng từ tâm của người con Phật. Sau gần 2 tháng kêu gọi, với tấm lòng tùy tâm của đồng hương Phật tử xa gần trong và ngoài nước Úc, cũng như 37 tự viện thành viên của Giáo Hội đã đem đến kết quả với số tiền cứu trợ là $ 304.900. Úc Kim. Phái Đoàn Cứu Trợ Nepal thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan đã lên đường vào tối ngày 8.6.2015 tại sân bay Melbourne.
29/06/2015(Xem: 10535)
Thời tiết mùa hè năm nay bất thường. Đã có những ngày quá oi bức, và cũng có những ngày lù mù, không mưa không nắng, gió se lạnh. Khí hậu đôi khi cũng tác động vào lòng người, khiến họ dễ bẳn gắt, khó chịu. Những người đã nuôi dưỡng từ lâu sự kỳ thị, thành kiến, hay tỵ hiềm nào đó, có thể bị thời tiết nóng bức châm ngòi cho sân hận và sự bạo động. Đã có những cuộc khủng bố đơn phương hoặc nhân danh tổ chức (thế tục hay tôn giáo) diễn ra khắp hành tinh trong những tháng năm qua.
27/06/2015(Xem: 17192)
Qua 4000 năm Văn Hiến của dân tộc thì trên 2000 năm, Phật giáo có mặt, đồng hành cùng dân tộc. Tính từ thời lập quốc họ Hồng Bàng – Kinh Dương Vương tên nước là Xích Quỷ (năm 2879 trước c.n) đến thời nhà Lý vào năm 1010-1225 đã là 4000 năm, đến nay cũng gần 5.000 năm. Từ thời lập quốc ở Trường Giang, bị Hoa tộc lấn dần cho đến Hùng Vương qua 18 đời, đất nước Văn Lang chỉ còn lại Bắc Việt và Bắc Trung Việt ngày nay.Quê hương vốn ở Hồ Động Đình, do Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh 100 con lập quốc. Kinh Dương Vương là con của Đế Minh và Vụ Tiên, là cháu ba đời của Thần Nông, mà Thần Nông là một trong Tam Hoàng thời thượng cổ.Như thế, Lạc Long Quân là con của Kinh Dương Vương, Kinh Dương Vương là họ Hồng Bàng, lấy quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương truyền ngôi cho Lạc Long Quân, Lạc Long Quân truyền cho Hùng Vương, lấy quốc hiệu là Văn Lang. Từ thời kinh Dương Vương lập quốc đến nay, dân tộc trãi qua 11 lần thay danh đổi hiệu:
24/06/2015(Xem: 41639)
Lời vàng của Thầy tôi, một Hướng dẫn vào các sự Chuẩn bị cho Tâm-yếu của Phạm Vi Bao La từ Đại Viên Mãn, trình bày các con đường của bốn trường phái chính của Phật Giáo Tây Tạng mà không có bất kỳ mâu thuẫn nào giữa chúng.
23/06/2015(Xem: 18211)
Câu hỏi: Lý do tại sao Trịnh Hội lại đi học tu? Có phải bị mất phương hướng cuộc đời hay chán cuộc đời nhiều phiền toái?(Than Nguyen ) Trả lời: Xin chào anh Than Nguyen. Có hai lý do chính thưa anh. Thứ nhất vì cách đây 3 năm mình có lời cầu nguyện với chư Phật là nếu cho mình cơ hội làm xong công việc giúp những thuyên nhân Việt Nam cuối cùng tại Thái Lan, mình sẽ xuống tóc để cảm ơn. Thứ hai là, một công hai việc, mình muốn và cần một thời gian tĩnh lặng để xem mình thật sự muốn làm gì trong suốt quãng đời còn lại.