Kinh Pháp Cú

1. Giới thiệu Kinh Pháp Cú

Theo ông Harischandra Kaviratna (Dhammapada - Wisdom of the Buddha, Theosophical University Press, Pasadena, USA, 1980), đây là tấm ảnh chụp bản Kinh Pháp Cú hiện được lưu trữ tại Viện Bảo Tàng Quốc Gia ở Colombo, Sri Lanka. Bản kinh bằng văn tự Pali viết trên lá bối, mỗi trang có kích thước 45 cm x 6.5 cm, và được xem như là bản cổ xưa nhất của quyển kinh nầy. Bìa kinh làm bằng gỗ, với bìa trước có khắc hình các tháp xá lợi và cây bồ đề nơi Đức Phật thành đạo. Bìa sau có khắc hình Đức Phật nhập Đại Niết Bàn.

Giới thiệu Kinh Pháp Cú - Dhammapada

Bình Anson

Kinh Pháp Cú (Dhammapada) là một trong 15 quyển kinh thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikaya) trong Kinh tạng Pali (Suttanta Pitaka). Đây là một quyển kinh Phật giáo phổ thông nhất và đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Pháp (Dhamma) có nghĩa là đạo lý, chân lý, lời dạy của Đức Phật; Cú (Pada) là lời nói, câu kệ. Ngoài ra, trong ngữ văn Pali, "Pada" còn có nghĩa là con đường. Do đó, Dhammapada thường được dịch là Con đường Chân lý (Path of Truth), Con đường Phật Pháp (Path of the Buddha's Teaching).

Dhammapada là tập hợp 423 bài kệ do đức Phật nói ra trong nhiều dịp khác nhau, trong suốt 45 năm hoằng dương Chánh Pháp của Ngài. Các bài kệ nầy được sắp xếp trong 26 phẩm, do các vị đại đệ tử thu xếp và tụng đọc trong Đại hội Kết tập Kinh điển lần đầu tiên sau khi Đức Phật nhập diệt. Mỗi bài kệ chứa đựng một nội dung tu học rất sâu sắc và phong phú, không thể nào chỉ đọc một lần mà hiểu hết được. Cần phải đọc đi đọc lại nhiều lần, tra cứu các bản chú giải, và suy nghiệm từ các tu chứng tự thân thì mới mong thông ngộ và thấu đạt ý nghĩa của các lời dạy cao quý đó. Mỗi bài kệ là một nguồn cảm hứng cao đẹp, một lối đi mới lạ, một sức mạnh kỳ diệu giúp chúng ta có một niềm tin vững chắc hơn trên con đường tu học để tiến đến giác ngộ, giải thoát.

Trong phiên bản điện tử nầy, chúng tôi cố gắng trình bày trong dạng đối chiếu song ngữ Anh Việt. Bản dịch Anh ngữ được dựa theo bản dịch của Tỳ kheo Khantipalo -- nay là ông Lawrence Mills -- năm 1977 [1] và đã được bà Susanna nhuận sắc năm 1993 [2]. Bản nầy được Tỳ kheo Pannyavaro đưa vào mạng lưới truyền thông điện tử Internet vào năm 1998, tại trang nhà BuddhaNet, Sydney, Australia (http://www.buddhanet.net/). Chúng tôi cũng có dùng các bản dịch khác [3, 4] để tra cứu thêm.

Bản dịch Việt ngữ dùng trong phiên bản nầy dựa theo bản dịch mới nhất của Hòa thượng Thích Minh Châu [6], có nhiều sửa đổi so với bản dịch năm 1969 [5]. Ngoài ra, chúng tôi có tham khảo với các bản dịch khác [7, 8, 9, 10], nhất là bản dịch từ chữ Hán của Hòa thượng Thích Thiện Siêu [12] với nhiều chú thích chi tiết.

Chúng tôi cũng cố gắng sưu tầm các bài trích giảng dựa theo Kinh Pháp Cú để giúp quý đạo hữu có thêm các tư liệu để tra cứu quyển kinh quý báu nầy.

Bình Anson,
tháng 6 - 1998,
Perth, Western Australia

Tham khảo

1. Bhikkhu Khantipalo, 1977. Dhammapada - The Path of Truth. Mahamakut Press, Bangkok.

2. Weragoda Sarada Mahathera, 1993. Treasury of Truth - Illustrated Dhammapada. The Buddha Educational Foundation, Taipei.

3. Burma Pitaka Association, 1986. The Dhammapada - Verses and stories. Rangoon.

4. Narada Mahathera, 1971. The Dhammapada. Reprinted by the Buddha Educational Foundation, Taipei (1995).

5. Thích Minh Châu, 1969. Kinh Lời Vàng - Dhammapada. Chùa Từ Quang ấn tống (1977), San Francisco.

6. Thích Minh Châu, 1996. Kinh Pháp Cú - Dhammapada. Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Sài Gòn.

7. Thích Thiện Châu, 1978. Pháp Cú - Dhammapada. Chùa Trúc Lâm, Paris.

8. Phạm Thiên Thư, 1973. Suối Nguồn Vi Diệu - Thi hóa tư tưởng Dhammapada. Chùa Khánh Anh ấn tống (1993), Paris.

9. Đinh Sĩ Trang, 1997. Lời Phật Dạy - Dhammapada. Chùa Chánh Giác ấn tống, Perth, Western Australia.

10. Tỳ kheo Giới Đức, 1995. Kinh Lời Vàng - Thi hóa Dhammapada Sutta. NXB Thuận Hóa, Đà Nẳng.

11. Phạm Kim Khánh, 1971. Kinh Pháp Cú - The Dhammapada. Sài Gòn (dịch từ bản Anh ngữ và chú giải của Hòa thượng Narada).

12. Thích Thiện Siêu, 1993. Kinh Pháp Cú. Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Sài Gòn.

Pháp Cú: Bản kinh sưu tập cổ xưa nhất

Thích Quảng Bảo
(Dịch theo Lakehouse) ...

Colombo - Mỗi tu sĩ Phật giáo nên có một bản kinh pháp cú ở nơi nghiên cứu của mình bởi vì đây là kim chỉ nam làm cho nguồn tâm toả sáng đưa đến cuộc sống giới hạnh. Người tu sĩ Phật giáo phải đọc và tìm hiểu bản kinh này để thành tựu những kết quả tốt nhất.

Bộ Pháp cú bao gồm một bản trích yếu gồm 423 bài kệ được trích dẫn từ Tiểu Bộ Kinh, nằm trong tam tạng Thánh điển.Tam tạng kinh, chủ yếu bao gồm những bài pháp được Đức Phật thuyết giảng trong suốt 45 năm thực hiện sứ mệnh độ sanh của Ngài. Ngoài ra, còn có một số bài pháp được một số vị đệ tử xuất chúng đương thời thuyết giảng như Ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên và A nan.

Tam Tạng được phân chia thành năm phần chính: đó là Trường Bộ Kinh (Digha-Nikaya), Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya), Tương Ưng Bộ kinh (Samyutta Nikaya), Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara Nikaya) và Tiểu Bộ Kinh (Khuddata Nikaya).

Tiểu Bộ Kinh bao gồm: 1. Khuddakapatha; 2. Dhammapada; 3. Udàna; 4. Itivuttaka; 5. Suttanipàta; 6. Vimànavatthu; 7. Petavathu; 8. Theragàtha; 9. Therìgàthà; 10. Jàtaka; 11. Niddesa; 12. Patisambhidà; 13. Apadàna; 14. Buddhavamsa; 15. Cariyàpitaka.

Tam Tạng Kinh điển Phật giáo bao gồm những lời dạy của đức Phật, được phân chia thành ba phần chính: Kinh (Sutta Pitaka); Luật (Vinaya Pitaka) và Luận (Abhidhamma). Đối với những tư tưởng gia sâu sắc, uyên thâm, Luận Tạng là phần quan trọng nhất trong Tam Tạng bởi vì nó chứa đựng triết lý uyên thâm nhất của giáo lý đức Phật, và ngược lại từ những Bộ Luận này, giáo lý của đức Phật được kết tập trong Kinh Tạng được làm tỏ sáng thêm.

Kinh Pháp cú (Dhammapada), gồm 26 phẩm, có những bài kệ được kết hợp với những ví dụ cụ thể quá sinh động, súc tích, và cảm hứng đến nỗi cuốn kinh có thể được xem như là bộ tuyển tập thánh điển cổ xưa nhất trên thế giới. Đó là một thánh điển chứa đựng bức thông điệp vượt thời gian và đã thu hút tâm thức nhân loại hơn 2500 năm qua. Bộ tuyển tập này đã chiếu sáng nguồn tâm của nhều học giả và giới trí thức Tây phương và họ cho rằng bộ tuyển tập này là một trong những bộ thánh điển thiêng liêng nhất của Đông phương.

Vào năm 1855, bộ tuyển tập Pháp cú được một học giả thông thái người Đức Fauboll chuyển dịch sang ngôn ngữ Latinh. Năm 1870, giáo sư Max Muller chuyển dịch bộ này sang Anh ngữ và lập tức sau đó được đông đảo quần chúng tại phương Tây ủng hộ và họ yêu cầu xuất bản bộ tuyển tập này nhiều lần. Năm 1914, Hội Pàli Text tái xuất bản Bộ Kinh Pháp cú này và ông F.L.Woodward dịch sang Anh ngữ vào năm 1921. Giới học giả và những người có trình độ học thức Tây phương, không phân biệt niềm tin tôn giáo, đã nghiên cứu bộ Pháp cú nhằm giúp họ phát triển về tâm linh để mà tự bản thân họ có thể thanh tịnh hoá tâm thức của mình không còn bị nhiễm ô bởi đám mây vô minh che khuất. Ngày nay, nhiều người Âu Châu bắt đầu theo đạo Phật và tìm hiểu kinh điển Phật giáo. Họ nhận ra rằng Kinh điển Phật giáo là một chân lý không mang tính chất giáo điều.

Bộ Pháp cú không phải do chính đức Phật thuyết giảng như hình thức của bộ kinh hiện nay. Ba tháng sau khi đức Phật nhập Bát Niết Bàn (Maha-Parinibbana), vào năm 543 trước Tây Lịch, chư vị đệ tử của Ngài, những vị tham gia kết tập Thánh điển ở hội nghị kết tập lần thứ nhất nhằm trùng tuyên Pháp, đã sưu tập một số trong những bài kinh được thuyết giảng chính từ kim khẩu đức Phật trong những lần thuyết giảng khác nhau và sắp xếp chúng lại theo như hình thức hiện nay với mục đích làm cho thích hợp với tâm lý và tính cách của giới độc giả và người nghe.

Một bản Sớ giải rất giá trị về bản Kinh Pháp cú đã được giáo sư E.W. Burlingame (Tích truyện Pháp Cú - Buddhist Legends), chuyển dịch sang Anh ngữ, với quan niệm là khiến cho con người của thời đại chú ý đến hệ thống triết lý, luân lý, đạo đức của Phật giáo chứa đựng trong bản kinh này.

Kinh Pháp cú là một thánh điển mang bức thông điệp vượt thời gian, với hy vọng và niềm hân hoan hạnh phúc cho những người chán nản, buồn bã, một bức thông điệp đầy trí tuệ cho người vô minh, một bức thông điệp cảnh báo cho những người không cảnh giác, ý thức, một bức thông điệp hướng dẫn cho những con người mang đầy tội lỗi ý thức về những hành động đã phạm phải, và một bức thông điệp với sự trân trong và khích lệ đối với những ai đã và đang bước đi trên con đường chân chính đưa đến Niết Bàn. Trong khi vạch ra những sự hiểm nguy của một đời sống giãi đãi vô đạo, ý kinh làm thăng hoa cuộc sống và vẽ ra một bức tranh trong sáng và sinh động với nét đẹp huy hoàng cho những con người có sự tu tập tâm. Giáo sư Sarvapalli Radhakrishnan, giáo sư bộ môn Tôn giáo và Đạo đức học Đông phương thuộc trường đại học Oxford, Luân Đôn, Anh Quốc, phát biểu: "Giới hạnh con người, hành vi chân chánh, sự quán chiếu về tự ngã và thiền định thì quan trọng hơn là một chuỗi dây chuyền những suy cứu về thuyết tiên nghiệm. Dhammapada mang một sự hấp dẫn đối với thế giới tân tiến hiện thời đang sụp đổ dưới sự ảnh hưởng của tội lỗi xấu xa về mặt đạo đức".

Đức Phật dạy:

Tham ái sanh sầu ưu;
Tham ái sanh sợ hãi;
Ai giải thoát tham ái
Không sầu, không sợ hãi.
(Pháp cú, câu 216)

Tiến sĩ Casius A. Pereira, sau này xuất gia và thọ đại giới với pháp danh là Kasapa, phát biểu: "Nếu tôi phải chọn lựa bất kỳ cuốn kinh nào trong toàn bộ đại tạng kinh thì tôi sẽ chọn bản kinh Pháp cú mà không có một sự chần chừ nào hết. Bởi vì đó là bản kinh tốt nhất duy nhất trong toàn bộ hệ văn học trên thế giới này mang lại niềm khuây khoải cho những con người đang bị khổ đau hay bất hạnh. Người ta không bao giờ mất thời gian một cách vô ích để nghiên cứu giá trị vô cùng cao quý của những bài thi kệ này, hoặc là để tìm kiếm những lời khuyên cho cuộc sống hoặc là để giảm bớt khổ đau, mà là để tìm được nguồn an lạc, hân hoan và trí tuệ thể nhập".

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/02/2026(Xem: 320)
Tôi được mời phát biểu tối nay về sự xuất ly – tức là quyết tâm được tự do khỏi những vấn đề của chính mình – và đặc biệt là cách chúng ta có thể hiểu điều đó trong bối cảnh áp lực của cuộc sống ở một thành phố lớn, như ở đây là Moscow. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng khi bắt đầu phân tích chủ đề này, chúng ta sẽ nhận ra rằng phần lớn những vấn đề mà chúng ta phải đối mặt trong thế giới hiện đại không chỉ giới hạn ở việc sống trong một thành phố lớn.
11/02/2026(Xem: 1029)
Sách của Cư Sĩ Thiện Phúc - Phần 1 (PDF)
11/02/2026(Xem: 789)
(1):Làm Việc Thiện, Thực Hiện bằng: Tâm Thanh Tịnh,... (Bằng)Tâm Vô Ngã, Hướng Đến Giải Thoát thì sao? Đó là Công Đức hành trì những điều sau: Làm Thiện Không Danh Lợi, Không Cầu Báo Ân,
05/02/2026(Xem: 1469)
Nam Mô Di Lặc Tiên Quang Phật! Kính thưa chư Tôn đức, chư Pháp hữu & quí vị hảo tâm. Không còn bao lâu nữa là Xuân Bính Ngọ sẽ đến. Trong tâm tình Hiểu và Thương những mảnh đời bất hạnh, khốn khó ở quê nhà khi năm cùng tháng tận không biết lấy chi để mừng Xuân, đón Tết.. Duyên may, nhờ sự quan tâm san sẻ của chư Tôn đức Tăng Ni & quý vị Phật tử, các vị hảo tâm.. Hội Từ thiện Trái Tim Bồ Đề (Bodhgaya Heart Foundation) chúng con, chúng tôi vừa thực hiện một buổi phát quà từ thiện ''Xuân Yêu Thương'' dành cho những người dân nghèo tại xã Tóc Tiên, Châu Pha, Long Điền, Đất Đỏ, Phú Mỹ, Long Thành. (5 Feb 2026).
04/02/2026(Xem: 929)
HIỂU ĐÚNG VỀ XÁ LỢI PHẬT 🌹 Phật là người có thật trong lịch sử, không phải thần thoại Một trong những lý do khiến công chúng hoài nghi xá lợi là vì họ cho rằng “Phật chỉ là truyền thuyết”. Tuy nhiên, điều này không đúng về mặt học thuật. Các nghiên cứu hiện đại – từ Ấn Độ học, khảo cổ học, ngữ văn Pali/Sanskrit cho tới lịch sử Đông Nam Á – đã xác nhận rằng Siddhartha Gautama (tức Đức Phật Thích Ca) là một nhân vật lịch sử, sinh ra vào khoảng năm 563 TCN tại Kapilavastu, thuộc bộ tộc Śākya, vùng biên giới Ấn Độ – Nepal ngày nay.
04/02/2026(Xem: 1063)
NỘI DUNG SỐ NÀY: · THƯ TÒA SOẠN, trang 2 · THƯ CHÚC XUÂN (Chủ nhiệm Ns Chánh Pháp), trang 3 · NGUỒN VUI THÙ THẮNG (Nguyên Siêu) trang 4 · TIẾNG CHUÔNG, XUÂN THỂ (thơ HT Thắng Hoan), trang 6 · MÂY VẪN CÒN BAY (HT Thích Thái Hòa), trang 7 · THÔNG ĐIỆP TẾT BÍNH NGỌ 2026 (Hội Đồng Giáo Phẩm), trang 8 · THƯ CHÚC XUÂN BÍNH NGỌ 2026 (Hội Đồng Điều Hành), trang 9 · MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ (thơ Chúc Hiền), trang 10
03/02/2026(Xem: 1062)
NỘI DUNG SỐ NÀY: · THƯ TÒA SOẠN, trang 2 · THƯ MỜI LỄ ĐẠI TƯỜNG TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH THẮNG HOAN (GHPGVNTNHK), trang 5 · TƯỞNG NIỆM BẬC CHÂN NHÂN (thơ Thích Chúc Hiền), trang 6 · TIỂU SỬ VÀ HÀNH TRẠNG ĐLHT THÍCH THẮNG HOAN (Môn đồ pháp quyến), trang 7 · NGUỒN VUI, PHÁP NHŨ, TA VỚI TA, PHÁP HỶ (thơ HT Thích Thắng Hoan), trang 10 · TRƯỞNG LÃO HT THÍCH THẮNG HOAN, NỤ CƯỜI VÀ SỨ MỆNH HOẰNG PHÁP (Huỳnh Ki
03/02/2026(Xem: 957)
(I): Việc Làm Tạo Phước (1):Làm những Việc Thiện trong Đời Sống Thế Gian. Như Chăm Sóc Cha Mẹ, Xây Nhà Tình Thương,Cúng Dường Tam Bảo, Bố Thí Kẻ Bần Cùng,...Ấy, những việc TẠO PHƯỚC ta Thường Quan Tâm.
30/01/2026(Xem: 1051)
(A1): 13 từ (1): -Thím: chú Thím, bà Thím (2):- Bìm: Bìm bịp, Bìm bìm, giậu đổ Bìm leo,.. (3): -Nhím: con Nhím,... (4): -Sim: bụi Sim, quả Sim./. (5): -Ỉm: Im Ỉm, (6):-Chìm: Chìm đắm,...Chìm Bỉm, Chìm Lỉm, Chìm Nghỉm,
30/01/2026(Xem: 1486)
Đọc, sàng lọc lấy điều hay. Thực hành chí thiết, mong thay đổi đời. Phước lành hồi hướng về nơi: Quê hương Cực Lạc: cuối đời vãng sanh.