Như bóng không rời hình

30/09/201004:18(Xem: 11956)
Như bóng không rời hình

NHƯ BÓNG KHÔNG RỜI HÌNH

Thích Phước Đạt

blankThí dụ là một thủ pháp nghệ thuật ngôn ngữ dùng một hình ảnh cụ thể hay một trường hợp điển hình để minh họa cho một vấn đề mới. Trong các thuyết giảng của Đức Phật, Ngài luôn có những hình ảnh thí dụ để minh họa cho giáo lý và pháp môn tu tập. Rõ ràng việc sử dụng thủ pháp nghệ thuật này làm cho nội dung thuyết giảng được giải bày cụ thể, trong sáng, súc tích và giúp cho người học đạo nhận thức được vấn đề một cách trực tiếp.

Kinh Pháp Cú, bản kinh Pàli rất phổ biến và được ứng dụng rộng rãi trong đời sống thực tiễn của người Phật tử, có dấu ấn sử dụng thủ pháp nghệ thuật “thí dụ” trong ngôn ngữ. Các thí dụ trình bày trong bản kinh này đều gần gũi với sự vật, hiện tượng xảy ra, liên hệ trực tiếp đến đời sống con nguời. Hay nói cách khác, sức hấp dẫn của bộ kinh này được trình bày dưới hình thức các bài kệ đơn giản, súc tích, giàu hình ảnh với những thí dụ sinh động, thật mộc mạc, quen thuộc, nhưng khi đọc lên có thể thấy được âm vang toàn bộ giá trị tư tưởng, giáo lý nhà Phật được thể hiện qua những pháp hành cụ thể.

“ Như bóng không rời hình, Như xe chân vật kéo, Như cây yếu trước gió, Như núi đá trước gió, như trăng thoát mây che …là cái hình ảnh thí dụ tiêu biểu, vừa có tính hình tượng văn học vừa mang ý nghĩa biểu trưng một kết cấu nhân quả -nghiệp báo, nhưng đồng thời cũng là một câu kết rất có giá trị của một trong những bài kệ của Kinh Pháp Cú. tạo nên một dấu ấn tâm linh cho người học đạo. Điều đó chứng tỏ, lời dạy của Thế Tôn trong bản kinh này thật giản dị, hình như ai cũng hiểu được, nhưng những người có căn trí cao, càng suy ngẩm càng cảm thấy ý tứ thâm trầm. Sau này các vị bác học đa văn, tuy có diễn giải khá dài về thuyết nhân quả nghiệp báo, nhưng thiết nghĩ không thế nào thay thế được những lời dạy giản dị đầy ẩn dụ, thi dụ của Đức Phật trong Kinh Pháp Cú và một số kinh khác .

Khi thuyết pháp, Đức Phật thường dùng nhiều thí dụ, đúng hơn là những ảnh dụ, bởi vì những thí dụ mà Đức Phật dùng thường gợi lên hình ảnh, có những hình ảnh thật đẹp và nên thơ, có sức gợi cảm mạnh , như vậy chúng ta sẽ thấy trong các câu kệ trích dẫn trong bài này: “Ý dẫn đầu các Pháp. Ý làm chủ, ý tạo. Nếu với ý ô nhiễm. Nói lên hành động. Khổ não bước theo sau. Như xe , chân vật kéo”.

Phật giáo cho rằng “ Con người là chủ nhân ông của nghiệp, là người thừa tự nghiệp” . Nghiệp là hành động tạo tác có tác ý. Do đó. một người làm điều ác hay nói điều ác, là do ở nơi tâm nghĩ ác trước. Vì vậy mà kinh nói “Ý dẫn đầu các pháp”. “ Ý làm chủ ý tạo”. Ở đây ý chính chỉ các hành động thiện hay ác. Tất nhiên, từ pháp trong đạo Phật có nhiều nghĩa, nhưng ở đây, các pháp chỉ các điều thiện hay ác thể hiện ở lời nói hay hành động . Kinh nói rằng, nếu nói hay làm với tâm ác (tức là tâm ô nhiễm, không trong sạch), thì bị khổ liền tức khắc, cũng như hình ảnh bánh xe lăn theo sát chân con bò kéo vậy. Tất nhiên, có quả khổ xảy ra sau này nữa, nhưng người ta vừa nói ác và làm ác thì lập tức trong băn khoăn, sợ hãi, còn mọi người thì chê cười … Đó là cái khổ xảy ra hiện tiền. Trái lại, nếu nói lời lành, làm điều lành, với tâm thiện lành, thì có ngay niềm vui, niềm an lạc, cũng như bóng không bao giờ rời hình : “ Nếu với ý thanh tịnh, Nói lên hành động, An lạc bước theo sau, Như bóng không rời hình ( kệ 2 ) .

Cũng như cha ông ta nói “gieo gió thì gặt bão , ở hiền thì gặp lành”, đó là quy luật nhân quả thuộc phạm trù đạo đức. Cho nên, hễ ai có thái độ sống bất thiện, phóng túng không kiểm soát thân tâm, thì sẽ thiếu tự tin khi đối diện với những vấn đề nan giải, có nguy cơ bị đọa lạ , sụp đổ, chẳng khác nào cây yếu sẽ bị đổ trước gió : “ Ai sống nhìn tịnh tướng , Không hộ trì các căn , Ăn uống thiếu tiết độ , Biếng nhác , chẳng tinh cần , Ma uy hiếp kẻ ấy , Như cây yếu trước gió” (kệ 7) .

Trái lại, đối với người có lối sống thiện lành thì sẽ an trú trong thế giới an lạc , vững vàng trước mọi thử thách, tự tin vào đời , chẳng khác nào hình ảnh kiên cố của núi đa trước gió : “ Ai sống quán bất tịnh ,Khéo hộ trì các căn , Ăn uống có tiết độ , Có lòng tin tinh cần , Ma không uy hiếp được , Như núi đá trước gió” (kệ 8) .

Tịnh tướng là thế giới đầy đủ màu sắc của cuộc sống .Con người có thẩm thức , có khả năng cảm nhận cái đẹp ; khi bước ra khỏi vòng hệ lụy khát ái và chấp thủ , khiếu thẩm mỹ ấy làm phong phú thêm cho sự an lạc , nếu không thì dẫn đến kết quả khổ đau . Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy , một người có thái độ sống phóng dật ; buông lung ,lười biếng , không có lòng tin vào lẽ phải , ở điều thiện , các bậc Thánh và những lời dạy của các bậc Thánh , không biết tri túc và dễ bị dục vọng thấp hèn lôi cuốn , sai khiến . Kinh Pháp cú dùng từ ma để chỉ những dục vọng thấp hèn , chứ không phải chỉ ma quỷ .

Trái lại người có trí rèn luyện tâm mình , khine61 cho tâm luôn luôn nghĩ điều lành , không nghĩ điều ác , nhờ vậy , lời nói cũng như việc làm cũng đều thiện lành . Con người khéo tu tâm như vậy , Kinh Pháp Cú ví với mái nhà khéo lợp , nước mưa không thấm vào được . Đối với tâm khéo tu tập , những dục vọng thấp hèn hay xấu xa cũng không chi phối được : “ Như ngôi nhà khéo lợp , Mưa không xâm nhập vào , Cũng vậy tâm khéo tu , Tham dục không xâm nhập” ( kệ 14) .

Rõ ràng các thí dụ Đức Phật dùng để thuyết pháp vừa nêu , một mặt khái niệm được vấn đề , một mặt gợi cho người học một ảnh tượng cụ thể , minh họa cho thế giới thực tại đang diễn ra hết sức sinh động , nó tùy thuộc kết quả vận hành của tâm . Một tâm thức trong sáng , tinh tấn hành thiện , tích lũy việc thiện , người đó chắc chắn sẽ được an lạc . Thế nên , trong cuộc sống , nếu có kẻ ngu tìm cách hại người hiền thiện , thì kẻ ngu đó xử sự không khác gì đứng ngược gió mà tung bụi sẽ làm bẩn mặt kẻ ngu , chứ không thể làm bẩn người hiền thiện : “ Hại người không ác tâm , Người thanh tịnh không uế , Tội ác đến kẻ ngu , Như ngược gió tung bụi”. ( kệ 125 ).

Kẻ ác làm điều ác rồi , tưởng có thể cao chạy xa bay , nhưng kinh Pháp Cú nói rõ , kẻ ác làm điều ác , mà không quyết tâm sửa chửa thì dù có trốn chạy lên trời hay dưới biển , cũng không tránh được quả báo ác sẽ đến với mình : “ Không trên trời dưới biển , Không lánh vào động núi , Không chỗ nào trên trời ,Trốn được quả ác nghiệp” . (kệ 127).

Luật nhân quả khách quan , nhưng không phải là máy móc. Trong sách Phật, có khái niệm chuyển nghiệp. Bằng những hành động thiên tạo ra thường xuyên và mạnh mẽ, chúng ta có thể hạn chế, tiến tới triệt tiêu những nhân bất thiện được tạo ra từ trước. Vì vậy, mà Kinh Pháp Cú nói : “Ai sống trước buông lung , Sau sống không phóng dật , Chói sáng rực đời này , Như trăng thoát mây che” ( kệ 172) , và : “ Ai dùng các hạnh lành , Làm xóa mờ nghiệp ác , Chói sáng rực đời này , Như trăng thoát mây che” (kệ 173) .

Trăng thoát mây che” là thí dụ đặc trưng của thủ pháp nghệ thuật này, nó cũng là một hình ảnh đẹp để giải trình cho một kết cấu nhân quả khách quan trong triết lý nhân sinh, cũng như trong đời sống thực tại. Điều đáng nói khi Phật sử dụng thủ pháp nghệ thuật thí dụ để diễn đạt chân lý thì chân lý càng hiển lộ nhiều hơn. Trường hợp Angulimala – một tên cướp khét tiếng giết người là một thí dụ điển hình. Ông là người đươc Phật giác ngộ và cho xuất gia. Sau đó, Angulimala không những trở thành tu sĩ hiền và từ bi, mà còn chứng quả A-la-hán . Điều đó , có nghĩa một người phạm trọng tội, nếu biết bỏ ác theo lành cũng chứng dắc quả vị , huống hố là những người bình thường. Có thể nói, đối với đạo Phật, cửa giác ngộ và giải thoát mở rộng cho mọi người, không phân biệt người thiện hay kẻ ác, thậm chí kẻ rất ác, miễn là người đó thật thà cải tà quy chánh, bỏ ác làm lành. Cho nên nói “biển khổ vô biên , quay đầu là bờ” là vậy.

Thế nên, trong đời sống hiện thực đầy biến động này, con người dễ dàng dao động và hệ lụy với thế giới hình tướng mỹ miều bên ngoài. Nếu không may thiếu sự tỉnh thức mà bị lầm lạc, hay bị đọa lạc bởi những hành động bất thiện thì không nên chán nản, thất vọng. Tâm lành, hành động lành có công năng chuyển hóa và thiêu hủy các tội lỗi mà chúng ta không lường hết được. Điều đó giúp ta có một sức mạnh nội tại và khẳng định lòng tịnh tín của mình trong cuộc hành trình tìm cội rễ giải thoát. Giải thoát và giác ngộ cho chính sự nghiệp của mỗi người, không ai làm thay ai được cả .

Đến đây, như bóng theo hình, như trăng thoát mây che…trong các câu kệ Kinh Pháp Cú không chỉ là các thí dụ văn học Phật giáo mang tính điển hình, đầy giá trị thẩm mỹ, chuyển tải nội dung thông điệp đạo lý nhân quả – nghiệp báo khách quan nữa mà thực sự trở thành pháp hành cụ thể cho mỗi người. Thiết nghĩ, nếu chưa từng đọc, bạn hãy bắt đầu đọc kinh, nếu đã đọc rồi , chắc sẽ như tôi càng đọc càng thấm thía , càng đọc càng suy ngẫm, tâm càng trở nên yên tĩnh trong sáng . Rõ ràng , lời Phật dạy là lời bao giờ cũng có giá trị văn hay, ý đẹp , và thâm trầm, mà khi bạn đọc hằng ngày ; càng đọc càng thấy hay, và nếu thực hành lại càng thấy hay vô cùng, lợi lạc vô cùng trong đới sống thực nghiệm tâm linh.

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 105 – Phật Đản
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/05/2011(Xem: 13906)
Bất cứ trong một đoàn thể nào cũng không tránh khỏi chuyện thị phi; nếu trong môi trường thị phi mà vẫn giữ được bình tĩnh, hài hòa, đây mới thật sự là người trưởng thành.
28/05/2011(Xem: 12964)
Từ khi ra thăm bốn cửa thành, Thái tử Tất Đạt Đa đã cảm nhận những nỗi thiết tha thống khổ của nhân loại khiến Ngài quyết tâm đi tìm một chân lý để cứu giúp chúng sinh còn đang lặng hụp trong biển đời sinh tử trầm luân.
28/05/2011(Xem: 14408)
Chữ niệm nghĩa là nhớ. Chữ Hán viết phần trên là chữ kim, nghĩa là nay, phần dưới chữ tâm, nghĩa là lòng mình. Niệm là điều ta đang nhớ tới, đang nghĩ tới. Mà điều ta nhớ và nghĩ có thể là tà, có thể là chính, vì vậy nên có tà niệm và chánh niệm.
26/05/2011(Xem: 19989)
Nhận lời mời của quý vị, hôm nay có duyên cùng quý vị bàn về tam quy y trong Phật pháp tại Bờ biển Vàng (Golden coast) Queensland- Australia. Ðối với Phật pháp đây là đề tài rất quan trọng, là chỗ nhập môn tu học của chúng ta. Trước khi nói đến tam quy, đầu tiên phải có nhận thức chính xác về Phật pháp.
21/05/2011(Xem: 12674)
Ý tưởng về bồ đề tâm thật không thể nghĩ bàn! Nó khiến cho tất cả những công việc nào không liên quan đến việc làm lợi lạc cho chúng sanh trở nên buồn chán và bất toại nguyện. Ta thật sự sẽ không còn hứng thú hay thưởng thức được đời sống của mình, ngoại trừ công việc đầy ý nghĩa này. Tất cả mọi thứ khác sẽ trở nên vô nghĩa, trống rỗng và không có thực chất.
20/05/2011(Xem: 12053)
Ta cần có những thiện hạnh để chấm dứt những dục vọng vô độ và việc coi mình là quan trọng; cách hành xử tránh điều độc hại như thuốc độc...
19/05/2011(Xem: 23877)
Hầu như ai đến phố Bolsa cũng từng thấy một khất sĩ mà nhiều người gọi là “ông sư ở Phước Lộc Thọ.” Ông mặc bộ áo cà sa vàng, khoảng 40 tuổi, tay ôm bình bát, mắt nhắm nghiền như đang thiền định. Ông đứng từ sáng đến chiều, ngày này qua ngày nọ bất kể thời tiết nóng hay lạnh. Phố Bolsa sáng sáng thường có các nhà sư đi khất thực bên ngoài những cửa tiệm, đặc biệt trong khu chợ ABC ở góc Bolsa và Magnolia. Họ xuất hiện trong vài ngày hoặc vài tuần, xong biến mất như đã hoàn tất một giai đoạn trên con đường tu tập.
18/05/2011(Xem: 26173)
Con được biết - không chắc đúng không - hôm nay 28-4, là ngày Sinh Nhật Sư Phụ tròn 88 tuổi nên con viết vội đôi dòng kính chúc Sư Phụ luôn Phước Thọ tăng long, bách niên thọ thế để hàng đại chúng Bảo Vương của chúng con nói riêng và Giáo hội nói chung luôn có được bóng mát chỡ che tinh thần và trí tuệ của một trong số rất ít còn lại hàng đại lão hòa thượng của PGVN. Riêng con vẫn còn đó một đại tự điển sống về Phật học tinh hoa cũng như về lịch sữ Việt Nam thời cận đại.
15/05/2011(Xem: 12130)
Nhân quả đồng thời được nói một cách cô đọng trong kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm… và rải rác trong các kinh điển Đại thừa. Có lẽ người đầu tiên dùng thành ngữ “nhân quả đồng thời” là Đại sư Trí Khải (thế kỷ thứ 6) trong Pháp Hoa Huyền Nghĩavà trong các tác phẩm Thiên Thai tông của ngài, y cứ trên kinh Pháp Hoa. Thành ngữ này cũng là một giáo lý chính yếu của Hoa Nghiêm tông vào thế kỷ thứ 7. Nói một cách vắn tắt và đơn giản, nhân quả đồng thời là quả giác ngộ, quả Phật vốn đã nằm nơi nhân tu hành để đạt đến giác ngộ, để thành Phật. Nhân của thành Phật là “nhân địa pháp hạnh của Như Lai” được nói trong kinhViên Giác:
14/05/2011(Xem: 21695)
Xuất phát từ một nhận thức có tính thuyết phục về đạo Phật, quyển "Thuần Hóa Tâm Hồn" được viết với một văn phong hiện đại, trong sáng và tinh tế; nghiêm trang nhưng vẫn đan xen đôi nét hóm hỉnh.