Mối Liên Hệ Giữa Thầy và Trò

06/04/201209:48(Xem: 15460)
Mối Liên Hệ Giữa Thầy và Trò

Mối Liên Hệ Giữa Thầy và Trò
Thích Phước Đạt

thayvatroKhông phải ngẫu nhiên giáo lý Phật giáo và đạo lý dân tộc ta đều xác lập mối liên hệ thầy trò thật khắng khít, không thể tách rời trong sự hình thành nhân cách con người. Mỗi cá thể con người hiện hữu ở đời đều do cha mẹ sinh ra, nuôi dưỡng, nhưng sự trưởng thành, lớn khôn, cất bước chân hội nhập với đời đều nhờ công ơn giáo dưỡng của thầy cô. Thế nên, bổn phận của người học trò luôn ý thức tôn kính thờ thầy mà giới luật nhà Phật đề cao cái gọi là “Sự Sư đệ nhị”, còn đạo lý dân tộc thường dạy “Tôn Sư trọng đạo” mà xưa nay người dân Việt Nam thực hiện. Để thiết lập mối quan hệ hai chiều giữa thầy và trò ngày càng bền chặt, thăng hoa trong sự phát triển các mối quan hệ tình người trong cuộc sống,Đức Phật đã giảng dạy mối quan hệ này qua bài kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt (Trường bộ kinh IV).

Về quan hệ giữa thầy và trò

Bản kinh nói trên đề cập 5 điểm chính mà người thầy phải có trách nhiệm và bổn phận truyền trao cho người học trò:

1- Rèn luyện cho học trò theo những đức tính mà mình có.

2- Dạy cho học trò giữ gìn và nhớ kỹ điều cần thiết.

3- Dạy cho học trò nắm vững nghề nghiệp đến mức thuần thục.

4- Khen học trò đối với bạn bè quen biết.

5- Đảm bảo nghề nghiệp cho học trò trên mọi mặt.

Rõ ràng, trong các mối quan hệ của con người thiết lập, thì mối quan hệ thầy đối với trò có một vai trò quan trọng trong đời sống thăng tiến tri thức và chuyển hóa tâm linh đối với mọi người. Do đó, người thầy trở thành bậc mô phạm giữa đời, là tấm gương phản ánh để người học dõi theo thực tập. Hay nói một cách cụ thể, vị thầy là người thực thi đời sống hướng nội “tri hành hợp nhất”. Cái biết của thầy là cái biết đúng sự thật chân lý, trên hết là thể nhập một đời sống tâm linh hướng nguyện vào các đối tượng mà mình giảng dạy.

Tại đây, người thầy không chỉ có nhiệm vụ trao truyền kiến thức đến người học trò mà còn hướng họ thể hiện đời sống thực nghiệm qua thân hành, khẩu hành, ý hành. Mục đích đầu tiên mà người thầy hướng đến là hoàn thiện nhân cách tốt đẹp cho người học, từ đó họ mới sẵn sàng tiếp nhận các kiến thức mà người thầy truyền trao. Đây chính là bước đi đầu tiên mà người học trò cần rèn luyện để trưởng thành với những đức tính tốt đẹp mà người thầy thể hiện trong quá trình giảng dạy. Về mặt này, Đức Phật là vị thầy mô phạm ở đời, có tác động lớn đối với bao thế hệ đi qua.

Cho nên, trong quá trình giáo hóa chúng sinh, Đức Phật là người hết lòng dạy cho các học trò của mình những điều cần nhớ kỹ để thực nghiệm, để thăng tiến đạo hạnh. Những điều cần nhớ, cần giữ gìn chính là con đường thực thi nếp sống có giới như kiện toàn về đạo đức, an trú trong định như là sự ổn định tâm thức, không bị dao động bởi sự biến động của đời sống thực tiễn, từ đó thăng tiến về trí tuệ, có đóng góp thiết thực cho đời.

Đây chính là trách nhiệm lớn lao mà người thầy phải truyền trao cho người học. Suy cho cùng, người thầy là người giới thiệu người học cất bước chân thể nhập vào đời. Do đó, người thầy phải nhiệt tâm trao truyền kiến thức chuyên môn để người học thiện xảo trong nghề nghiệp, tháo vát trong hành xử, tạo ra các sản phẩm tốt mang tính hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu đời sống vật chất con người mong muốn. Sau đó là sự góp phần đem lại hiệu năng của một đời sống hạnh phúc, an lạc cho từng cá thể.

Sự thành công của người học trò sẽ là niềm khích lệ, động viên cho chính họ thăng tiến và đi xa hơn nữa. Trong trường hợp đó, người thầy phải khéo léo khích lệ người học trò trước mọi người, trước các hội chúng, và bạn bè thân hữu. Điểm này nếu được vị thầy tán dương đúng lúc, đúng thời sẽ tạo ra hiệu quả lớn trong việc giáo dục và đào tạo. Nguyên lý giáo dục khích lệ này không chỉ được Đức Phật thực thi mà các nhà giáo dục hiện đại cũng áp dụng và đưa đến những thành tựu giáo dục như chúng ta đã biết.

Không dừng tại đó, người thầy còn có nhiệm vụ hướng cho người học sau khi thành thạo chuyên môn, phải có ý thức thăng tiến nghề nghiệp để có vị trí xứng đáng trong xã hội. Tại đây, người học trò trở thành chuyên gia trong lĩnh vực nào đó mà bản thân họ được đào tạo. Tính chuyên môn cao sẽ tạo ra tính bền vững trong nghề nghiệp. Từ đây, nó sẽ tác động đến mọi mặt đời sống của xã hội trong sự phát triển chung của từng cá thể và cả cộng đồng.

Với 5 điểm chính mà người thầy thể hiện trong mối quan hệ giữa thầy và trò như thế sẽ dẫn đến người học trò có 5 bổn phận, trách nhiệm cần phải thực thi với người thầy của mình mà ta sẽ đề cập dưới đây.

Về quan hệ giữa trò đối với thầy

Bản kinh trên cũng đề cập đến 5 điểm chính như sau:

1- Chào thầy khi thầy đến.

2- Hầu hạ, săn sóc thầy.

3- Hăng hái học tập thầy.

4- Tự mình giúp đỡ thầy.

5- Tự trau dồi nghề nghiệp mà thầy trao truyền cho mình.

Thực chất, 5 điểm này là nói đến tinh thần “Sự Sư đệ nhị”, hay “Tôn Sư trọng đạo” của người học đối với vị thầy mà thôi. Sự thể hiện chào thầy khi thầy xuất hiện chính là hình ảnh người học trò biết tôn kính người thầy mọi lúc mọi nơi. Đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” khiến người học lúc nào cũng khắc sâu vào tâm trí của mình để tri ân và báo ân. Khi người học biết tôn kính người thầy thì người đó mới sẵn sàng đón nhận các kiến thức người thầy truyền trao một cách nhiệt tâm trong ý thức cầu học. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, nguyên lý giảng dạy, giáo dục luôn đòi hỏi mối quan hệ này phải được thể hiện hai chiều. Thầy phải tạo dấu ấn lớn trong tâm thức người học trò trên mọi phương diện và ngược lại người trò phải hết sức tôn kính người thầy thì hiệu năng giáo dục mới có hiệu quả cao.

Từ đây, việc săn sóc thầy không còn được xem là bổn phận mà được thể hiện qua cái tình người học trò dành cho người thầy. Việc hầu hạ, săn sóc thầy trở thành một công việc tự nguyện, chẳng có gì để nói. Sự thân cận, hết lòng hầu hạ thầy không chỉ giúp người đó học được kiến thức mà còn học được cách tiếp nhận từ một đời sống thực nghiệm mà người thầy đã thể hiện trong đời sống thường nhật.

Rõ ràng, có rất nhiều điều người học trò phải biết lắng nghe, dõi mắt nhìn vào tấm gương mà người thầy dày công tạo dựng. Một người học trò khôn ngoan và trung thành, hiếu kính với người thầy không chỉ sẵn lòng đón nhận các kiến thức trên bục giảng mà phải học và hành những gì thầy đã giảng dạy ở mọi lúc mọi nơi. Sự nhiệt tâm, tinh cần của người học trò trong việc học tập sẽ tạo ra nguồn cảm hứng sáng tạo cho người thầy truyền đạt những kiến thức mới không biết mệt mỏi. Nhờ vậy, người học trò có khả năng thăng tiến trên mọi lĩnh vực.

Có thể nói, đây chính là điều kiện để người học trò tự trau dồi kiến thức mà người thầy đã giảng dạy. Nghề dạy nghề là sự thật xưa nay khi mà mỗi người hội nhập vào đời qua khả năng chuyên môn cũng như sự thích ứng với môi trường làm việc, cộng với sự tích lũy kinh nghiệm thực tiễn trong nghề nghiệp sẽ tạo bước nhảy vọt trong sự nghiệp mà mình đeo đuổi trọn đời. Đây là sự đền ơn đáp nghĩa cao nhất mà người thầy trông đợi ở người học trò.

Tóm lại, trong các mối quan hệ giữa người với người thì mối quan hệ giữa thầy và trò, trò đối với thầy là mối quan hệ tạo khả năng thiết lập rộng rãi các mối quan hệ khác. Có thể nói, từ mối quan hệ này mà thiết lập các mối quan hệ khác đa phương, đa chiều trong xã hội. Điều đó có nghĩa là khi mối quan hệ này được thiết lập và xây dựng trên nền tảng giáo dục tự thân và giáo dục cộng đồng với mục tiêu giải thoát khổ đau, thì chắc chắn chúng ta sẽ có một đời sống hạnh phúc và thành tựu Niết-bàn an lạc ngay trong cõi đời này.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/07/2015(Xem: 17816)
1. Bí mật của Đức Đạt Lai Lạt Ma: Đừng lo lắng về những thứ bạn không thể thay đổi và hãy có được chín giờ ngủ mỗi đêm. 2. "Mang theo thông điệp tình yêu, lòng khoan dung, và sự tha thứ." 3. "Hãy xem nhân loại là đồng nhất, sau đó không có cơ sở để giết hại lẫn nhau. Tôi yêu đời sống của tôi. Mọi người đều có quyền được sống hạnh phúc. Hầu hết các vấn đề gây ra bởi con người. Giết chóc, bắt nạt, bóc lột. Chúng ta phải tìm giải pháp dài hạn. Điều này rất khó khăn.
01/07/2015(Xem: 26203)
Hề chi một phận đời riêng Buông hơi nằm xuống mà nghiêng đất trời Thiếu ta, đời cũng vậy thôi! Ta là hạt bụi giữa đời bao la..
01/07/2015(Xem: 30398)
Trong sinh hoạt thường nhật ở Chùa ai ai cũng từng nghe qua câu “Ăn cơm Hương Tích, uống trà Tào Khê, ngồi thuyền Bát Nhã, ngắm trăng Lăng Già “, do đó mà nhiều người thắc mắc “Thuyền Bát Nhã” là loại thuyền như thế nào? Bài viết này sẽ giải đáp đôi điều về nghi vấn ấy. Nói theo Thập Nhị Bộ Kinh, Thuyền Bát Nhã là pháp dụ, tức lấy thí dụ trong thực tế đời thường để hiển bày pháp bí yếu của Phật. Thuyền là chỉ cho các loại thuyền, bè, ghe đi lại trên sông, trên biển. Còn Bát Nhã là trí tuệ, một loại trí tuệ thấu triệt cùng tận chân tướng của vạn pháp trên thế gian là không thật có, là huyền ảo không có thực thể, mà nói theo Đại Trí Độ Luận thì mọi thứ trên thế gian này như bóng trong gương, như trăng dưới nước, như mộng, như sóng nắng… để từ đó hành giả đi đến sự giác ngộ giải thoát vì giác ngộ được chân lý “Nhất thiết pháp vô ngã”. Do vậy, Thuyền Bát Nhã chính là con thuyền trí tuệ có thể chuyên chở chúng sanh vượt qua biển khổ sanh tử để đến bến bờ Niết bàn giải thoát an vui.
01/07/2015(Xem: 33714)
Chủ đề Một Cõi Đi Về, Thơ và Tạp Bút tập hai, một lần nữa, được cái cơ duyên thuận lợi hân hạnh ra mắt quý độc giả. Cách đây ba năm tập một đã được xuất bản vào năm 2011. Hình thức và nội dung của tập hai nầy, cũng không khác tập một. Nghĩa là chúng tôi cũng chia ra làm hai phần: Phần đầu là thơ và phần sau là những bài viết rải rác đã được đăng tải trên các tờ Đặc san Phước Huệ. Tờ báo mỗi năm phát hành ba kỳ vào những dịp đại lễ như: Phật Đản, Vu Lan và Tết Nguyên Đán. Do đó nên những bài viết có những tiêu đề trùng hợp và nội dung có chút ít giống nhau. Tuy nhiên, mỗi bài đều có những sắc thái hương vị riêng của nó. Ngoài ra, có những bài viết với những tiêu đề khác không nằm trong phạm vi của những ngày đại lễ đặc biệt đó. Nay chúng tôi gom góp tất cả những bài viết đó lại để in chung thành một quyển sách tập hai nầy. Về ý nghĩa của chủ đề nói trên, chúng tôi cũng đã có trình bày rõ trong tập một. Ở đây, chúng tôi không muốn lặp lại. Điều quan trọng mà chúng tôi muốn nói ở đây là
01/07/2015(Xem: 15963)
Có những tiếng những lời những âm thanh nghe hoài không chán, nghe mãi không quên, không nghe thì trông ngóng đợi chờ. Tiếng nói của người thương kẻ nhớ kẻ đợi người mong, âm thanh của những ngọt ngào êm dịu, lời ru miên man đưa ta về miền gợi nhớ, những yêu thương da diết chôn dấu trong từng góc khuất, những trăn trở buồn vui có dịp đi qua. Và còn nữa, những thứ mà lúc nào ta cũng trông mong, lời khen tán thưởng tiếng vỗ tay tung hô của thiên hạ.
29/06/2015(Xem: 29080)
Như truyền thông đại chúng đã loan tải vào ngày 24 tháng 4/ 2015 một trận động đất xảy ra tại đất nước Nepal đã làm thiệt mạng gần 9.000 nạn nhân, và làm sập hư trên 100.000 ngôi nhà, trong hiện tại có trên 200.000 người không nhà cửa, và hàng ngàn trẻ em mồ côi cha mẹ. Nhìn thấy cảnh đời bể dâu tang thương đổ nát của người dân Nepal, Hòa Thượng Hội Chủ Thích Như Huệ đã ra thông tư, cũng như tâm thư kêu gọi lòng từ tâm của người con Phật. Sau gần 2 tháng kêu gọi, với tấm lòng tùy tâm của đồng hương Phật tử xa gần trong và ngoài nước Úc, cũng như 37 tự viện thành viên của Giáo Hội đã đem đến kết quả với số tiền cứu trợ là $ 304.900. Úc Kim. Phái Đoàn Cứu Trợ Nepal thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan đã lên đường vào tối ngày 8.6.2015 tại sân bay Melbourne.
29/06/2015(Xem: 10894)
Thời tiết mùa hè năm nay bất thường. Đã có những ngày quá oi bức, và cũng có những ngày lù mù, không mưa không nắng, gió se lạnh. Khí hậu đôi khi cũng tác động vào lòng người, khiến họ dễ bẳn gắt, khó chịu. Những người đã nuôi dưỡng từ lâu sự kỳ thị, thành kiến, hay tỵ hiềm nào đó, có thể bị thời tiết nóng bức châm ngòi cho sân hận và sự bạo động. Đã có những cuộc khủng bố đơn phương hoặc nhân danh tổ chức (thế tục hay tôn giáo) diễn ra khắp hành tinh trong những tháng năm qua.
27/06/2015(Xem: 17499)
Qua 4000 năm Văn Hiến của dân tộc thì trên 2000 năm, Phật giáo có mặt, đồng hành cùng dân tộc. Tính từ thời lập quốc họ Hồng Bàng – Kinh Dương Vương tên nước là Xích Quỷ (năm 2879 trước c.n) đến thời nhà Lý vào năm 1010-1225 đã là 4000 năm, đến nay cũng gần 5.000 năm. Từ thời lập quốc ở Trường Giang, bị Hoa tộc lấn dần cho đến Hùng Vương qua 18 đời, đất nước Văn Lang chỉ còn lại Bắc Việt và Bắc Trung Việt ngày nay.Quê hương vốn ở Hồ Động Đình, do Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh 100 con lập quốc. Kinh Dương Vương là con của Đế Minh và Vụ Tiên, là cháu ba đời của Thần Nông, mà Thần Nông là một trong Tam Hoàng thời thượng cổ.Như thế, Lạc Long Quân là con của Kinh Dương Vương, Kinh Dương Vương là họ Hồng Bàng, lấy quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương truyền ngôi cho Lạc Long Quân, Lạc Long Quân truyền cho Hùng Vương, lấy quốc hiệu là Văn Lang. Từ thời kinh Dương Vương lập quốc đến nay, dân tộc trãi qua 11 lần thay danh đổi hiệu:
24/06/2015(Xem: 41944)
Lời vàng của Thầy tôi, một Hướng dẫn vào các sự Chuẩn bị cho Tâm-yếu của Phạm Vi Bao La từ Đại Viên Mãn, trình bày các con đường của bốn trường phái chính của Phật Giáo Tây Tạng mà không có bất kỳ mâu thuẫn nào giữa chúng.
23/06/2015(Xem: 18381)
Câu hỏi: Lý do tại sao Trịnh Hội lại đi học tu? Có phải bị mất phương hướng cuộc đời hay chán cuộc đời nhiều phiền toái?(Than Nguyen ) Trả lời: Xin chào anh Than Nguyen. Có hai lý do chính thưa anh. Thứ nhất vì cách đây 3 năm mình có lời cầu nguyện với chư Phật là nếu cho mình cơ hội làm xong công việc giúp những thuyên nhân Việt Nam cuối cùng tại Thái Lan, mình sẽ xuống tóc để cảm ơn. Thứ hai là, một công hai việc, mình muốn và cần một thời gian tĩnh lặng để xem mình thật sự muốn làm gì trong suốt quãng đời còn lại.