Tinh thần hiếu thảo

08/08/201116:17(Xem: 13641)
Tinh thần hiếu thảo

TINHTHẦN HIẾU THẢO

HoàThượng Thích Thanh Từ

Theophong tục Việt Nam thì ngày Rằm tháng Bảy là ngày trung nguyên,là một trong ba ngày lễ cổ truyền của dân gian. Đối vớiPhật giáo thì ngày Rằm tháng Bảy có nhiều ý nghĩa nên cónhiều tên: ngày chúng Tăng Tự Tứ, ngày Phật hoan hỷ, ngàyVu Lan báo hiếu, ngày xá tội vong nhân v.v.. Mỗi tên đềucó mang ý nghĩa riêng của nó.

NgàyRằm tháng Bảy được gọi là ngày chúng Tăng Tự Tứ làthể theo sinh hoạt của Tăng đoàn thời đức Phật. Thờitiết ở Ấn Độ từ tháng Tư đến tháng Bảy là mùa mưa,đất ẩm ướt, trùng kiến bò lên đầy đường. Chúng Tăngđi khất thực thì dẫm đạp côn trùng làm tổn hại sinh mạngcủa chúng và làm tổn giảm lòng từ bi của mình, nên đứcPhật dạy từ Rằm tháng Tư đến Rằm tháng Bảy, tất cảTăng Ni họp lại một chỗ để tu học, gọi là kiết hạan cư: kiết là kết, tức là nguyện trước Phật và chúngTăng suốt ba tháng ở yên một chỗ đã qui định để tu học,không ra khỏi phạm vi ấy. Đến ngày Rằm tháng Bảy làm lễTự Tứ: tự là mình, tứ là mặc tình, tức là qua ba thángở yên tu học, chư Tăng Ni đối trước những bậc trưởngthượng, cấu xin các Ngài từ bi chỉ lỗi, nếu các Ngài cóthấy, nghe hay nghi mình có lỗi, để mình nhận lỗi và sámhối cho ba nghiệp được thanh tịnh. Tinh thấn Tự Tứ củaPhật dạy rất là đặc biệt. Vì tất cả chúng ta, ai ai cũngmang cái bệnh tự cao ngã mạn, lúc nào cũng thấy mình hơnngười, có định kiến cho mình là đúng, nên ít khi chịunghe lời nhắc nhở xây dựng của ai, dầu người đó là bậccha mẹ hay thầy bạn. Ngày Tự Tứ, Tăng Ni tự mình cầu xinbậc trưởng thượng chỉ lỗi và dạy bảo để sám hối,sửa đổi. Đó là việc làm rất hay và hữu ích cho việctu tiến. Người lớn chỉ lỗi, người nhỏ giác ngộ nhậnlỗi và sửa đổi thì mới thành người tốt, làm cho Tăngđoàn lớn mạnh. Do đó, đức Phật rất vui, nên ngày TựTứ cũng gọi là ngày Phật hoan hỷ.

Vínhư trong một gia đình, nhân ngày giỗ tổ tiên, có một đứacon đối trước cha mẹ, anh chị thưa rằng: "Hôm nay là ngàysum họp gia đình, xin ba má, anh chị nếu thấy con, em có lỗilầm, xin ba má, anh chị thương xót mà chỉ cho con sửa đổiđể trở thành người tốt". Là bậc cha mẹ, thấy con làmnhư vậy có vui không? Chắc chắn là vui lắm! Cũng vậy, chưTăng Ni đệ tử Phật biết cầu xin những bậc huynh trưởngchỉ lỗi để sửa thì đức Phật rất là hoan hỷ. Tuy nhiên,trên nguyên tắc là như vậy, nhưng ngày nay vì Tăng Ni quáđông, mặc dù có thực hiện vẫn còn sơ sót.

Tạisao gọi ngày Rằm tháng Bảy là ngày lễ Vu Lan? Chữ Vu Landịch âm tiếng Phạn là Vu Lan Bồn, dịch nghĩa là giải đảohuyền. Giải là mở, đảo huyền là tội treo ngược, giảiđảo huyền là thoát khỏi tội treo ngược, nghĩa là lễ cầunguyện cho những người bị tội ở địa ngục ngạ quỷđược thoát khỏi. Có nhiều người hiểu lầm "bồn" là cáichậu, nên đến ngày Rằm tháng Bảy mua sắm hương hoa, bánhtrái để vào chậu, đem đến giữa bàn Tổ cúng lạy. Hiểuvà làm như thế là sai lầm. Lệ thường đến gần Rằm thángBảy là các chùa tổ chức tụng kinh Vu Lan để cho Phật tửbáo hiếu ông bà, cha mẹ. Kinh Vu Lan kể rằng: Ngài Mục KiềnLiên tu, sau khi chứng A La Hán, Ngài muốn độ mẹ. Ngài nhớthuở còn sinh tiền, bà đã tạo nhiều nghiệp bất thiệnvới người tu, nên dùng thiên nhãn quan sát xem bà thác sanhở cõi nào, thì thấy bà sanh ở cõi ngạ quỷ đói khổ vôcùng. Động lòng từ hiếu, Ngài bèn xin một bát cơm, dùngthấn lực đưa đến dâng cho mẹ dùng. Mẹ Ngài vừa đưatay bốc cơm ăn thì cơm hóa thành than lửa, bà ăn không được.Ngài rất thương xót nhưng không biết làm sao cứu, bèn đếncầu xin Phật từ bi chỉ dạy. Nhân ngày chúng Tăng Tự Tứ,Phật dạy Ngài sắm lễ vật thỉnh chúng Tăng cúng dường,nhò sự cầu nguyện của chúng Tăng mà mẹ Ngài được thoátkiếp ngạ quỷ. Chúng Tăng mà Phật dạy Ngài thỉnh cúng dườngvà cầu nguyện cho mẹ Ngài là những vị ở sơn lâm thiềnđịnh, hoặc kinh hành dưới cội cây, là bậc đắc quả ALa Hán; hàng chúng Tăng này mới có đủ thần lực cứu mẹNgài. Ngài đã thực hành y theo lời Phật dạy, chúng Tăngcầu nguyện, mẹ Ngài thoát kiếp ngạ quỷ được sanh cõitrời.

Cóphải do chúng Tăng cầu nguyện mà mẹ Ngài được sanh lêncõi trời không? Chỗ này phải hiểu cho thật kỹ. Chúng Tăngkhông thể đưa bà Thanh Đề từ cõi ngạ quỷ lên cõi trời.Sở dĩ bà thoát được kiếp ngạ quỷ là vì xưa bà khởitâm ác, tạo nghiệp ác nên chết mới đọa làm ngạ quỷ.Nay nhờ các bậc Thánh Tăng với tâm thanh tịnh, chí thànhhướng về bà cầu nguyện, thần lực của các Ngài khiếntâm bà tương ứng và chuyển tâm niệm ác thành tâm niệmthiện, nên bà được sanh về cõi trời. Ngang đây coi nhưNgài Mục Kiền Liên cứu được mẹ đền được ơn sanh dưỡng,ơn hiếu nghĩa Ngài đã đền xong. Do giai thoại này mà ngàyRằm tháng Bảy được gọi là ngày Vu Lan hay ngày báo hiếu.

Ngàynay, chúng ta theo gương hiếu của Ngài Mục Kiền Liên, thỉnhchư Tăng cúng dường để cầu siêu hay cầu an cho ông bà,cha mẹ. Việc làm của chúng ta ngày nay có được kết quảnhư Ngài Mục Kiền Liên không? Hiện tại chúng ta tu chưa chứngquả nên không biết ông bà, cha mẹ sanh ở cõi nào. Chư TăngNi ngày nay cũng chưa chứng quả A La Hán, tâm chưa thanh tịnh.Như vậy, người cúng dường và người cầu nguyện chưa hộiđủ điều kiện Phật dạy, làm sao ông bà, cha mẹ đượcsiêu thoát? Tôi nói đây không phải phủ nhận rằng sự cầunguyện của đạo Phật, mà nói để trình bày sự thật chomọi người thấy, và tránh những việc làm theo thông lệmà không biết có kết quả hay không. Điều này chúng ta phảigan dạ mà nhìn để thấy được lẽ thật. Ngày nay, đa sốTăng Ni tu hành lôi thôi, Phật tử thì không biết ông bà,cha mẹ mình sanh ở đâu. Cả hai đều không thông làm sao cầucó kết quả? Tuy nhiên vì lòng hiếu thảo, quý vị cầu thìcầu, còn siêu hay không thì tùy theo nghiệp của người đượccầu, chớ không bảo đảm, đó là lời thành thật của tôi.

Hiệntại, quý Phật tử muốn theo gương hiếu thảo của NgàiMục Kiền Liên thì phải làm ngay lúc cha mẹ còn sanh tiền.Nghĩa là lúc cha mẹ còn sống, chúng ta phải tạo điều kiệncho cha mẹ hiểu Phật pháp để tu hành. Nếu hiện tại chamẹ tu, tạo nghiệp lành, khi lâm chung chắc hắn sanh cõi lànhrồi, có cầu cũng dư. Nếu chúng ta không lo phụng dưỡng,không tạo cho cha mẹ diều kiện tránh dữ làm lành, khi chếtmời Tăng Ni cầu nguyện cho sanh cõi lành; việc làm này thiếuthực tế e không kết quả.

Tấtcả kinh sách của thánh hiền để lại đều dạy, làm conphải hiếu thảo với cha mẹ, thế mà có người làm được,có người không làm được. Mọi người trên thế gian này,ai ai cũng từ tinh huyết cha mẹ mà hợp thành. Thân thể chúngta là một phần thân thể của cha mẹ. Khi ra đời nếu chúngta không nhờ cha mẹ nuôi dưỡng thì đã chết mất, đâu cósống và trưởng thành đến ngày nay. Thế mà khi khôn lớncó gia đình chỉ biết thương vợ con, cha mẹ thì quên mất.Trong kinh, Phật dạy tội lớn nhất là tội bất hiếu, phướclớn nhất là phước hiếu thảo. Cha mẹ là người mang nặngđẻ đau, khổ nhọc nuôi dưỡng chúng ta nên vóc nên hình.Ơn cha mẹ lớn nhất mà chúng ta quên được thì có nghĩa ơnnào chúng ta nhớ, do đó mặc tình làm việc bất nhân bấtnghĩa. Ngược lại, hiếu kính cha mẹ thì cũng vui làm điềunhơn nghĩa với mọi người.

LúcThái Tử trốn vua cha đi tu, người đời cho ngài bất hiếu.Nhưng khi thành đạo, Ngài trở về cung thuyết pháp độ vuacha, di mẫu, hoàng tộc tu hành được an lạc, lợi ích lớn.Nếu không tu thì Ngài không làm được việc này. Ngài MụcKiền Liên đi tu đâu có quên ơn cha mẹ, nhờ Ngài tu mớicứu được mẹ thoát kiếp ngạ quỷ. Người tu đã chứngquả hay chưa chứng quả đều là những người con có hiếu.Người đời khi lập gia đình, tình thương thường thườngdồn cho vợ con, có khi quên mất cha mẹ, không nhớ lo cho chamẹ lúc tuổi già. Ngược lại, người tu thấy cha mẹ cànggià, biết không còn sống bao lâu nữa, nên lo lắng và nhắcnhở tu nhiều hơn để phút ra đi được nhẹ nhàng, an ổnvà được sanh vào cõi lành.

Trongcuộc sống phải biết dung hòa với nhau, bậc làm cha mẹ phảidễ dãi cho con cháu dễ gần gũi để nó làm tròn bổn phậnlàm con. Phận làm con cháu phải thương kính hiếu thảo vớicha mẹ, ông bà. Sống như vậy, gia đình mới an vui, hạnhphúc. Trong kinh, Phật có nói bài kệ về công ơn cha mẹ nhưsau:

Chamẹ gọi Phạm Vương
Bậcđạo sư hiện đời

Xứngđáng được cúng dường

Vìthương đến con cháu

Dovậy người hiền triết

Kínhlễ và tôn trọng

Thứcăn và thức uống

Vảimặc và giường nằm

Xoabóp khắp thân mình

Tắmrửa cả chân tay

Vớisở hành như vậy

Đốivới mẹ cùng cha

Hiệnđời người hiền khen

Đờisau hưởng thiện lạc

Theotriết lý Ấn Độ thì Phạm Thiên là bậc trên hết, nên Ngàinói thờ cha mẹ như thờ Phạm Thiên, và Phật là đạo sưtên đời nên Ngài nói thờ cha mẹ như thờ Phật vậy. Phậtso sánh lòng hiếu kính cha mẹ ngang với lòng tôn kính Phậtvà lòng quý kính Phạm Thiên. Có nhiều người nghĩ rằng đichùa cúng Phật mới có phước, nên lơ là không lo phụng dưỡng.Đó là ý nghĩ sai lầm. Ở đây, Ngài nói cha mẹ mới thậtlà người xứng đáng cúng dường. Có một lần, Phật đikhất thực ở một xứ mất mùa, Ngài đi cả buổi mà khôngcó thức ăn, có một thày Tỳ kheo đổi lá y được một bátcơm dâng lên Phật, Ngài hỏi: Ngươi còn cha mẹ không?

Tỳkheo đáp: Bạch Thế Tôn, con còn mẹ.
--Mẹ ngươi có cơm ăn chưa?
--Bạch Thế Tôn, con đổi lá y chỉ được một bát cơm dânglên Thế Tôn, mẹ con vẫn chưa có cơm ăn.
--Ta không dám nhận bát cơm này, người đáng nhận bát cơmnày là mẹ của ngươi. Hãy đưa cơm về cúng dường cho mẹngươi.

Phậtphước đức vô lượng mà Ngài nói người đáng nhận bấtcơm cúng dường là mẹ của người cúng dường chứ khôngphải là Phật. Thái độ của Phật cho chúng ta thấy Ngàirất trọng ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Như vậy,lo cho cha mẹ ấm no, tạo điều kiện cho cha mẹ tu hành màkhông cúng chùa cũng có phước. Lo cúng chùa mà để cha mẹđói lạnh, khổ sở, mắc phải tội bất hiếu, chẳng đượcphước bao nhiêu. Tại sao? Vì cha mẹ là người thân thiếtvà thương con nhất. Thế nên ai là người hiền trí thì đốivới cha mẹ phải kính lễ, tôn trọng, cung phụng đầy đủbốn món cần dùng và còn phài xoa bóp, tắm rửa cho cha mẹnữa. Tại sao Phật dạy kỹ như vậy? Vì khi chúng ta còn nhỏ,cha mẹ đã từng làm những việc đó cho chúng ta, bây giờcha mẹ đã già yếu, chúng ta phải chăm sóc lo lắng lại chamẹ để đáp cái ơn sanh dưỡng sâu nặng đó vậy. Chúngta lưu tâm chăm sóc cha mẹ là tạo nguồn an ủi cho cha mẹđược an vui lúc tuổi già, khiến tuổi thọ của cha mẹ đượctăng thêm. Nếu chúng ta lơ là không nuôi dưỡng cha mẹ, làmcho cha mẹ buồn, cha mẹ buồn mắc bệnh và mật sớm thìchúng ta phải tội bất hiếu. Ở đời cũng có những ngườicon bất hiếu, chẳng những không nuôi dưỡng cha mẹ còn đầyđạo, đánh đập cha mẹ. Lúc tôi còn ở Chơn Không, có mộtông già mù hay lên núi chặt củi. Ông có một người con traivà mấy đứa cháu nội. Con ông bắt ông phải đi chặt củivà gánh nước. Hôm nào ông không gánh nước là nó không choăn cơm. Nếu ông cãi lại thì nó đánh ông bằng roi mây. Xómgiềng ai thấy cũng bất nhẫn. Nhưng truy nguyên ra thì trướcđây ông cũng từng đánh cha ông bằng roi mây! Như vậy, đốivới cha mẹ, chúng ta tàn nhẫn bao nhiêu thì con nó trả lạibấy nhiêu. Do đó, chớ bảo con cháu hiếu thảo với mình,mà mình phải có hiếu với cha mẹ trước, con cháu mới bắtchước làm theo. Mình bảo con cháu hiếu thảo với mình màmình bất hiếu với cha mẹ, làm sao con cháu hiếu thảo vớimình được!

Vậymuốn thành người tốt, vừa tròn chữ hiếu với cha mẹ,vừa được người hiền trí quý trọng trong hiện tại vàhưởng phước lạc ở mai sau, vừa được con cháu hiếu kínhvới mình thì phải hiếu thảo với cha mẹ để làm gương,vì đây là nền tảng đạo đức. Người Phật tử có hiếu,nhân ngày lễ Vu Lan hối tưởng lại công ơn cha mẹ, nếucha mẹ còn hiện tiền hãy đem hết lòng thương kính, chămsóc cho cha mẹ được no ấm an vui. Nếu phụng dưỡng cha mẹno ấm rồi mà cha mẹ chưa biết tu thì phải khéo khuyên chamẹ ăn ở hiền lành, quy y Tam Bảo, giữ năm giới, làm điềuphước thiện cho cha mẹ có đủ công đức, khi nhắm mắtsanh vào cõi lành. Đó là điều thiết thực nên làm, bảođảm kết quả tốt.

Nhânngày Vu Lan Tự Tứ, chúng tôi mong tất cả quý Phật tử ứngdụng ý nghĩa của ngày này qua hai lĩnh vực: Thứ nhất làlấy tinh thần Tự Tứ của chúng Tăng Ni ứng dụng trong cuộcsống của mình, tức là tập nghe và nhận lời khuyên rănnhắc nhở của người lớn để sửa chữa lỗi lầm đểtrở thành người tốt. Thứ hai là noi theo gương hiếu thảocủa Ngài Mục Kiền Liên mà hiếu kính cha mẹ. Nếu cha mẹcòn tại thế thì chăm sóc, phụng dưỡng cho cha mẹ no ấm,và nếu cha mẹ chưa biết tu thì khéo nhắc nhở cho cha mẹlàm lành lánh dữ để sau sanh vào cõi lành. Nếu cha mẹ đãqua đời rồi thì chính mình thành tâm cầu nguyện và thỉnhTăng Ni nguyện phụ, kết quả được bao nhiêu tốt bấy nhiêu.

ThíchThanh Từ (1997)

Source: thuvienhoasen

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/02/2021(Xem: 9714)
Tại các nước nông nghiệp hình ảnh con trâu với đứa trẻ chăn trâu ngồi trên lưng trâu thổi sáo là một hình ảnh quen thuộc thường gắn liền với đời sống của người dân. Tại Việt Nam, từ lâu hình ảnh này đã đi vào tâm thức mọi người và không chỉ có giá trị trong đời sống lao động thực tiễn mà còn nghiễm nhiên đi vào lãnh vực văn học nghệ thuật nữa. Trong văn học Phật giáo nói chung và văn học Thiền tông nói riêng thời hình ảnh con trâu với trẻ mục đồng đã trở thành thi liệu, biểu tượng, thủ pháp nghệ thuật. Những hình ảnh này hiển hiện trong truyền thống kinh điển cũng như được đề cập đến nhiều lần trong những thời pháp của đức Phật khi Ngài còn tại thế.
01/02/2021(Xem: 19659)
Vào thời thái cổ, theo truyền thuyết Đế Minh là cháu bốn đời của vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam đến núi Ngủ Lĩnh ( nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung quốc ). Vua Đế Minh đã dừng chân tại nơi nầy, ngài cưới Vu Tiên nữ con vua Động Đình Hồ làm vợ. Đế Minh sinh được một trai tư chất thông minh ngài đặt tên Lộc Tục. Vào năm 2879 trước tây lịch ( khoảng thế kỷ thứ 7 TCN ) Đế Minh phong cho con làm vua ở phương Nam. Lộc Tục lên ngôi xưng đế hiệu Kinh Dương Vương đặt tên nước là Xích Quỷ ngài đóng đô tại Phong châu.
01/02/2021(Xem: 10444)
Kinh Phật đầu tiên là kinh Hoa Nghiêm, kinh Phật cuối cùng là kinh Đại Bát Niết Bàn. Chúng ta học hai kinh nầy để nắm trọn lịch trình của đạo Phật. Kinh Đại Bát Niết Bàn thường gọi là Niết Bàn là kinh vừa kể lại lịch sử đức Phật trước khi nhập diệt vừa là kinh nói về lời giáo huấn cuối cùng của ngài. Vừa tâm lý tình cảm vừa là lời nhắn nhủ sau cùng của Phật cho đạo tràng như người cha trăn trối cho con tiếp tục theo đường đi của ngài. Đời thế gian của Đức Phật khi sinh ra vì bào thai to lớn quá phải giải phẩu bụng của mẹ ngài nên mất máu mà mất sớm, ngài sống qua sự nuôi dưỡng của người dì em của mẹ.
01/02/2021(Xem: 17071)
Phần này bàn về các danh từ gọi dụng cụ gắp cơm và đưa vào miệng (ăn cơm) như đũa hay trợ, khoái, giáp cùng các dạng âm cổ của chúng. Các chữ viết tắt khác là Nguyễn Cung Thông (NCT), Hán Việt (HV), Việt Nam (VN), TQ (Trung Quốc), ĐNA (Đông Nam Á), HT (hài thanh), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), VBL (tự điển Việt Bồ La/1651) ĐNQATV (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị/1895).
29/01/2021(Xem: 10630)
Ở đời không phải ai cũng chấp nhận sự chân thành của bạn. Những người quanh ta luôn công nhận việc tốt mà ta đã và đang làm, trở thành đương nhiên như thế… và đến một ngày kia bạn quá mệt mỏi liệu có ai bên cạnh bạn và cảm thông với bạn không? Vì trong suy nghĩ của họ bạn là người tự nguyện cho đi..., trong hoàn cảnh như thế liệu bạn có tiếp tục cho đi nữa hay không? Tất nhiên là có, chúng ta hãy tiếp tục sống tốt nhưng phải là người tốt thông minh. Hãy tin rằng không có nỗ lực nào là uổng phí, hãy có quan điểm và lý tưởng của chính mình, luật nhân quả luôn đền bù cho bạn xứng đáng. Nhà Phật dạy có Luân Hồi-Ngiệp Báo. Không ai phủ nhận rằng quan tâm chăm sóc người khác là tốt, nhường nhịn người khác đều là tốt, tuy nhiên quan tâm quá, họ sẽ làm khó ta vạn lần, nhiệt tình quá họ sẽ đâm ra nghi ngờ, thậm chí khiến bạn bị tổn thương …
28/01/2021(Xem: 10605)
Chúng ta đã quen với thể loại thơ Thiền sáng tác nhiều thế kỷ trước từ các ngài Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Hương Hải… Hay gần đây như với thơ của các ngài Nhất Hạnh, Mãn Giác, Tuệ Sỹ, Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Ni Trưởng Trí Hải… Đó là nói cho chặt chẽ. Nếu nói cho nới rộng hơn, thơ Thiền cũng là Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Trịnh Công Sơn… Mỗi thời đại đều có những nét riêng, mỗi tác giả cũng là một thế giới độc đáo. Mặt khác, thơ Thiền mỗi quốc độ cũng khác. Trong khi phần lớn thơ Thiền Nhật Bản cô đọng với thể haiku, thơ Thiền Trung Hoa có nhiều bài hùng mạnh như tiếng sư tử hống, như với Chứng Đạo Ca của ngài Huyền Giác, hay Tín Tâm Minh của ngài Tăng Xán. Không ngộ được tự tâm, sẽ không có văn phong đầy sức mạnh như thế. Nơi đây, chúng ta nêu câu hỏi: Làn gió Thiền Tông đã ảnh hưởng vào thơ Hoa Kỳ ra sao? Và sẽ giới thiệu về bốn nhà thơ.
28/01/2021(Xem: 13119)
Mọi người đều biết câu chuyện Xá Lợi Phất thăm Cấp Cô Độc khi bị bịnh nặng và giảng cho Cấp Cô Độc bài pháp về quán chiếu, khi thiền trong Tứ Niệm Xứ mà chữa bịnh cho Cấp Cô Độc. Quán về Phật pháp tăng, 18 giới gồm 6 căn 6 trần 6 thức, rồi quán về 7 đại: đất nước gió lửa không kiến thức, quán về thời gian không gian và cuối cùng là quán về 5 uẩn. Cấp Cô Độc nghe xong hết bịnh. Cũng câu chuyện như vậy, nhưng nó khác đi chi tiết là lúc về già sắp mất: Xá Lợi Phất khai thị Cấp Cô Độc chú trọng về 5 uẩn, hãy trả 5 uẩn về lại cho 5 uẩn khi duyên hội tụ đã hết. Hãy trả Pháp về lại cho Pháp. Và Cấp Cô Độc chết thành A la hán vì đã ngộ được đạo về cõi trời.
28/01/2021(Xem: 13108)
Chùa Thiếu Lâm Tự mở ra khóa ngồi thiền cho 18 vị tu thành A la Hán. Khoá tu này trong 30 ngày ngồi trong tịnh thất suốt ngày đêm. Vị chủ trì là Hòa thượng trụ trì của Thiếu Lâm Tự. Thời bấy giờ là mùa xuân, cảnh đẹp hoa nở và thời tiết ấm áp. Mọi thiền sinh miệt mài tập trung thiền định đạt được 30 ngày miên mật thì bỗng xảy ra tiếng nói vọng vào từ ngoài cửa. Giọng nói đầy êm dịu thanh thoát và trong trẻo của một cô gái. Mỗi tiếng phát âm đi sâu vào tim người nghe một cảm giác êm dịu nhẹ nhàng như vuốt ve trái tim của con người.
27/01/2021(Xem: 8118)
Kính thưa quý đọc giả, tôi đột nhiên thấy được quyển sách với nhan đề “Khéo Dùng Cái Tâm” do Hội Phật Học Bát Nhã biên soạn, liền mượn về ngay để nghiên cứu. Tôi sở dĩ nghiên cứu tác phẩm này là do chủ đề “Khéo Dùng Cái Tâm” lôi cuốn tư tưởng của tôi. Chủ đề rất hấp dẫn khiến tôi tò mò không biết nội dung trong đó nói gì đành phải bỏ hết thời gian để đọc cho xong. Toàn bộ quyển sách chỉ nói về Ma Nhập, nhưng quý đọc giả cần phải đọc qua để biết Ma Nhập quan hệ như thế nào đối với con người chúng ta, đồng thời cần phải tỏ tường để tránh né và đối trị.
27/01/2021(Xem: 7974)
Đức Phật ngồi thiền 49 ngày dưới cội Bồ Đề mới ngộ được đạo tìm được đường giải thoát cho chúng sinh khỏi sinh tử luân hồi. Từ đó đến nay trên 2000 năm biết bao nhiêu cách tọa thiền, đi thiền, nằm thiền, trà thiền, tất cả quá nhiều phương pháp đường lối. Từ Nguyên thủy đến Đại thừa, có rất nhiều đường lối thiền.