Vấn Thiền Ông Nụ Cười Xuân

26/01/201105:30(Xem: 13417)
Vấn Thiền Ông Nụ Cười Xuân

VẤN THIỀN ÔNG NỤ CƯỜI XUÂN
ThíchTâm Mãn

PhậtGiáo, Đạo của an lạc, Đạo của thương yêu, Đạo sống chân thật trong từngphút giây mình có, Đạo của tâm từ luôn hướng người nên tin tưởng vào ngày mai, Đạo của xóa tan bao khổ buồn quá khứ, nên đức Di Đà luôn tiếp dẫn kẻ trầm luân, Đạo là đường đến Niết Bàn tịch tịnh trong hiện tại, nên Đức Thích Tôn Bạc Già Phạm ứng thế độ sanh, Đạo của tương lai không bao giờ mất được, làm niềm hy vọng cho bao người duyên chưa đủ, nên xuânvề đức Đương Lai Di Lặc lại tươi cười chờ những lộc chồi của Phật Pháp ngày mai.

Người học Phật đón xuân cũng có niềm vuikhông kém gì trần thế, cũng bánh, cũng trà và mứt tết ngọt thơm. Thế nhưng Xuân của người học Phật có thêm giọt mật của an lạc và giải thoát,đôi khi cũng cộng vào chút ít hương vị đắng cay. Vui cùng xuân là ý thức sống tỉnh giác trong từng phút giây hiện tại, hương vị cay đắng củacuộc đời là niệm sống cảnh tỉnh ở tương lai, nên gọi là xuân thiền.

Lão Thiền Ông ngồi nhìn những chiếc lá thu cuối cùng rơi trong khoảng chiều vàng nghe man mát, gió nhẹ gọi đôngvề từng giọt khô lạnh, buốt giá đến rồi ư? Đông đến cho mọi ý nguyện như ngưng nghĩ, để khoảng thời gian chậm lại, rồi tính từng ngày để đón xuân sang. Xuân là thế, là nỗi chờ háo hức, là ấm nồng, là mật ngọt của ước mơ, là hy vọng của tương lai cho những điều tốt đẹp, là an lạc trongphút giây đầu không một niệm âu lo.

Thiền thất chiều hạ từng giọt mưa, mưa không ngừng rơi gõ đều trên mái, tí tách từng giọt đều nghe như tiếng mõniệm Kinh. ánh tà dương cuối trời yếu ớt như lặng im dần để bóng tối tràn qua. Bổng ầm một tiếng sấm rồi ánh chớp giăng qua ngang trời làm sáng cả một khoảng trời không, Thiền Ông im lặng ghi nhớ.

Chiều lại một chiều nữa, bên tách trà xông hương hỏi đạo, gió ngoài hiên xào xạt, ao sen trước chùa chỉ còn trơ lại những cành lá vàng khô khắc, từng bước chầm chậm con cò già ngơ ngác tìm lại những gì còn sót lại của hạ vừa sang, sơ xác từng chiếc lá vàng cố níu lại thời gian. Rơi rơi thời gian của thu như không ngừng lại. Thiền Ông im lặng ghi nhớ.

Rồi Đông sang như hiu hắt, cành mai trước sân chùa chỉ còn trơ lại những cành già da dẽ sần sùi im đậm nét hình hài cát bụi thời gian. Thiền Ông đứng trước hoa rồi nhìn mình chẳngkhác gốc mai già là mấy, tóc dã điểm sương chân chùn gối mõi, trên thânthêm một chiếc áo lạnh dày để chống chọi cùng khí lạnh chiều đông. Một lần nữa Thiền Ông im lặng ghi nhớ.

maivang-01012310Tiếng chuông khuya vang lên, Lão Thiền Ông đã ngồi trước bàn Phật, lò trầm hương một nén, khói nhẹ nhàng bay bay, ánh sáng của ngọn đèn khuya lập loè phá tan bóng đêm cô lạnh, ThiềnÔng nhìn Phật tượng, Phật tượng nhìn Thiền Ông, cả hai bỗng nhiên như là một, tượng hay là ông, ông hay là tượng có gì đâu sai khác, miên mangvới niềm diệu chợt Thiền Ông bỗng giật mình, nắng váng từng vệt nhỏ, soi sáng cả Thiền đường, làng gió xuân âm ấm, thổi ngang trước cửa chùa,lòng nghe từng giọt nhẹ làm ấm áp cõi lòng, nhìn ra trước sân mai vàng đả nở rộ, giọt sương cuối cùng đọng trên lá sen đã bắt đầu khô lại, ngộ rồi. Vạn Hạnh Thiền Ông đáp xuân một lời Thiền:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậmvận thạnh suy vô bố úy
Thạnh suy như lộ thảo đầu phô
“Thân người ánh chớp, có không hạ mưa chiều.
Cỏ cây xuân tươi tốt, thu qua lại rụng rời,
Cuộc đời thạnh suy đến, có gì sợ ai ơi,
Chẳng khác chi giọt nước, khô trên ngọn cỏ thôi.”

Không biết từ bao giờ xuân trong cửa Thiền luôn là niềm háo hức, đón xuân, chúc xuân, xuân thiền, xuân an lạc, xuân Di Lặc.v.v… vô số các cụm từ chỉ cho xuân, như làm cho xuân thêm niềm vui mới, như ấm lại cảnh thiền qua một khoảng trời đông. Ánh xuân rơi nhẹ trước sân chùa làm cho biết bao Thiền Lâm lão nạp phải thốtlời tán thán.

Gốc mai trước sân Phương Trượng theo từng đợt gió đông về cây cành gần như trụi lá, tiểu đồng quét những chiếc lá cuối mùa để chuẩn bị đón xuân sang, bâng quơ rồi lại bâng quơ tiểu nghĩ hoài không thấu, hoa Mai đâu hết rồi? bao giờ hoa nở lại, quéttới rồi lại lui, lá cũng như tiểu không biết ngày nào lại đâm chồi trở lại, Tiểu lại bạch thầy hoa Mai bao giờ nở? Để chén trà xuống, Thiền Ôngim lặng mĩm cười.

Sáng nay sân chùa lại vang tiếng chổi, tiếng sạo xạc cũng như thường ngày, trong Trượng thất Thiền Ông nghe được tiếng quét đều như nhẹ và nhanh hơn, bổng có tiếng reo: “hoa Mai đãnở” tiểu lại chạy đến bạch thầy nụ mai vàng đã hé nở sáng nay. Thiền Ông vấn tiểu: “sao không mặc áo ấm” chợt Thiền Ông im lặng mĩm cười, xuân đã đến rồi đây.

Tết này Thiền Ông không nghe tiếng chú tiểu reo mừng khi thấy mai vàng nở nữa, gió xuân từng đợt thổi vào sân chùa làm lay động những cánh mai xuân, nắng xuân vàng ươm soi sáng cả một góc thiền đường, ngoài ô cửa sổ con chim họa mi đang líu lo ca hát, tiếng con cá dưới ao sen quẩy đuôi chào buổi sáng, Thiền Ông chợt thấy bóng dáng của mình ẩn hiện trong làng nước trong xanh. Đã lâu không còn bận tâm với bóng hình mình nữa, nay nó bổng ẩn hiện, nếp thời gian in hình trên diện mục, tóc đã điểm màu trắng xóa bản lai, Thiền Ông ngắm nhìn bổn lai diện mục của một cuộc đời “Vân Thủy Tam Thiên” .

Thiền tư, Tức niệm: “Bạch Thầy” tiếng ainghe như thân quen, kéo những niệm đầu quay về với hiện tại, quỳ trước mặt Thiền Ông một Tăng tướng trang nghiêm, chăm chú nhìn một lần nữa người nhận ra rồi “chú tiểu mừng Mai nở” thoát đã bao nhiêu tuế nguyệt mà con đã lớn chừng này, chả trách ta đã là Lão Tăng bạch phát. Tăng vấnThiền Ông “Sanh tử sự đại” Ông đáp Tăng rằng: “tứ tướng giai không” .Mãn Giác Thiền Ông như nhận được quà tết, Người cảm ơn xuân bằng mấy vận thiền thơ:

Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá ,
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
“Xuân bỏ đi hoa còn đâu nữa,
Nay xuân về từng đóa nở vàng tươi.
Việc đời qua trước mắt,
thoáng chốc tóc bạc rồi.
Đừng lo xuân tàn hoa rụng hết
sân chùa đêm vắng, cành mai nở vàng.”

Thích Tâm Mãn
ChùaMinh Thành Pleiku

Source: thuvienhoasen

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/12/2013(Xem: 39663)
Đi tu không có nghĩa là phải vào chùa, cạo bỏ râu tóc mà phải được hiểu rộng rãi hơn nhiều! Đi tu là một quá trình khám phá tâm linh. Chúng ta học ứng dụng những lời Phật dạy trong đời sống hàng ngày của mình. Tu là chuyển hóa bản thân, từ vô minh đến trí tuệ, là tìm kiếm, khám phá con đường đưa đến hạnh phúc và an lạc.
10/12/2013(Xem: 30529)
Những người dân Tây Tạng thân mến của tôi, ở cả trong lẫn ngoài đất nước Tây Tạng, cùng tất cả những ai đang tu tập theo truyền thống Phật Giáo Tây Tạng và những ai đang có những nối kết với Tây Tạng và người Tây Tạng.
10/12/2013(Xem: 35180)
Cánh cửa của thế kỷ 20 sắp khép lại, tất cả chúng ta đều nhận thấy rằng thế giới đã trở nên nhỏ hơn, loài người trên hành tinh đã trở thành một cộng đồng lớn, các liên minh về chính trị và quân sự đã tạo ra những khối đa quốc gia, làn sóng của thương mại và công nghiệp thế giới đã cho ra nền kinh tế toàn cầu, những phương tiện thông tin của thế giới đã loại bỏ những chướng ngại về ngôn ngữ và chủng tộc.
10/12/2013(Xem: 35639)
Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với câu chuyện đời của Đức Phật. Chúng ta biết rằng thái tử Siddhattha đã rời bỏ cung điện lộng lẫy của vua cha, để bắt đầu cuộc sống không nhà của người lữ hành lang thang đi tìm con đường tâm linh, và sau nhiều năm tu hành tinh tấn, Ngài đã đạt được giác ngộ khi đang nhập định dưới gốc cây bồ đề. Sau khi xả thiền, Đức Phật đã đi đến thành phố Benares, giờ được gọi là Varanasi. Ở đó, trong Vườn Nai, lần đầu tiên Ngài thuyết pháp về những gì Ngài đã khám phá về con đường đi đến hạnh phúc toàn vẹn. Lời dạy của Đức Phật rất đơn giản nhưng sâu sắc.
10/12/2013(Xem: 19175)
Đây là một đề tài khá phức tạp và dễ bị hiểu lầm. Có câu nói: ‘Hành trình ngàn dặm khởi đầu bằng một bước đi (a journey of a thousand miles begins with a single step). Vì vậy, vấn đề cần phải nêu ra là khi nào và từ đâu chúng ta bắt đầu cất bước trên con đường tâm linh? Đa phần chúng ta đi tìm con đường tâm linh cho mình khá trễ. Trễ là do mình không cảm thấy nhu cầu cần thiết cho tâm linh lúc trẻ vì quan niệm rằng chùa chiền không thể nào giải quyết được những ưu phiền, đau khổ trong cuộc sống của tuổi trẻ. Chùa là dành cho những người lớn tuổi, xế chiều. Họ cần đến chùa là để vun bồi phước đức như làm việc thiện, bố thí, công quả .v..v… để ‘sau này’ được hưởng phước tốt lành.
09/12/2013(Xem: 11731)
Gia đình nghèo kia có ba người: Bố – Mẹ – và Con trai. Họ sống âm thầm và bình lặng trong một thôn làng hẻo lánh, người Bố đi làm thuê để kiếm cơm gạo nuôi gia đình, người mẹ lo việc bếp núc, trồng mấy luống rau, và chăm sóc con. - Một buổi trưa hè nắng nóng, người mẹ trên đường từ chợ về nhà chợt nhặt được một trái cam ai đó đánh rơi bên đường, cơn khát và mệt nhọc dường như tiêu tan khi bà nghĩ đến miếng cam ngọt lịm và mọng nước. Nhưng nghĩ đến đứa con ngoan ngoãn chẳng mấy khi được ăn hoa trái thơm ngon, bà liền lau sạch trái cam và cất vào túi.
09/12/2013(Xem: 15017)
Giáo lý đạo Phật không chỉ nói về những vấn đề “xuất thế”, mà Đức Phật cũng đã rất chú trọng về vấn đề “nhập thế” - hoàn thiện nhân cách trước khi đạt được thánh cách - giúp cho tất cả chúng ta một phương pháp ứng xử phù hợp với đạo lý làm người, tạo nên một nhân cách sống. Nhân cách sống đó, dù bất cứ ở đâu và bất cứ thời điểm nào, cũng có thể ứng dụng và mang lại những kết quả tốt đẹp...
09/12/2013(Xem: 13877)
Có thầy trò một nhà kia làm nghề hát xiệc. Người thầy là một người đàn ông góa vợ và người học trò là một cô gái nhỏ tên là Kathullika. Hai thầy trò đi đây đó trình diễn để kiếm ăn. Màn trình diễn của họ là người thầy đặt một thanh tre cao trên đỉnh đầu mình, trong khi bé gái leo dần lên đầu cây rồi dừng lại trên đó, để người thầy tiếp tục đi trên đất. Cả hai thầy trò đều phải vận dụng sự tập trung tâm ý đến một mức độ khá cao, để giữ thăng bằng và để ngăn chặn tai nạn có thể xảy ra.
09/12/2013(Xem: 14892)
Tự thủy uyên nguyên, khắp các loài chúng sanh cùng với Phật đồng một tâm, tức cái tâm tánh tuyệt đối, chơn thường, vắng lặng, trong trẻo, tròn đầy, trùm khắp, không lay không động, không đến không đi, không sanh không diệt, vô thỉ vô chung, cực linh cực mầu, hay sanh các pháp. Do Phật tâm thanh tịnh, vắng lặng, huyền mầu, nhưng lại khéo sanh vạn pháp, nên cổ đức mới tạm mượn lời mà đặt tên, gọi cái tánh huyền mầu đó là "chơn không diệu hữu", tức từ cái tánh linh diệu trong trẻo, không một vật mà pháp pháp tuỳ duyên trùng trùng sanh khởi.