Mùa Xuân Viễn Xứ

13/05/201312:48(Xem: 22350)
Mùa Xuân Viễn Xứ
Cho Trọn Mùa Xuân


Mùa Xuân Viễn Xứ

HT. Thích Đức Niệm
Nguồn: www.quangduc.com


mai-10Xuân đã về rồi ư? Xuân đã về sao không thấy hoa cười, lá tươi, khí trời mát dịu trong ánh xuân dương nắng ấm? Xuân đã về rồi ư? Xuân đã về sao không thấy người người thảnh thơi trong bộ áo mới, vẫn không thấy nụ cười hiển lộ trên đôi môi để đón mừng xuân? Xuân tết ở đây, trên đất khách quê người, không còn là xuân tết của những năm trước khi còn ở quê hương!

Xuân tết ở đây không mang màu sắc đặc tính nào giống với xuân tết quê hương khi tôi còn trên đất mẹ thương yêu! Người ta bảo nhau xuân tết đã đến rồi. Nhưng tôi lục lạo tìm mãi nơi lòng tôi và hướng mắt khắp nhìn ra khoảng không gian bốn bề cảnh vật, vẫn không tìm thấy nét xuân tết đâu cả! Nhìn ra cảnh vật bốn bề, thấy đâu đâu cũng cây cối trơ cành, cỏ hoa khô héo, khí trời buốt lạnh căm căm, nhà nhà vẫn giữ chặt cái vẻ âm thầm biệt lập như những hòn đảo lạnh trơ trên mặt đại dương! Ngoài đường, người người vẫn như thường ngày hấp tấp vội vã để đến sở làm cho kịp giờ! Cảnh vật chẳng những không xanh tươi gì hơn ngày thường mà còn đó đây hiện bày ra cảnh tượng tiêu điều cằn cỗi thê lương hơn nữa! Phải chăng khí trời tạo nên tiết mùa thay đổi, hay đó chỉ là bởi tại “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!?”

Kinh Hoa-Nghiêm, đức Phật nói: “Tâm như nhà họa sĩ tài ba hay vẽ vời ra muôn ngàn cảnh vật.” (Tâm như công họa sư, tạo chủng chủng chư pháp.) Cảnh vật ở đây không thấy chúa xuân xuất hiện, không thấy nàng xuân màu sắc uyển chuyển thướt tha hoa thắm lá xanh cành mai đào búp nụ, hay đó chỉ riêng nhãn quang của kẻ tha hương lòng xuân đã chết lịm từ lâu, bởi mang đầy lo âu uẩn khúc đau khổ trong môi trường vật chất cạnh tranh dẫy đầy phiền toái thị phi mà không bắt gặp nàng xuân? Tìm lại chính bản thân, tôi vẫn thấy lòng thản nhiên như dòng nước chảy, thường tại như những ngày qua, không cảm thấy chút nào hương sắc của trời xuân đâu cả, cũng không thấy bàng bạc đâu đâu cõi lòng rung động với nỗi vui mừng về ý nghĩa xuân tết trần gian.

Nhìn lên trời dày đặc lớp vi trần thán khí của kỹ nghệ nhả ra ngăn mờ ngàn sao đêm, không còn thấy ánh sáng tua tủa lấp lánh. Bốn bề vắng ngắt lạnh tanh không nghe thấy pháo nổ mừng đón giao thừa xuân tết. Cũng khôn thấy trước mỗi nhà có trang hoàng nét đặc thù gì thêm để tỏ dấu hiệu đón mừng xuân tết. Xuân ở đâu? Hay xuân đã chìm sâu trong nỗi lòng đau khổ nhớ thương của kẻ vong quốc tha hương? Cảnh đời vô thường, vạn vật vô tình hay chính mình đang sống trong lạc lõng bơ vơ:

Quê hương đâu phải nơi nầy
Ăn nhờ ở tạm cho ngày tháng qua
Lang thang khắp cõi Ta-bà
Xót thương cái kiếp hằng sa lạc loài

Giờ đây trọn gởi niềm đau, với nỗi xót thương hướng về bên kia Thái-bình-dương ngàn xa cách trở sâu thẳm trong mù sương, quê hương chìm trong sương khói mịt mù, nơi đó dẫy đầy lao tù đói khổ, người hành hạ người cùng chủng tộc không chút tiếc thương, và tôi đây chỉ còn sống lại những kỷ niệm tết của thời dĩ vãng, chứ thực tại thì xuân quê hương đã xa cách lắm rồi!

Làm sao có thể vui hưởng mùa xuân chân thật, khi lòng còn nặng trĩu xót xa cho quê hương đang còn rách nát, đồng bào quyến thuộc đang còn bị kềm kẹp dưới ách thống trị bất nhân vô luân của cộng-sản vô thần? Khi mà quê hương còn dẫy đầy lao tù, người người còn phải chịu cảnh sống chia ly thân bằng quyến thuộc; khi mà con ma đói nghèo còn bám chặt cấu xé thân xác đồng bào, người phải ăn bo bo khoai sắn như súc vật; người phải kéo cày thay trâu bò! Ngày nào còn những hiện tượng khủng khiếp hoành hành trên đất mẹ quê hương thì ngày ấy không thể nào có mùa xuân chân thật mang trọn ý nghĩa xuân tết Di-Lặc, xuân hạnh phúc được!

Làm sao có được mùa xuân Di-Lặc, khi mà trên quê hương đất mẹ còn nhan nhản cái cảnh chùa viện giáo đường bị ác quey62n chiế dụng, bị kiểm soát theo dõi, thầy bạn bị phản phúc tù đày, huynh đệ còn sống trong cảnh ngày ngày hồi hộp lo âu thiếu thốn cơ cực? Chừng nào những cực hình nầy còn tiếp diễn, thì chừng ấy vĩnh viễn không sao có thể nở được nụ cười xuân Di-Lặc. Khi mà hải ngoại còn phủ dày trược khí nghi kỵ, xuyên tạc, vu khống, ngụy tạo chụp mũ để bôi bẩn hại nhau, thì ánh xuân dương không cách nào hiển lộ trên bầu trời trong lành tươi mát.

Ánh xuân dương hiển lộ, hoa xuân phô sắc thắm, lòng người cảm thấy đầm ấm hòa vui, là chỉ khi nào con người biết sống thật với lòng mình, thành tâm nhìn nhận sự thật, tôn trọng sự thật và sống cho sự thật trong tình ngưòi tương thân tương kính. Một khi tôn trọng sự thật là biết chọn lấy lẽ sống tiến bộ, là can đảm vất bỏ cặp kính màu vào thùng rác, là cất bước tiến lên quang lộ thánh thiện để thực hiện mùa xuân hạnh phúc cho mình và đồng loại. Đấy là yếu kiện cần thiết để hợp quần Diên-Hồng người người nhất trí với lòng thương chân thật trong cùng ý chí sắt son, thì lúc đó chủ thuyết phi nhân vô đạo ngoại lai vong bản sẽ không còn lý do tồn tại. Đấy là cơ hội để quang phục tổ quốc, xây dựng quê hương thương yêu trong tình tương thân tương kính tương trợ đồng bào đồng chủng.

Nhưng thực tế lại quá đỗi phũ phàng! Nghiệp dân vận nước vẫn còn miên man truân chuyên, bởi lòng người chưa thức tỉnh về một bài học nguyên nhân của sự bỏ nước ra đi mang kiếp sống tha hương! Khi nào trên đất mẹ sạch hết những đứa con vong bản vô minh sùng bái chủ nghĩa phi nhân vô đạo; khi nào người Việt biết thương nhau xả bỏ tỵ hiềm không làm tay sai cho các thế lực vô minh; khi nào toàn dân Việt biết trở lại sống với đạo lý truyền thống ngàn xưa của thời Đinh, Lê, Lý, Trần, thì dân tộc mới hòng có cơ độc lập tự chủ, hào quang xuân hạnh phúc mới thật sự rạng chói trên quê hương, tình chủng tộc mới thật hài hòa vui tươi. Lúc đó mọi người ai nấy tự tại sống lại trên đất mẹ thân yêu, chấm dứt mùa xuân viễn xứ tha hương, mới thật sự sống trong mùa xuân hạnh phúc của thời Lý, Trần. Ấy là mùa xuân hạnh phúc, mùa xuân dân tộc truyền thống ngàn đời của tổ tiên.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/11/2010(Xem: 20293)
Ngày20 tháng tư nhuận năm Quí Mão(11/6/1963) trong một cuộc diễnhành của trên 800 vị Thượng Tọa, Ðại đức Tăng, Ni đểtranh đấu cho chính sách bình đẳng Tôn giáo, cho lá cờ quốctế không bị triệt hạ: tại ngã tư đường Phan Ðình Phùng,Lê Văn Duyệt ( Sài Gòn), lúc 9 giờ sáng, Hòa Thượng QuảngÐức phát nguyện tự tay châm lửa thiêu thân làm ngọn đuốc“ thức tỉnh” những ai manh tâm phá hoại Phật giáo. Dướiđây là tiếng nói tâm huyết cuối cùng của Ngài gửi lạicho đời.
06/11/2010(Xem: 15014)
Ngày nay, ở phương Tây, rất nhiều trung tâm dạy thiền, khí công, yoga… để chữa bệnh cũng chủ yếu là dạy cách thở bụng Nguyễn Khắc Viện là một bác sĩ, sinh năm 1913 tại Hà Tĩnh, học đại học Y khoa Hà Nội rồi sang Pháp tiếp tục học, tốt nghiệp bác sĩ nhi khoa năm 1941. Năm 1942, ông bị lao phổi nặng, điều trị ở bệnh viện Saint Hilaire du Touvet, Grenoble. Thời đó, bệnh lao chưa có thuốc chữa như bây giờ. Từ năm 1943 đến năm 1948, ông phải chịu mổ bảy lần, cắt bỏ tám cái xương sườn, cắt bỏ toàn bộ lá phổi bên phải và một phần ba lá phổi bên trái.
04/11/2010(Xem: 12645)
Thanh thường bị bè bạn chế giễu là “công tử miệt vườn”, có thể một phần vì gia đình chàng sở hữu một thửa vườn cây trái khá rộng – vườn Tám Thà - tại ngoại ô thị trấn Châu Đốc, nhưng cũng có thể cũng do bản tánh hiền lành chơn chất và “nhát gái” của chàng.
04/11/2010(Xem: 16776)
Học Phật không phải học lý thuyết của một bộ môn tư tưởng, cũng không phải cố gắng hoàn tất những pho giáo lý được biện giải bởi những nhà tri thức đa văn và có tài diễn đạt, cũng không phải như những Pháp sư thông làu các tạng kinh, luận và giới luật. Học Phật ta có thể tạm thí dụ như học ngành bác sĩ chuyên khoa, chữa trị bệnh tật có hiệu lực và cứu sống được nhiều người.
02/11/2010(Xem: 14397)
Hôm nay chúng tôi xin nói qua và giải thích thêm về bản chất của Đạo Phật để quí Phật tử thấy rõ đạo Phật là bi quan hay lạc quan. Đây là vấn đề mà nhiều người muốn biết, nhưng Phật tử chúng ta đa số vẫn chưa giải nổi. Chúng tôi sẽ nói rõ để quí Phật tử hiểu cho thật đúng với tinh thần của đạo Phật, tránh bị người xuyên tạc, hiểu lầm. Trước hết, chúng tôi nói đến quan niệm mà đa số người hiểu lầm cho rằng đạo Phật là bi quan.
02/11/2010(Xem: 15009)
aukhi D.T. Suzuki qua đời, hội Phật giáo Hoa kỳ góp nhặt các bài viết cuối cùng củaông để in thành sách với tựa đề "Lãnhvực của Thiền học Zen" (TheField of Zen, 1969) và bốn mươi năm sau quyển sách này được dịch sang tiếngPháp với tựa đề "Những bài viết cuốicùng bên bờ của cõi trống không" (DerniersÉcrits au bord du Vide, 2010). Dưới đây là một trong số các bài được tuyểnchọn trong quyển sách này.
31/10/2010(Xem: 16653)
Đức Phật dạy có năm sự khéo léo trong giao tiếp đem đến nhiều kết quả tốt đẹp. Theo ngài Xá Lợi Phất, không tuân theo năm cách xử sự này sẽ đem đến những hậu quả...
31/10/2010(Xem: 18055)
Bài nầy do Chân Văn dịch từ Chương Bốn trong quyển "Living Buddha, Living Christ" của Thích Nhất Hạnh, Riverheads Book xuất bản 1995. Quyển sách gồm nhiều bài giảng bằng Anh ngữ của Thầy, được ghi âm, chép lại và nhuận sắc. Ðây là một quyển sách đã bán được rất nhiều trong loại sách về tôn giáo và tâm linh ở Hoa Kỳ. Theo lối quen dùng trong các sách Việt ngữ của Thầy, từ "Buddha" được dịch là "Bụt", một từ trong tiếng Việt cổ dùng để phiên âm "Buddha" khi đạo Phật được truyền vào Việt Nam vào đầu kỷ nguyên Tây lịch. Về sau, từ khi người Việt dùng kinh sách chữ Hán, từ "Phật" hay "Phật Ðà" (tiếng Hán Việt) được dùng thay từ "Bụt". Bài dịch nầy đã được đăng trên tạp chí Thế Kỷ 21, California, Hoa Kỳ, tháng 11-1995
31/10/2010(Xem: 17627)
Tham sống sợ chết, đó là sự thật của người đời. Thế nhưng tại sao lại giết hại, cắt đứt sự sống của chúng sanh khác? Trong bài viết ngắn này chúng tôi sẽ đề cập đến vấn đề "Không sát sanh" hay "tôn trọng sự sống" như là thái độ sống của một người Phật tử.
29/10/2010(Xem: 14187)
Linh hồn sẽ tồn tại sau khi chết có hay không ? Sau đây bài viết “Linh Hồn và Cõi Âm” của GS TS Bùi Duy Tâm (sống tại Francisco, CA 94122, USA). Từ chỗ chưa có cơ sở để tin cậy vào sự tồn tại vong linh của con nnep song daogười, GS Tâm đã kiên trì tìm hiểu vấn đề tâm linh và cuối cùng đã rút ra kết luận chắc chắn rằng : sự sống sau cái chết là có thực !