Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

CHƯƠNG TRÌNH HÀNH HƯƠNG TỨ ĐẠI DANH SƠN, TRUNG QUỐC, 21 NGÀY

25/06/201317:10(Xem: 2724)
CHƯƠNG TRÌNH HÀNH HƯƠNG TỨ ĐẠI DANH SƠN, TRUNG QUỐC, 21 NGÀY

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT HẢI NGOẠI TẠI ÚC ĐẠI LỢI-TÂN TÂY LAN
The Unified Vietnamese Australian Buddhist Congress of Australia – New Zealand
Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
TU VIỆN QUẢNG ĐỨC

105 Lynch Road, Fawkner, Victoria 3060, Australia. Tel: 03.9357 3544. Fax:03. 9357 3600.
Email:quangduc@tpg.com.au; Website:
www.quangduc.com

_______________________________________________________________

CHƯƠNG TRÌNH
HÀNH HƯƠNG TỨ ĐẠI DANH SƠN,
TRUNG QUỐC, 21 NGÀY

(từ 20-10 đến ngày 09-11-2009)

Thăm Chùa Hàn Sơn

TTCN - Chúng tôi có mặt nơi “xuất xứ” bài thơ Phong kiều dạ bạc vào một sáng đầu thu, khi những chiếc lá ngô đồng đầu tiên vừa lẳng lặng lìa cành và in những đốm thu vàng vào những phiến đá xanh xám trên đường phố Tô Châu.

phongkieudabac

Hơn ngàn năm trước, Trương Kế đã ghé bến thuyền này trong một đêm trăng buồn và sự cô độc không giấu được. Còn bây giờ, Hàn Sơn tự lúc nào cũng dập dìu ngựa xe...

Hương vị mát ngọt của sương thu và sông lạnh dường như tan biến đi ngay khi ta bước qua cổng chùa có giá vé 25 tệ. Trong chùa, không gian được dành cho nhang khói, cho sắc màu của đủ mọi trang phục ngắn dài, cho đủ lời thuyết minh với du khách bằng nhiều thứ tiếng có qua loa hoặc không qua loa phóng thanh cầm tay...

Lầu chuông liên hồi vang lên những âm thanh không rõ thông điệp có giá 5 tệ cho ba lần gióng chuông. Người ta cúng bái, cầu nguyện, cười nói, đi lại, nhìn ngắm, mua bán vô cùng sôi nổi. Phía sau, tháp Phổ Minh bảy tầng đang được rào chắn để đại tu. Bên hông có một bảng kê lịch thuyết pháp của các thầy, có kèm ảnh chân dung, giống như bảng kê tên và ảnh các đại phu cho bệnh nhân tự chọn mà chúng tôi từng gặp ở Bệnh viện Trung Y thành phố Côn Minh (Vân Nam).

Cổng sau của chùa có lối dẫn qua Hàn Sơn biệt viện (nơi ở của các tăng), trong đó có một quán bán trà. Trước cổng biệt viện, lố nhố nhiều người đàn ông chuyên bám đuổi và mời gọi du khách đi... xem bói! Các tăng đi lại, cười nói cũng sôi nổi không kém. Ai cũng da đỏ hồng, mặt béo tốt, miệng cười tươi, mắt mở to khắp các hướng như để thu nhận cho được hết cái cảnh chợ đang diễn ra trong chùa và quanh chùa. Sự sung túc ẩn mình trong nếp Phật y...

Chùa Hàn Sơn là ngôi chùa nhỏ nhưng nổi tiếng là nhờ tiếng chuông. Tiếng chuông chùa nổi tiếng là nhờ bài thơ của Trương Kế. Bài thơ của Trương Kế lại nổi tiếng là nhờ mấy xìcăngđan mấy trăm năm chung quanh những câu thơ tứ tuyệt đó: Có thật là có tiếng chuông chùa lúc nửa đêm không? Có phải giang phong là cây phong bên sông và ngư hỏa là đốm lửa của làng chài? Hay đó là Giang kiều, Phong kiều? Hay đó là Giang Phong sơn và Ngư Hỏa sơn? Và có không Ô Đề thôn, Sầu Miên sơn?... Nhưng thật ra Hàn Sơn tự còn nổi tiếng bởi đôi ẩn sĩ Hàn Sơn và Thập Đắc.

Theo sử sách, Hàn Sơn còn được gọi là Hàn Sơn Tử, sống vào thời Trịnh Quán, đời Đường. Là thi sĩ, tăng sĩ, cùng với Thập Đắc, Phong Can làm nên “Quốc Thanh tam ẩn”. Ông sống ẩn dật, cơ hàn trong hang đá ở núi Thiên Thai (Chiết Giang), thường đến chùa Quốc Thanh do thiền sư Phong Can trụ trì, để thăm bạn là thi tăng Thập Đắc.

Hàn Sơn hành trạng cổ quái, tính khí khác thường: “đội mũ vải gai, chân đi guốc gỗ, mặc áo choàng lam, xốc xa xốc xếch, cười hát tự nhiên...”, “chốc chốc lại kêu gào chửi bới mọi người, hoặc là ngẩng mặt lên trời mà chửi đổng”.

Còn Thập Đắc, chỉ biết là bị bỏ rơi từ nhỏ trong rừng, được sư Phong Can tìm thấy và đem về chùa nuôi dưỡng (Thập Đắc có nghĩa là nhặt được), chuyên trông nom nhà bếp trong chùa. Cả hai là đôi bạn “cuồng sĩ” thường bá vai nhau, cười la nhảy múa, đi chạy khắp nơi. Hai ông thường lui tới chùa nên thiền sư Hy Thiên đặt tên Hàn Sơn để làm kỷ niệm...

Nhưng sử sách chưa chắc đã làm hài lòng dân gian. Cho nên người ta còn truyền miệng một câu chuyện tình tay ba rất ly kỳ hấp dẫn theo môtip chuyện ba người thường thấy ở khắp mọi nơi. Đại ý là Hàn Sơn và Thập Đắc cùng yêu một cô gái. Sau khi phát hiện sự thật, Hàn Sơn thấy mình có lỗi với bạn hiền, bèn bỏ đi tu. Thập Đắc sau đó biết được chuyện bạn hi sinh vì mình, cũng bỏ đi tu nốt...

Chuyện ấy thực hư thế nào không biết được. Cũng không rõ cô gái ấy là ai, tên gì, và cũng không biết có nên đối xử với cô gái ấy như thế không? Nhưng có một điều chắc chắn: tình bạn của Hàn Sơn - Thập Đắc được dân gian khắc tạc thành một biểu tượng thiêng. Cho nên trong chùa Hàn Sơn có nhiều tranh tượng về Hàn Sơn, Thập Đắc và sau chánh điện là Hàn - Thập điện. Giữa Hàn - Thập điện là một nhóm tượng rất sinh động, thếp vàng sáng chóe đặt trên cao với Hàn Sơn đứng cầm một bông hoa sen, còn Thập Đắc ngồi cầm một cái bình. Hoa sen (liên hoa) còn được gọi là hà hoa, hà gần âm với hòa.

Cho nên, nếu nhìn từ bên phải qua, theo cách đọc của người Trung Quốc, người ta thấy hiện lên hai chữ “hòa bình”. Bây giờ, mỗi khi người Trung Quốc thấy vợ chồng, anh em, bạn bè, đối tác làm ăn với nhau mà bất hòa, xích mích thì cùng kéo nhau đến đây, quì lạy trước hai vị Hàn -Thập để hóa giải mọi mâu thuẫn, cầu mong sự thuận hòa...

Ngẫm đi, nghĩ lại, thấy tục lệ này hay thật là hay! Nếu nhị vị Hàn - Thập linh thiêng hóa giải được mọi đố kỵ, hiềm khích, tranh giành của chốn nhân sinh thì thật là phúc đức cho bá tánh, lại ích quốc lợi gia, không chỉ cho xứ sở các ngài mà còn cho láng giềng… như nước ta! Cứ nghĩ mà xem, nếu có hai sếp của một cơ quan vốn hằng ngày cơm không bao giờ lành, canh chưa bao giờ ngọt, vào họp thì đập bàn, ra làm thì đập việc, lôi cuốn cả đám thuộc hạ vào những trận cuồng phong không ngừng khiến anh em không khỏi bươu đầu sứt trán, nội bộ huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt; thanh tra kiểm thảo liên miên…

Bỗng dưng một ngày kia, sau chuyến ghé thăm Hàn SơnTự trở về, cả hai lại bá vai nhau như đôi bạn thân, cùng tôn trọng lắng nghe, cùng hợp tác làm việc thì cơ quan như được đổi dời, từ đông tàn sang xuân tươi! Nghĩ rộng ra và ước sao tới đây, hễ cơ quan, đơn vị nào mà mất đoàn kết nghiêm trọng thì cấp trên “bình chọn” ngay những cặp “đối thủ trực tiếp”, thu thập danh sách từ dưới lên gửi về cho Sở Nội vụ các tỉnh thành tổng hợp và lên kế hoạch bắt buộc lần lượt đưa từng đôi một… cùng đi viếng chùa Hàn Sơn và cúng vái Hàn-Thập! Danh sách chắc hẳn là cũng dài mấy trang A4.

Chi phí không phải là nhỏ, mỗi cặp theo thời giá hiện nay đi du lịch Tô Châu cũng tiêu tốn không dưới 1.000 đô. Nhưng thà tốn kém như thế mà tìm lại được sự đoàn kết thì còn gì đáng mừng hơn, vui sướng hơn! Xem ra đó cũng là chi phí đầu tư cho sự phát triển của đất nước. Nghĩ đến đó mà mừng lắm thay!

DUYÊN TRƯỜNG

IMG_5117

CHÙA HÀN SƠN TRONG HỒN THƠ TRƯƠNG KẾ
PGS - TS. HỒ SĨ HIỆP

Một ngôi chùa, một tiếng chuông chùa qua hồn thơ của thi nhân mà trở nên bất hủ. Bài thơ của Trương Kế sẽ còn sống mãi trong lòng Phật tử với chùa Hàn Sơn và tiếng chuông chùa. Hôm nay, đến Tô Châu thả hồn trong chùa Hàn Sơn đầy hương khói và tĩnh lặng tôi mới thấu hiểu điều đó. Kỳ diệu thay thơ ca và Phật giáo giao hòa tự bao giờ và tự bao đời trên cõi đời này!

Đối với người Việt Nam yêu thích thơ Đường những địa danh Trung Hoa như lầu Hoàng Hạc, Thái Hồ, Cô Tô, bến Tầm Dương, bến Phong Kiều và chùa Hàn Sơn trở nên thân quen. Chuyện kể rằng hôm ấy sư thầy trụ trì chùa Hàn Sơn đêm đã khuya lắm rồi mà vẫn còn thao thức vì không làm được hai câu cuối bài thơ thất ngôn tứ tuyệt. Cũng đêm hôm đó chú tiểu trong chùa không sao chợp mắt. Biết được tâm trạng của sư thầy, chú tiểu xin phép đọc hầu hai câu mà chú làm trong đêm không ngủ. Sư thầy vui lắm, vì tình cờ mà hai thầy trò trong đêm nay đã làm được một bài thơ. Sư thầy truyền cho chú tiểu lên thắp hương, thỉnh chuông để tạ ơn Phật tổ đã giúp cho hai thầy trò ngẫu nhiên làm được một bài thơ xứng ý. Tình cờ sao, đêm ấy dưới khoang thuyền đậu ở bến Phong Kiều thuộc thành Cô Tô thi sĩ Trương Kế, người đất Thượng Châu, Hồ Bắc, đang nằm và không sao ngủ được. Trương Kế không ngủ được vì nhiều lẽ nhưng có nguyên do là ông đang làm một bài thơ mà “bí” không tìm được tứ thơ của hai câu cuối. Trong không gian mùa thu, đêm đã khuya, trăng đã ta, lại thêm tiếng quạ kêu, sương lạnh rơi khắp trời, thì bất ngờ thay Trương Kế nghe được tiếng chuông chùa Hàn Sơn vẳng đến. Tiếng chuông chùa đêm khuya trong trẻo, ngân vang đã lay động tâm hồn u sầu, mất ngủ của thi sĩ. Cảm xúc đó đã giúp cho Trương Kế sáng tác một bài thơ lưu truyền xưa nay - bài “Phong Kiều dạ bạc” (Đêm đậu thuyền bến Phong Kiều):

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong như hỏa đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Tản Đà dịch :

Trăng tà, chiếc quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt vẻn vẹn chỉ 28 chữ mà nói lên bao điều về đạo và đời. Hai câu đầu nói về cảnh mùa thu ở một bến vắng dưới cầu Phong (Phong Kiều) buồn lạnh và cô đơn. Đó là cảnh nhà thơ chấm phá vài nét bằng ngôn từ mà thành một bức tranh có màu sắc, đường nét và âm thanh. Nội dung toát lên qua hai câu thơ này là cảnh buồn, người buồn. Và đúng như Nguyễn Du đã nói “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.” Hai câu sau là nói về đạo. Đạo ở đây là đạo Phật được hiện lên ở một địa danh (là Hàn Sơn tự - chùa Hàn Sơn) và một danh từ (chung thanh - tiếng chuông chùa). Câu thơ giản dị, không điển tích mà làm cho người đọc cảm xúc về một ngôi chùa Hàn Sơn ở ngoại thành Cô Tô, gần bến Phong Kiều và một tiếng chuông chùa trong đêm khuya thanh vắng. Nhà thơ Quách Tấn đã xúc cảm bài thơ này của Trương Kế mà làm bài thơ “Đêm thu nghe quạ kêu” trong đó có câu:

Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng,
Sông thu Xích Bích nguyệt mơ màng.

Vì yêu bài thơ “Phong kiều dạ bạc” của Trương Kế nên tôi không thể quên ngôi chùa Hàn Sơn và tiếng chuông chùa ngân nga và đầy sức lay động của nó. Vì lẽ đó trong thời gian ở Thượng Hải tôi quyết định đến Tô Châu để thăm chùa Hàn Sơn, bến Phong Kiều và tìm hiểu một địa danh đã đi vào lịch sử, đi vào văn học - Chùa Hàn Sơn.

Chùa Hàn Sơn xây dựng ở phía tây Xương Môn, Tô Châu - thị trấn Phong Kiều bên sông Đại Vân Hà, thuộc tỉnh Giang Tô ngày nay. Theo sách “Bách thành yên thủy” ghi chép về văn hiến địa phương thì chùa Hàn Sơn được xây dựng giữa những năm Thiên Giám Tiêu Lương (502-519) thời Nam Triều. Như vậy, chùa Hàn Sơn có lịch sử hơn 1500 năm tên cũ của chùa là Diệu Lợi Phổ Minh tháp viện. Vì ở gần bên Phong Kiều nên chùa còn có tên là Chùa Phong Kiều (Phong Kiều tự). Thời Đường (618-907) Phật giáo thịnh hành, chùa chiền mọc lên như nấm, sư sãi đông đúc nên chùa Hàn Sơn trở nên quan trọng. Tương truyền rằng hai vị cao tăng đời Đường là Hàn Sơn và Thập Đắc đã đến trụ trì ở chùa này nên đặt tên là chùa Hàn Sơn tự. Đầu thời Thái Bình Thiên Quốc (976-984), thời Bắc Tống (960-1127) Tiết đô sứ quân Trung Ngô là Tôn Thừa Hiệu cho xây dựng lại Phật tháp. Vào năm Gia Hựu (1056-1063) vua Tống Nhân Tông ban cho chùa tên là Phổ Minh thiền viện. Năm Thiệu Hưng thứ 4 (1134) chùa Hàn Sơn lại đựơc trùng tu và bảo quản kỹ. Cuối đời Nguyên chùa bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Năm Hồng Vũ (1368-1398) đời Minh chùa lại được trùng tu lại. Năm Hàm Phong thứ 10 (1860) đời Thanh cả vùng Phong Kiều, Tô Châu gặp nạn binh hỏa, nhà điện, lầu gác, cửa chùa biến thành tro bụi. Năm Quan Tự thứ 32 (1906) tuần phủ Tô Châu là Trần Quí Long quyên góp tư liệu, tu sửa, đúc chuông, làm lầu gác và chùa viện dần dần khang trang, qui mô to lớn. Năm Tuyên Thống thứ 23 (1910) tuần phủ Trình Đức Toàn, bố chính sứ lục Trung Kỳ lại tu sửa, mở rộng, làm thêm đại điện, hành lang nên chùa trở nên mới mẻ, đẹp đẽ và trang nghiêm như ngày nay.

Từ năm 50 về sau, chùa Hàn Sơn trải qua nhiều lần tu sửa. Năm 1963 chùa Hàn Sơn đựơc thành phố Tô Châu (tỉnh Giang Tô) công nhận là đơn vị bảo vệ văn vật. Năm 1982 ngôi chùa có lịch sử lâu đời này được công nhận là di tích văn hóa của tỉnh Giang Tô.

Sân chùa nằm ở hướng đông, chiếm diện tích 6 vạn m2, hai phía Đông - Tây có tường cửa, Đại Hùng Bảo điện, Hàn Thập điện, Tàng Kinh lâu và Pháp Minh phổ viện. Phía Bắc chùa có Sương Chung các, La Hán đường, Hàn Thập tuyền, Hàn Thập đình, Phương Trượng thư trai và Tăng xá. Phía Nam có Phong Giang lâu, Hoằng Pháp đường, Phòng chuông, lầu chuông. Năm 1996 Ngọc Tháp Bảo Minh xây mới, làm thành 5 cấp bốn mặt lầu gác theo kiểu kiến trúc đời Đường nguy nga, hùng tráng , trở thành tiêu chuẩn mới của chùa Hàn Sơn. Trong chùa trưng bày la liệt bản bia thư pháp của các danh gia từ đời Tống, Minh về sau như : Nhạc Phi, Trương Tức Chi, Đường Diễn, Văn Trưng Minh, Dũ Việt, Khang Hữu Vi và cả những bức tranh tượng, các sư tăng Hàn Sơn và Thập Đắc do La Sính và Trịnh Văn Trác sáng tác, làm tăng thêm cảnh quan của chùa. Trên lầu chuông treo chiếc chuông rất lớn đúc từ đời Thanh. Tiếng của chiếc chuông lớn này mỗi lần vang lên làm chấn động tâm hồn mọi người. Hàng năm, cứ đến đêm trừ tịch, chùa Hàn Sơn đến cử hành nghi thức “nghe tiếng chuông đón mừng năm mới” (Thính chung thanh nghênh tân niên) mọi người khắp nơi tụ tập đông đúc, trang nghiêm lắng nghe 108 tiếng chuông chùa để giã từ năm cũ và nghênh đón năm mới.

Chùa Hàn Sơn cũng là chứng tích lịch sử thể hiện mối bang giao hữu hảo giữa nhân dân hai nước Trung – Nhật. Ngay từ năm Trung Nguyên thứ 20 (804,) thời Đường Đức Tông, cao tăng Nhật Bản là Không Hải Đại Sư vượt biển đến Trung Hoa để cầu pháp đã ghé qua Tô Châu và lưu lại ở chùa Hàn Sơn. Hiện nay trong Đại Hùng Bảo Điện có treo đầu núm chuông đồng do Sơn Điền Hàn Sơn người Nhật Bản năm Minh Trị thứ 38 (1905) đúc tặng. Trong La Hán đường và Hoằng Pháp đường có hai bức tượng đồng Quan Am Bồ Tát và Không Hải do đoàn thể hữu hảo Nhật Bản tặng chùa.

Văn hóa, kinh tế và du lịch của Thành phố Tô Châu không ngừng phát triển. Hơn 10 năm trở lại đây cảnh quan Phong Kiều và chùa Hàn Sơn không ngừng thay đổi và mang lại một bộ mặt mới. Khu du lịch Hàn Sơn tự bao gồm Cổ Vận Hà, cổ trấn Phong Kiều, Phong Kiều, cầu Giang Thôn, cửa Thiết Linh, vườn Phong Kiều và toàn bộ Khu Chùa Hàn Sơn hấp dẫn du khách thập phương trong và ngoài nước.

So với các chùa khác đời Đường, chùa Hàn Sơn không phải chùa lớn. Nhà Đường thành lập năm 618 thì chùa Hàn Sơn đã có trước đó gần 100 năm. Chùa Hàn Sơn ở Tô Châu thuộc tỉnh Giang Tô còn Trương Kế là người Hồ Bắc. Không hiểu nguyên do nào Trương Kế từ Hồ Bắc đến Tô Châu, tỉnh Giang Tô và đêm đó ngủ dưới thuyền ở bến Phong Kiều ? Câu chuyện kể trên chỉ là truyền thuyết nhưng đúng là Trương Kế là người có thiện cảm với chùa Hàn Sơn và đặc biệt là tiếng chuông chùa Hàn Sơn trong đêm khuya thanh vắng.

Chùa Hàn Sơn và bài thơ “Phong

kiều dạ bạc” đã gắn liền với tên tuổi của nhà thơ đời Đường Trương Kế. Nhà thơ sinh và mất năm nào không rõ, chỉ biết ông tự Ý Tôn, người Tương Châu (nay là Tương Phàn, tỉnh Hồ Bắc). Có thuyết nói ông là người Nam Dương (nay là huyện Nam Đăng - tỉnh Hà Nam). Năm Thiên Bảo 12 (753) đời Đường ông đậu tiến sĩ. Vào khoảng những năm Đại Hưng (766-779) ông làm Kiểm hiệu tư bộ viên ngoại lang ở Hồng Châu (nay là Nam Xương, tỉnh Giang Tây). Có lẽ ông chết vào cuối thời Đại Lịch? Cao Trọng Vũ, người đồng thời với Trương Kế trong “Trung Hưng giang khí tập” nói rằng: “Ông ta làm văn, không gọt dũa trang sức, cùng với bạn bè thi đậu anh tú đương thời, thể thơ mới mẻ, mang phong cốt của kẻ có đạo”. Thơ của ông phần lớn làm ra đều do ngẫu hứng, tác phẩm có “Trương Từ bộ thi tập”. Mùa đông năm Thiên Bảo 14 (755) An Lộc Sơn nổi loạn, Trương Kế lánh nạn xuống miền Nam và phiêu bạt ở vùng vùng Giang Hoài (sông Trường Giang - Hoàng Hà) và đi qua vùng Ngô Trung. Ông đã từng leo lên Thành Lâu, cúi xuống nhìn cánh đồng với tâm hồn đầy xúc cảm. Theo sách “Tự trị thông giám” thì mùa đông năm đầu Nguyên Niên (760) vùng Giang Hoài xảy ra phản loạn, Tô Châu bị vây hãm. Bài “Phong Kiều dạ bạc” có thể Trương Kế sáng tác trong thời gian này. Đó là đêm mùa thu ông nằm dưới thuyền lẻ loi đậu ở bến Phong Kiều. Với cảnh ấy, người ấy và tâm hồn cảm xúc với đạo Phật mà Trương Kế đã tạo nên bài thơ bất hủ. “Phong Kiều dạ bạc” được coi là “Thiên cổ tuyệt xướng” (bài ca tuyệt vời ngàn xưa) và “Phong Kiều vãn chung” (tiếng chuông chiều Phong Kiều) trở thành “Ngô Trung tuyệt cảnh” (cảnh đẹp tuyệt vời của đất Ngô Trung). Từ đời Tống trở về sau, bài “Phong Kiều dạ bạc” của Trương Kế được lưu truyền rộng rãi và đựơc coi là thi phẩm ngơi ca đạo Phật hay nhất đời Đường và hậu thế. Địa danh Phong Kiều - Cô Tô , Hàn Sơn tự và tiếng chuông chùa trở thành hấp dẫn, nhân loại thế gian từ bao đời. Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt “Phong Kiều dạ bạc” trở thành một đề tài tranh luận. Có người cho rằng hai câu thơ đầu “Nguyệt lạc ô đề sương man thiên, giang phong ngư hỏa đối sầu miên” thì các chữ “ô đề” và “sầu miên” không phải là “tiếng quạ kêu” và “giấc ngủ buồn” mà là chỉ địa danh thôn “Ô Đề” và núi “Sầu Miên” ở gần chùa Hàn Sơn. Đầu đề bài thơ không phải là “Phong Kiều dạ bạc” mà là “Dạ bạc Trùng giang” (Trùng giang đêm đậu thuyền) v..v… Có sự rắc rối như thế bởi người đọc đời sau quá yêu thích bài “Phong Kiều dạ bạc” và xúc cảm với chùa Hàn Sơn cùng với tiếng chuông chùa trong đêm thanh vắng mà suy đoán như thế. Đúng là ở phụ cận trấn Cô Tô, không xa chùa Hàn Sơn có thôn Ô Đề và có núi mang tên Sầu Miên nhưng các địa danh này đều có sau khi bài thơ ra đời. Một ngôi chùa, một tiếng chuông chùa qua hồn thơ của thi nhân mà trở nên bất hủ. Bài thơ của Trương Kế sẽ còn sống mãi trong lòng Phật tử với chùa Hàn Sơn và tiếng chuông chùa. Hôm nay, đến Tô Châu thả hồn trong chùa Hàn Sơn đầy hương khói và tĩnh lặng tôi mới thấu hiểu điều đó. Kỳ diệu thay thơ ca và Phật giáo giao hòa tự bao giờ và tự bao đời trên cõi đời này!

(Viết từ Thượng Hải)

PHONG KIỀU DẠ BẠC
Trương Kế

Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên
Giang phong, ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Trương Kế

Việt Dịch

Trăng tà tiếng quạ kêu sương
Lửa chài cây bên sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Thi sĩ Tản Đà dịch
(Thơ Đường, Trần Trọng San, cuốn một, trang 115, nxb Bắc Đẩu, in lần thứ ba 1972, lần hai 1966, lần một 1957)

Quạ kêu, trăng lặn, trời sương,
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Nguyễn Hàm Ninh
(Tạp chí Văn Học, số 191, tháng 03 năm 2002, trang 36.)

Trăng tà, tiếng quạ vẳng sương rơi,
Sầu đượm hàng phong, giấc lửa chài.
Ngoài lũy Cô Tô, chùa vắng vẻ,
Nửa đêm chuông vẳng đến thuyền ai.
Trần Trọng San
(Thơ Đường, Trần Trọng San, cuốn một, trang 116, nxb Bắc Đẩu, in lần thứ ba 1972, lần hai 1966, lần một 1957.)

Quạ kêu, trăng lẩn sương trời,
Buồn hiu giấc ngủ lửa chài bến phong
Đêm Cô Tô vẳng tiếng chuông
Chùa Hàn San đến thuyền sông Phong Kiều .
Trần Trọng San (?)

Mồng ba mồng bốn trăng mờ,
Nửa dường móc bạc, nửa như cung trời.
Một bình ngọc trắng chia hai,
Nửa chìm đáy nước, nửa cài từng không.

Hàn Sơn Thập Đắc (?)
(Thơ Đường, Trần Trọng San, cuốn một, trang 116, nxb Bắc Đẩu, in lần thứ ba 1972, lần hai 1966, lần một 1957)
Nguyên văn chữ Hán:

Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung,
Bán tự ngân câu, bán tự cung.
Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn,
Bán trầm thủy để, bán phù không.

Quạ kêu, sương tỏa, trăng lui,
Đèn chài, cây bãi, đối người nằm khô
Chùa đâu trên núi Cô Tô
Tiếng chuông đưa đến bến đò canh khuya
Ngô Tất Tố
(Đại Cương Văn Học sử Trung Quốc, quyển 2, trang 235, Nguyễn Hiến Lê)

Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi,
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co,
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn
Trần Trọng Kim
(Đại Cương Văn Học sử Trung Quốc, quyển 2, trang 235, Nguyễn Hiến Lê)

Quạ kêu, trăng lặn, ngút trời sương
Phong bãi, đèn câu đắm mộng trường
Đêm vắng Cô Tô thuyền khách đậu
Chuông Hàn San tự thoảng đưa sang.
Hữu Nguyên

J. Leiba cũng có một bài thơ rất du dương mà ý như mượn của
Trương Kế:

Thuyền dạo hồ Đông muôn dặm chơi,
Quạ kêu, trang lặn, nước mờ khơi .
Hàn San vẳng tiếng chuông chùa sớm,
Cây bến, đèn ngư, não mộng người .

Nói Về Bài Thơ
PHONG KIỀU DẠ BẠC
Thích Nhất hạnh

Một hôm thi sĩ Trương Kế ngồi làm thơ trong thuyền trên sông gần thành Cô Tộ Làm được hai câu thì bí:

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.

(Trăng lặn, có tiếng quạ kêu, sương rơi đầy trời; Những cây phong ở bờ sông, đèn của người đánh cá ban đêm; Trước cảnh đó lòng phát sinh một mối hoài cảm, chạnh buồn (đối sầu riêng)).

Lúc đó trên chùa Hàn Sơn (Hàn Sơn và Thập Đắclà một cặp thi sĩ Phật tử rất nổi tiếng ngày xưa) ở thành phố Cô Tô, thầy trụ trì sau giờ thiền tọa, thấy trăng đẹp thầy cũng làm thợ Làm được hai câu thơ thì thầy cũng bí:

Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung
Bán tơ ngân câu bán tợ cung

(Đầu canh ba canh tư trăng mơ hồ; Nửa giống cái liềm bằng bạc, nửa giống cái vòng cung.)

Làm không xong bài thơ, thầy đi bách bộ. Chú tiểu thông minh và tài ba đã làm giúp thầy hai câu sau cho tròn bài thơ:

Thùy bã kim bôi thân lưỡng đoạn, .
Bán trầm thủy để bán phù không

Hai câu sau này ta thường dịch là:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Nửa in dưới nước nửa cài trên không.

Thầy trụ trì nói: Hay quá, hay hơn hai câu của thầy nữạ Hai thầy trò quá vui: Để ăn mừng bài thơ của mình, thôi có lầu chuông mới xây xong mình hãy lên thỉnh đại hồng chung. Thường người ta chỉ thỉnh chuông lúc 4 giờ rưỡi sáng (công phu khuyạ) Đây là đúng nửa đêm mà lại đi thỉnh chuông ? Cặp thầy trò này hình như cũng ham chơi lắm ? Lúc ấy thi sĩ Trương Kế đang ngủ gục dưới thuyền nghe chuông giật mình thức dậỵ Tiếng chuông làm thức dậy trong ông một ý tưởng và ông làm tiếp bài thơ:

Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Thi sĩ Tản Đà dịch cả bài:

Trăng tà tiếng quạ kêu sương
Lửa chài cây bên sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Hai thầy trò kia bây giờ không biết ở đâủ Nhìn cho kỹ có thể mình cũng còn thấy họ đâu đâỵ

Trích Đoạn: Thả Một Bè Lau (Trang 157) HT. Thích Nhất Hạnh

IMG_5134

HÀN SƠN VÀ THẬP ĐẮC

Ðời Ðường tại tỉnh Chiết Giang, huyện Thủy Phong, núi Thiên Thai, ở phía Tây cách 40 cây số có cái hang tối tại núi Hàn Nham, có một người không biết danh tánh tự xưng là Hàn Sơn, hoặc Hàn Sơn tử hoặc Bần tử. Ngài thường đi đến chùa Quốc Thanh, trong chùa có vị tăng tên là Thập Ðắc coi về việc dọn bàn cơm cho chư táng. Hai người kết bạn thân với nhau, Thập Ðắc mót những thức ăn dư của chúng để vào trong thúng, Hàn Sơn đến thi hai vị công nhau đi chơi, ăn những thức ăn thừa đó

Thích Sử Thai Châu là Lư Khâu Dận được Hòa Thượng Phong Can giới thiệu hai vi Bồ tát Văn Thù Phổ Hiền là Hàn Sơn và Thập Ðạc, nên đến chùa Quốc Thanh để lễ bái. Khi Lư Khau Dận đến chùa Quốc Thanh hỏi, người ta mới dẫn hai Ngài Hàn Sơn Thập Ðắc ra, Lư Khâu Dận lễ bái, hai vị liền nói "giặc, giặc ?" rồi cõng nhau chạy mất.

Lại một sách khác ghi hơi khác một chút. Nguyên Thiền sư Phong Can ‘có một cái thất trong khu chùa Quốc Thanh, ông thường ngao du nơi này nơi kia, có khi cỡi cọp đi về. Một hôm khi đi dạo ông gặp một đứa bé bị bỏ rơi ngoài đường, ông lượm đem về gởi chùa Quốc Thanh nuôi và đặt tên là Thập Ðắc (Thập là lượm, Ðắc là được).

Ðứa bé lần lần lớn lên, lo việc săn sóc cơm cháo cho chư tăng và lượm những thức ăn thừa của chư tăng gom lại ăn. Gặp Hàn Sơn, hai người kết bạn với nhau, khi cõng nhau chạy, khi kinh hành, khi nhìn trời mây chửi mắng om sòm, ăn thì ăn thức ăn thừa, mặc thì mặc y phục rách rưới, nên chư tăng trong chùa cũng bực bội, cho hai vị là điên.

Khi Hòa thượng Phong Can tịch, ông Lư Khâu Dận được bổ nhậm về đó. ông đau nặng, thuốc thang điều trị không khỏi, một đêm ông nằm mộng thấy Hòa Thương Phong Can chỉ cho phương thuốc, ông dùng thuốc đó trị thì lành bệnh. Sau khi lành bệnh, ông cầu nguyện Ngài Phong Can chỉ cho ông các vi Bồ tát để ông đảnh lễ đền ơn. Ngài Phong Can bảo : Trong chùa Quốc Thanh có hai vi Hàn Sơn là Bồ tát Văn Thù, Thập Đắc là Bồ Tát Phổ Hiền, hãy đến đó đảnh lễ. Khi ông tìm đến đảnh lễ hai Ngài, thì hai Ngài cõng nhau vào núi.

Trích Đoạn: Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải, HT. Thanh Từ

THƠ HÀN SƠN THẬP ĐẮC
Người dịch: Thiền sinh Trúc Lâm

TỰA

Nói về Hàn Sơn Tử, chẳng biết người ở đâu, từ xa xưa đã thấy Ngài, đều gọi là Bần Nhơn, kẻ sĩ điên cuồng. Ở ẩn núi Thiên Thai, cách huyện Đường Hưng bảy mươi dặm về phía tây, gọi là Hàn Nham. Ngài thường ở đất này, hay về chùa Quốc Thanh.

Trong chùa có Thập Đắc, coi sóc việc hành đường, bình thường thu nhặt cặn bã rau thừa bỏ trong ống tre, nếu Hàn Sơn đến, vác lên vai mà đi. Hoặc đi thong thả dưới hành lang, kêu la, reo hò, mắng người, hoặc nhìn trời tự cười. Bấy giờ Tăng đuổi bắt, mắng chửi, đánh đuổi, Ngài đứng lại vỗ tay cười lớn ha ha, giây lát rồi bỏ đi. Lại dáng vẻ giống như kẻ nghèo cùng, hình tướng khô héo. Mỗi lời nói ra, ý nghĩa hợp với đạo, thầm suy nghĩ có lý; hoặc xướng nơi tình đạo, hoặc đi nơi hành lang ca vịnh: “Ôi chao! Ôi chao! Luân hồi trong tam giới.” Hoặc nơi thôn xóm, làm mục đồng chăn trâu múa may ca cười hoặc thuận hoặc nghịch, tự vui với tánh mình. Chẳng phải bậc thông suốt, đâu thể hiểu Ngài?

Thường những lời nói ra, thông suốt bao hàm ý sâu kín. Ngài dùng da cây hoa làm nón, mặc áo vải thô rách nát, chân đi guốc gỗ, thế nên Chí Nhơn ẩn dấu vết, đồng loại để giáo hóa muôn vật.

Dận Khoảnh nhậm chức đi làm quan ở Đơn Khâu, ngày sắp lên đường, đầu liền đau choáng váng, bèn dời lại ngày sau để điều trị. Bệnh càng lúc càng nặng, liền gặp một Thiền Sư tên là Phong Can, nói là

từ chùa Quốc Thanh, núi Thiên Thai, riêng đến để hỏi thăm nhau. Dận Khoảnh cầu xin trị bệnh, Sư bèn dung nghi thong thả mỉm cười và nói rằng:

- Thân thuộc bốn đại, bệnh từ huyễn sanh, nếu muốn trừ bệnh, phải có nước sạch.

Bấy giờ Dận lấy nước sạch dâng lên Sư. Sư liền ngậm nước phun vào mình quan, chốc lát trở lại bình phục, liền bảo Dận rằng:

- Bãi biển Đài Châu khí độc, ngày mai lên đường cần phải giữ gìn!

Dận liền hỏi rằng:

- Chưa biết nơi đó sẽ có Hiền sĩ nào đáng thờ làm thầy?

Sư đáp:

- Thấy đó mà chẳng biết, biết đó thì không chấp, nếu muốn gặp thì chẳng được chấp tướng liền có thể gặp Ngài. Hàn Sơn là Văn Thù ẩn tích trong chùa Quốc Thanh. Thập Đắc là Phổ Hiền, hình dáng như nghèo cùng, lại giống kẻ điên cuồng, hoặc đi hoặc lại, làm kẻ phục dịch trong kho chùa Quốc Thanh, đốt lò trong nhà bếp.

Nói xong liền đi.

Dận liền lên đường, đến nhậm chức ở Đài Châu, chẳng quên việc đó. Sau ba hôm nhậm chức, đích thân qua tự viện, tìm hỏi các bậc Thiền Đức, quả đúng với lời Sư, liền sai khám xét huyện Đường Hưng xem có Hàn Sơn, Thập Đắc chăng? Bấy giờ người trong huyện nói rằng: tại khu vực của huyện, cách bảy mươi dặm về phía tây, có một núi, trong núi lâu đời, thấy có Bần Sĩ, thường về chùa Quốc Thanh, nghỉ ở trong nhà kho chùa; có một hành giả, tên là Thập Đắc. Dận liền riêng đến lễ bái. Đến chùa Quốc Thanh bèn hỏi chúng tăng rằng:


- Chùa này ngày trước có phòng của Thiền Sư Phong Can nay ở đâu? Và Thập Đắc, Hàn Sơn hiện ở chỗ nào?”

Bấy giờ tăng Đạo Kiển đáp rằng:

- Phòng Thiền Sư Phong Can ở phía sau kho chứa kinh, hiện nay không có người ở được, thường có một con cọp luôn đến rống ở đây. Hai người Hàn Sơn, Thập Đắc hiện ở trong nhà bếp.

Tăng hướng dẫn Dận đến phòng của Thiền Sư Phong Can, rồi mở cửa phòng, chỉ thấy dấu chân cọp, bèn hỏi tăng Bảo Đức và Thiền Sư Đạo Kiển rằng:

- Thiền Sư ngày thường làm hạnh nghiệp gì?

Tăng đáp:

- Phong Can ngày thường chỉ giả gạo cúng dường đại chúng, đêm đến hát ca tự vui.

Dận đến trong nhà bếp, thấy hai người hướng vào lửa cười lớn, Dận liền lễ bái, hai người hét liên tục “Dận”, tự nắm tay nhau, cười hớn ha hả, kêu réo vang trời, liền nói rằng:

- Phong Can nhiều lời, Di Đà nhiều lời chẳng biết, lễ ta làm gì?

Tăng chúng chạy xôn xao nhóm lại, nhìn nhau lấy làm kinh lạ. Vì sao tôn quan lạy hai kẻ bần cùng?

Bấy giờ hai người nắm tay nhau chạy ra khỏi chùa, Dận liền sai người đuổi theo. Hai người chạy nhanh về hang Hàn Sơn.

Dận liền hỏi Tăng rằng:

- Hai người ấy chịu ở chùa này chăng?

Ngài sai hỏi tìm, mời về chùa ở yên. Dận trở về quận, liền cho may hai cái áo sạch bằng nhau, hương, thuốc, … mang đến dâng cúng dường.

Bấy giờ hai người không chịu trở về chùa, sứ liền đến núi, dâng phẩm vật lên liền thấy. Hàn Sơn Tử liền to tiếng hét rằng:

- Giặc! Giặc!

Rồi lui mình vào hang núi. Bèn nói rằng:

- Báo rõ các người, mỗi mỗi phải nổ lực!

Nói xong vào hang rồi đi. Hang kia tự đóng lại, chẳng thể đuổi theo. Thu nhặt được những di tích rơi rớt của các Ngài, không có chỗ cố định.

Đạo Kiển và những người khác thuật lại đầy đủ hành trạng những ngày khi Ngài còn sống, chỉ thấy ghi thơ kệ ở bụi trúc, vách đá, và trên vách ghế quan tòa trong thôn xóm, thơ kệ được sáng tác có hơn ba trăm bài; và Thập Đắc viết thơ kệ trên vách miếu thờ thần thổ địa, cùng góp chung biên tập thành một quyển. Dận từ đó để tâm vào lý Phật, may mắn gặp được Đạo Nhơn, bèn làm bài tụng khen ngợi rằng:

Bồ Tát ẩn dấu,
Thị hiện nghèo cùng.
Riêng ở Hàn Sơn,
Tự vui tánh mình.
Dáng khô hình gầy,
Áo vải rách nát.
Mở lời thành chương,
Gọi là kẻ điên.
Thường đến Thiên Thai,
Vào chùa Quốc Thanh.
Thả bộ hành lang,
Vỗ tay ha hả.
Hoặc đi hoặc đứng.
Tự nói lầm thầm.
Chỗ ăn nhà bếp,
Cơm thừa canh cặn.
Ngâm kệ buồn thảm,
Tăng tục quát đánh.
Đều chẳng dao động,
Người đời tự thẹn.
Tác dụng tự tại,
Phàm ngu khó lường.
Nói ra một lời,
Chóng trừ trần lụy.
Cho nên Quốc Thanh,
Họa vẽ hình Ngài.
Vĩnh kiếp cúng dường,
Mãi làm đệ tử.
Xưa ở Hàn Sơn,
Thường đến đất này,
Đảnh lễ Văn Thù,
Bậc sĩ Hàn Sơn.
Nam Mô Phổ Hiền,
Chính là Thập Đắc.
Tỏ bày khen ngợi,
Nguyện thoát sanh tử.

HÀN SƠN TỬ

Hàn Sơn Tử, đời gọi là “gã bần”, hay là “kẻ sĩ ngông cuồng”, chẳng thể thường suy lường Ngài được.

Ngài ở núi Thiên Thai, cách phía tây huyện Thủy Phong khoảng 70 dặm; gọi là “Hàn Ám Nhị Nham” (tức là Hàn Nham và Ám Nham). Ngài thường ở trong hang sâu nơi Hàn Nham, lấy đó làm chỗ ở nhất định. Về sau, tại chùa Quốc Thanh, có Thập Đắc. Tăng trong chùa sai Ngài trông coi thực đường (trai đường), hàng ngày thường thu nhặt thức ăn thừa, cặn bã của chúng tăng, cắt một cây tre lớn làm ống, rồi chứa thức ăn vào trong đó, nếu khi Hàn Sơn đến, liền vác lên vai mà đi.

Hoặc có khi đi thong thả dưới hành lang, hoặc có lúc huýt sáo, la lối làm xúc phạm người, hoặc ngữa mặt lên hư không mà mắng, tăng trong chùa không chịu nổi, dùng gậy xua đuổi. Ngài lộn nhào người, vỗ tay cười ha ha, thong thả bước lui. Nhưng mà Ngài chỉ mặc áo cánh bằng vải rách rưới, dáng vẻ gầy gò, dùng vỏ cây hoa làm mũ để đội, mang guốc bằng gỗ to. Hoặc có nói ra lời gì rất có ý nghĩa, trở về lý Phật (đều có đạo lý). Lúc đầu Lư Khâu (tức Lư Khâu Vận là quan Thái Thú ở Thâu Châu), vào chùa tìm hỏi Hàn Sơn. Sa môn Đạo Kiển đáp rằng:

- Đây là người điên cuồng, vốn ở Hàn Nham, thích ngâm thơ kệ, nói năng bất thường, hoặc lành hoặc dữ, không thể biết được. Cùng với hành giả (người làm công quả) Thập Đắc ở trong chùa này kết bạn. Tụ nhau nói chuyện, không thể hiểu rõ được. Tăng trong chùa thấy quan Thái Thú lễ bái hai người, bèn giật mình, nói: "Đại quan sao lại lễ kẻ điên ư?".

Hai người kéo tay nhau cười cợt rồi đi ra khỏi chùa. Lư Khâu sau đó lại sang Hàn Nham tìm hỏi thăm, cùng đem theo quần áo thuốc men đến, Ngài lớn tiếng nói to:

- Giặc ngã giặc lui (1)

Liền rút thân vào kẽ hang đá, lại nói:

- Bảo với các ngươi, mỗi người đều phải nỗ lực.

Hang đá liền khép lại, bặt không dấu vết. Lư Khâu bèn bảo tăng Đạo Kiển tìm lại những di vật của Ngài. Chỉ có ở trong khoảng rừng, những lá cây kết lại, viết những lời thơ kệ, trong đó cùng với tại các tường vách nơi nhà dân ở trong thôn xóm; sau chép được hơn ba trăm bài, biên góp lại thành một tập, người đời thường hay đọc tụng. Sau đó, Thiền Sư Tịch ở Tào Sơn chú giải, gọi đó là “Đáp thơ Hàn Sơn Tử”. Do Ngài vốn không có dòng họ, nên người ở xứ Việt chỉ gọi Ngài là Hàn Sơn Tử.

Đến như có câu: “Bên sân có những gì, mây trắng ôm núi đá.” Lời thơ sáng sủa cao đẹp. Nay ở dưới gộp đá có một tảng đá đứng sừng sững gọi là “U Thạch”.

(Trích trong “Tống Cao Tăng truyện”)

(1) Giặc ngã: Làm hại ta (tức làm lộ tung tích Ngài là Bồ Tát). Làm hại ta, làm giặc ta, tức là làm cho ta trở thành kẻ giặc. Vì Bồ Tát hiện ở đời độ sanh không để cho người biết; nếu để lộ thì dễ làm tăng sự sùng mộ mù quáng của người. Nên khi bị lộ thì Ngài coi đó là giặc, sống ở đời không còn ích gì cho người, nên nói “Giặc lui”, tức Ngài liền ẩn mình.

THƠ HÀN SƠN

1. Ta chọn ở núi rừng,
Đường chim bặt dấu người.
Trước sân có những gì?
Mây trắng ôm núi đá.
Ở đây gồm bao năm,
Thường thấy xuân đông đổi.
Nhắn nhủ khách lợi danh,
Tên rỗng có ích gì?

2. Người đời đọc thơ ta,
Trong tâm cần giữ tịnh,
Keo tham ngày kế mõng,
Dua nịnh ngay đó chánh.
Đuổi trừ hết nghiệp ác,
Quy y nơi chân tánh,
Ngày nay được thân Phật,
Hãy mau theo luật răn.

3. Nực cười đường Hàn Sơn,
Không có dấu xe ngựa.
Khe liền khó nhớ khúc,
Núi chồng chẳng biết lớp
Sương đọng ngàn đầu cỏ,
Gió ngâm một dáng tùng.
Lúc này quên đường tắc,
Hình hỏi bóng về đâu?

4. Muốn được chỗ an thân,
Hàn Sơn giữ gìn lâu.
Gió nhẹ thổi tùng dày,
Gần nghe tiếng càng hay.
Dưới núi người áo vá,
Lầm thầm tụng kinh Phật.
Mười năm về chẳng được,
Quên mất đường đã qua.

5. Tâm ta tợ trăng thu,
Đầm xanh nước trong vắt.
Không vật có thể sánh,
Bảo ta nói thế nào?

6. Trong núi sao quá lạnh,
Rét buốt hơn mọi năm.
Đỉnh núi tuyết đóng mãi,
Rừng sâu khói thường cuộn.
Mùa hạ cỏ xanh tươi,
Tiết thu lá vàng rụng.
Đây có khách trầm mê,
Nhìn mãi chẳng thấy trời.

7. Gái mày ngài trong thành,
Đeo châu khua vang tai.
Oanh vũ đùa trước hoa,
Tỳ Bà đàn dưới trăng.
Ca mãi âm mùa xuân,
Múa vũ vạn người xem.
Chẳng thể mãi như thế,
Phù dung chẳng chịu lạnh.

8. Chàng trai tài cởi ngựa,
Vun roi chỉ dương liễu.
Nói rằng không ngày chết,
Trọn chẳng làm thang, thuyền.
Bốn mùa hoa tươi đẹp,
Một mai thành héo vàng.
Phô mai cùng đường phèn,
Đến chết chưa từng nếm.

9. Muốn đi về vách đông,
Đến nay biết bao năm.
Hôm qua vịn dây leo,
Giữa đường bị mây phủ.
Đường hẹp khó tiến lên,
Rêu bám giày khó bước.
Mặc tình dưới gốc quế,
Gối đầu mây trắng ngủ.

10 . Trước núi riêng tĩnh tọa,
Trăng tròn đang sáng ngời.
Muôn vật bóng trong ấy,
Một vầng vốn không soi.
Rỗng rang thần tự trong,
Trùm khắp rỗng mầu nhiệm,
Nương tay thấy trăng kia,
Trăng là tâm quan yếu.

11 . Nhà ta khéo ẩn giấu,
Chỗ ở không ồn ào.
Đạp cỏ thành ba lối,
Nhìn mây thành bốn thôn.
Trợ ca có tiếng chim,
Hỏi pháp người không lời.
Ngày nay cây sa bà,
Bao năm là một xuân?

12 . Đàn, sách phải tự theo,
Tước lộc dùng làm gì?
Vào xe theo vợ hiền,
Trong xe có con hiếu.
Gió thổi bày đất lúa,
Nước tràn vào ao cá.
Thường nhớ con chim ri,
Đậu yên trên một cành.

13 . Anh em cùng năm quận,
Cha con vốn ba châu.
Muốn nghiệm bầy le hợp,
Cần rõ thỏ trắng chạy.
Bầu linh trong mộng nhận,
Trong tòa thần quít thu.
Cố hương sao xa xôi,
Như cá nương dòng nước.

14 . Một lần làm khách văn võ,
Ba phen gặp vua anh minh.
Giữ đông không thưởng quan văn,
Đánh tây không khen quan võ.
Học văn cùng học võ,
Học võ cùng học văn.
Ngày nay đã già rồi,
Sống thừa chẳng đáng nói.

15 . Trang Tử nói đám ma,
Trời đất là quan tài.
Ta có lúc về đây,
Chỉ cần một tấm bạc.
Chết đem nuôi ruồi xanh,
Điếu chẳng cần hạc trắng.
Đói đến núi Thủ Dương, (Bá Di, Thúc Tề chết đói tại núi này)
Sống sạch chết cũng vui.

16 . Người hỏi đường Hàn Sơn,
Đường Hàn Sơn chẳng thông.
Mùa hạ băng không tan,
Ba ngày mây lờ mờ.
Giống ta từ đâu đến?
Cùng tâm anh chẳng đồng.
Tâm anh nếu giống ta,
Lại được đến trong ấy.

17 . Trời sanh cây trăm thước,
Cắt làm một khúc dài.
Đáng tiếc tài rường cột,
Quăng bỏ trong hang tối.
Nhiều năm lỗi còn chắc,
Lâu ngày da mục sạch.
Người trí vác đem về,
Còn chống được chuồng ngựa.

18 . Đuổi ngựa qua thành hoang,
Thành hoang động tình khách.
Tường thành xưa cao thấp,
Mồ mã hoang lớn nhỏ.
Bóng cỏ (bồng) tự bay lên,
Vang vọng tiếng người chết.
Thở than đều xương tục,
Sách tiên không ghi tên.

19 . Oanh vũ nhà phía tây,
Ngu La bắt đem về.
Người đẹp sớm chiều đùa,
Ra vào tại nhà mình.
Ban cho lồng vàng nuôi,
Lồng hẹp tổn cánh lông.
Sao bằng loài ngỗng trời,
Bồng bềnh vào mây trắng.

20 . Nhà ngọc rũ rèm châu,
Trong có thiếu nữ đẹp.
Dáng mạo hơn thần tiên,
Hồng hào như đào lý.
Nhà đông hợp sương xuân,
Nhà tây nổi gió thu.
Đã qua tuổi ba mươi,
Lại thành bã xác mía.

21 . Cha mẹ nhiều kinh doanh,
Ruộng vườn kia chẳng dư.
Vợ dệt tơ kẻo kẹt,
Con đùa miệng oa oa.
Chống má nghe chim ca.
Ngày sau ai khen ngợi,
Tiều khách thường đi qua.

22 . Nhà ở ven dưới núi,
Trước sân cỏ không cắt,
Dây leo quấn chằng chịt,
Đá xưa dựng cao vót.
Quả núi khỉ vượn hái,
Cá ao cò trắng ngậm,
Sách tiên một hai quyển,
Dưới cây đọc thì thào.

23 . Bốn mùa không dừng lại.
Năm đi rồi năm đến.
Muôn vật thường đổi thay,
Trời cao không hoại diệt.
Trời mọc rồi trời lặn,
Hoa nở rồi hoa tàn.
Chỉ có khách suối vàng,
Lặng lẽ đi chẳng về.

24 . Năm đi đổi năm sầu,
Xuân mới sắc vật tươi.
Hoa núi cười nước xanh,
Cây rừng múa khói biếc.
Ong bướm tự nói vui,
Chim cá lại rất thích.
Tình bạn chơi chưa nguôi,
Đến sáng không thể ngủ.

25 . Xử sự rất ngang tàng,
Chiếc thân quá nặng nề.
Sống là thân có hạn,
Chết làm quỷ vô danh.
Từ xưa nhiều như thế,
Anh nay tính thế nào?
Nên đến trong mây trắng,
Dạy anh ca linh chi.

26 . Bèn tự ở Hàn Sơn,
Đã qua bao vạn năm.
Mặc tình ẩn suối rừng,
Dừng lâu thấy tự tại.
Trong núi người chẳng đến,
Mây trắng thường mịt mù.
Cỏ mịn làm nệm nằm,
Trời xanh làm chăn đắp.
Vui sống dựa đầu đá,
Trời đất mặc đổi thay.

27 . Có đạo sĩ tu tiên,
Chỗ ở kỵ người đến.
Khí hậu thật mát mẽ,
Mùa hạ cũng như thu.
Khe tối thường chảy mãi,
Tùng cao gió xạc xào.
Trong ấy ngồi nửa ngày,
Quên hẳn sầu trăm năm.

28 . Nhà thiếp ở Hàm Đan,
Giọng ca thật trầm bổng.
Nhờ ta ở an ổn,
Khúc ấy dài xưa nay.
Đã say chớ bảo về,
Quyến luyến chưa hết ngày.
Nhà em chỗ ngơi nghỉ,
Chăn thêu đầy giường bạc.

29 . Chèo nhanh thuyền ba lá,
Khéo cỡi ngựa ngàn dặm.
Không thể đến nhà ta,
Bảo rằng quá hoang vắng.
Hang động sâu trong núi,
Sấm vang trọn cả ngày.
Nếu chẳng phải Khổng Khâu,
Không thể đến với nhau.

30 . Người trí, anh bỏ ta,
Người ngu, ta bỏ anh.
Không ngu cũng chẳng trí,
Từ đây nghe tiếp nhau.
Vào đêm ca (với) trăng sáng,
Bình minh múa (cùng) mây trắng.
Đâu thể dừng tay miệng,
Ngồi thẳng tóc phất phơ.

31 . Người quê ở nhà tranh,
Trước cửa xe ngựa ít.
Rừng sâu chim tụ họp,
Khe rộng chứa nhiều cá.
Dắt trẻ hái quả núi,
Cùng vợ bừa ruộng cao,
Trong nhà có những gì?
Chỉ có sách đầy giường.

32 . Đi lên đường Hàn Sơn,
Đường Hàn Sơn chẳng cùng.
Suối dài đá chồng chất,
Khe rộng cỏ chen nhau.
Rêu trơn chẳng ngại mưa,
Tùng kêu chẳng nhờ gió.
Người nào thoát khổ lụy,
Cùng ngồi trong mây trắng.

33 . Lục cực (2) trẻ thường bệnh,
Chín châu luống tự bàn.
Có tài bỏ hoang vắng,
Không nghề nhàn lều tranh.
Trời lên hang còn tối,
Mây tan động còn mờ.
Trong ấy con trưởng giả,
Mỗi đứa không quần mặc.

34 . Mây trắng cao chót vót,
Sóng nổi đầm nước xanh.
Lúc này nghe ngư phủ,
Luôn luôn vỗ chèo ca.
Mỗi tiếng chẳng thể nghe,
Nay ta nhiều lo sầu.
Ai bảo (chim) sẻ không sừng,
Làm sao xuyên mái nhà.

35 . Đường Hàn Sơn tối tăm,
Bến khe lạnh vắng vẻ.
Tiếng chim vang lảnh lót,
Lặng lẽ không một người.
Gió thổi mặt vùn vụt,
Phất phới tuyết đầy thân.
Mỗi sáng chẳng thấy trời,
Năm năm chẳng biết xuân.

36 . Tuổi trẻ sầu những gì?
Sầu thấy râu tóc bạc.
Tóc bạc sầu những gì?
Sầu thấy ngày rút ngắn.
Dời đến ở Thái Sơn,
Đày giữ nhà nghĩa địa.
Sao nhẫn nói lời này,
Lời này đau khách già.

37 . Nghe nói sầu khó bỏ,
Bảo lời này chẳng đúng .
Sáng qua vừa đuổi sạch,
Ngày nay lại trói thân.
Tháng hết sầu còn mãi,
Năm mới sầu lại thêm.
Ai biết dưới chiếc nón,
Vốn là người sầu xưa.

38 . Hai rùa nương xe trâu,
Vượt lên đầu đường đùa.
Bò cạp bên cạnh đến,
Kêu cứu muốn nương nhờ.
Chẳng chở tình lầm lỡ,
Vừa chở bị trầm lụy.
Nháy mắt chưa nói gì,
Ra ân lại bị đâm.

39 . Mùa xuân tầm còn nhỏ,
Người nữ đi hái hoa.
Đùa bướm nơi góc tường,
Quăng ểnh ương xuống nước.
Tay áo đầy trái mơ,
Thoa vàng khều măng non.
Bàn luận tranh sắc vật,
Đất này hơn nhà tôi.

40 . Bà già nhà phía đông,
Giàu sang khoảng ba năm.
Ngày xưa nghèo hơn ta,
Nay cười ta không tiền.
Bà cười ta về sau,
Ta cười bà ngày trước.
Cười nhau nếu không dừng,
Bên đông rồi bên tây.
(2) Sáu hiện tượng hoặc quá nóng, quá lạnh … khiến trẻ phải bệnh.

41 . Giàu sang nhiều phiền nhọc,
Gặp việc khó vâng theo.
Gạo trắng đã đổi hồng,
Một lít chẳng cho vay.
Hỏi vặn tra xét mãi,
Mua tơ chọn lụa trước.
Nếu đến ngày lâm chung,
Khách điếu có ruồi xanh.

42 . Tôi xưa từng thấy kẻ thông minh,
Thông suốt tài ba chẳng ai sánh.
Thi đậu tiếng khen rền đất trời,
Thơ cú ngũ ngôn vượt quần chúng.
Làm quan trị nước siêu tiền bối,
Lại bảo người sau khó noi theo.
Bỗng nhiên giàu có tham tài sắc,
Ngói bể băng tan không lời bày.

43 . Hạc trắng ngậm hoa đắng,
Một hơi bay ngàn dặm.
Muốn qua núi Bồng Lai,
Đến đây lương thực nhiều.
Chưa đến lông gẫy rụng,
Lìa bầy lòng nhớ thương.
Bay về tổ xưa cũ,
Vợ con chẳng biết nhau.

44 . Quen ở nơi xa vắng,
Chợt về chùa Quốc Thanh.
Thường hỏi lão Phong Can,
Nhưng đến gặp Thập Đắc.
Riêng về trên Hàn Nham,
Không người nói hợp lòng.
Tầm cứu không nguồn nước,
Nguồn cùng nước không cùng.

45 . Đời trước quá ngu si,
Chẳng phải ngộ hôm nay.
Hiện tại nghèo như thế,
Đều do đời trước làm.
Đời nay nếu chẳng tu,
Đời sau hoàn như cũ.
Hai bờ đều không thuyền,
Xa xôi nên khó qua.

46 . Rực rỡ gái họ Lư,
Xưa nay tên chẳng sầu.
Thích cỡi ngựa hái hoa,
Vui chèo thuyền cắt sen.
Quỳ trên chiếu thêu gấu,
Thân mặc áo phụng xanh.
Nhớ sầu sau trăm năm,
Cũng phải về nghĩa trang.

47 . Vợ Trâu Công (ở) Để Nhãn,
Mẹ nàng tại Hàm Đan.
Hai người đều đã già,
Đồng thích thiếu niên đẹp.
Hôm qua gặp tiệc tùng,
Áo rách bày sau lưng.
Chỉ vì mặc quần rách,
Ăn bánh thừa của người.

48 . Một mình nằm hang đá,
Mây đùn ngày chưa tan.
Trong thất tuy tối tăm,
Nơi lòng dứt ồn náo.
Nằm mộng dạo lầu vàng,
Hồn về qua cầu đá.
Đuổi trừ kẻ phiền ta,
Rõ ràng bầu treo cây.

49 . Sự vật có chỗ dùng,
Dùng nó phải thích hợp.
Nếu dùng không đúng chỗ,
Không lợi lại hại thêm.
Đục tròn đẽo mộng vuông,
Buồn thay phí công làm.
Ngựa giỏi sai bắt chuột,
Chẳng bằng con mèo què.

50 . Mọi người ai chẳng chết,
Việc chết xưa nay đồng.
Mới thấy gã to lớn.
Bỗng thành một đống tro.
Suối vàng không ánh sáng,
Cỏ xanh có lúc tươi.
Đi đến chỗ đau lòng,
Gió tang buồn chết người.

51 . Đánh ngựa roi san hô,
Đuổi chạy về Lạc Dương.
Tự thích tuổi trẻ đẹp,
Chẳng tin có già buồn.
Tóc bạc chắc chắn điểm,
Hồng nhan há bền lâu?
Hãy xem mồ nghĩa trang,
Chính là đảo Bồng Lai.

52 . Trọn ngày mãi như say,
Dòng đời chẳng tạm dừng.
Vùi dưới cỏ bồng lau,
Sáng nay sao mờ mịt.
Xương thịt tiêu tán hết,
Hồn phách bao điêu linh.
Chẳng cần cắn miệng sắt,
Bởi do chẳng đọc kinh (kinh Lão)

53 . Chuyên bề ngồi Hàn Sơn,
Thầm ở ba mươi năm.
Hôm qua hỏi bạn thân,
Quá nửa vào suối vàng.
Chết dần như đuốc tàn,
Chảy mãi tợ nước sông,
Sáng nay đối ảnh mình,
Chẳng theo dòng lệ rơi.

54 . Gọi nhau hái phù dung,
Rất thích trên dòng xanh.
Vui đùa chẳng biết chiều,
Thường thấy gió cuồng thổi.
Sóng bợ con uyên ương,
Nước nhồi chim le le.
Lúc này ngồi trên thuyền,
Tình dâng trào không nguôi.

55 . Liễu rũ tối như khói,
Hoa bay như tuyết rơi.
Chồng ở châu Lìa Vợ,
Vợ tại huyện Nhớ Chồng.
Mỗi người trụ một nơi,
Khi nào được thấy nhau?
Nhắn nhủ lầu trăng sáng,
Chớ chứa đôi én bay.

56 . Có rượu đãi nhau uống,
Có thịt mời nhau ăn.
Suối vàng người trước sau,
Tuổi trẻ cần nổ lực.
Quan quyền tạm thời vinh,
Vòng vàng trang sức tạm,
Ông Trương cùng bà Trịnh,
Chết rồi không tin tức.

57 . Đáng thương bậc trượng phu,
Thân thể rất oai linh.
Tuổi chưa tròn ba mươi,
Tài nghệ trăm thứ khéo.
Ngựa vàng đuổi hiệp khách,
Cơm vua nhóm bạn lành,
Chỉ có một thứ ác,
Chẳng truyền đèn vô tận.

58 . Hoa đào sắp qua hạ,
Gió trăng thúc chẳng chờ.
Tìm hỏi người đời Hán,
Không thể còn một người.
Mỗi sớm hoa héo rụng,
Hàng năm người đổi dời.
Ngày nay nơi đất liền,
Khi xưa là biển lớn.

59 . Ta thấy gái nhà đông,
Tuổi đời khoảng mười tám,
Nhà tây bên cạnh hỏi,
Nguyện cùng kết vợ chồng.
Giết dê nấu mạng chúng,
Tụ đầu hành dâm sát,
Vui thích cười hỷ hạ,
Tiếng khóc bị hành quyết.

60 . Nhà nông nhiều ruộng dâu,
Vết trâu đầy mé hiên.
Chẳng tin có nhân quả,
Cố chấp khi nào tỉnh.
Mắt nhìn tiêu tán hết,
Mỗi người tự tìm sống.
Mặc quần ngói, khố giấy,
Cuối cùng lạnh đói chết.

61 .Ta thấy một bầy chó,
Mỗi con lông bù xù,
Con nằm tự vui nằm,
Con đứng tự vui đứng.
Quăng cho một khúc xương,
Tranh giành cắn sủa nhau,
Bởi do vì xương thiếu,
Chó phần nhiều bất bình.

62 . Ta thấy một bầy chó,
Mỗi con lông bù xù,
Con nằm tự vui nằm,
Con đứng tự vui đứng.
Quăng cho một khúc xương,
Tranh giành cắn sủa nhau,
Bởi do vì xương thiếu,
Chó phần nhiều bất bình.

63 . Lạc Dương nhiều thiếu nữ,
Ngày xuân khoe sắc hương.
Cùng hái hoa bên đường,
Cày vào trong mái tóc.
Tóc cao hoa một vòng,
Người thấy đều liếc nhìn.
Riêng cầu chút tình yêu,
Sắp về thấy phu quân.

64 . Xuân nữ khoe nhan sắc,
Dắt nhau về phương nam.
Xem hoa sầu ngày tàn,
Dưới cây ẩn sợ gió.
Thiếu niên từ xa lại,
Ngựa trắng (dây) hàm vàng ròng.
Đâu cần đùa nhau lâu,
Chồng em thấy sẽ biết.

65 . Nhóm nữ vui bóng chiều,
Gió thổi đầy đường thơm.
Quần thêu bươm bướm vàng,
Tóc cày uyên ương ngọc.
Tiểu tỳ quần lụa hồng,
Tớ hầu xiêm gấm tía.
Vì thấy người mất đạo,
Tóc bạc lòng bàng hoàng.

66 . Nếu người gặp quỷ sứ,
Bậc nhất chớ kinh sợ.
Kềm cứng chớ đổi sắc(?).
Gọi tên nó bỏ đi.
Đốt hương thỉnh lực Phật,
Lễ bái cầu Tăng giúp.
Con muỗi chích trâu sắt,
Không chỗ nó cấm mỏ.

67 . Mênh mông nước Hoàng Hà,
Chảy mãi về biển đông.
Nước cuộn dòng chẳng trong,
Mỗi người tuổi có hạn.
Nếu muốn cỡi mây trắng,
Đâu cần mọc cánh lông.
Chỉ đang lúc còn khỏe,
Đi đứng phải nổ lực.

68 . Ngồi trên chiếc thuyền mục,
Thái bỉ nhậm bà tử (?).
Đi vào trong biển lớn,
Sóng nhồi mãi chẳng dừng.
Chỉ mang một ngày lương,
Cách bờ ba ngàn dặm.
Phiền não sanh từ đâu?
Buồn thay do khổ khởi.

69 . Im lặng mãi chẳng nói,
Người sau biết gì theo.
Ở ẩn tại rừng cỏ,
Do đâu cảnh trí bày.
Khô khan chẳng giữ lâu,
Gió sương thành họa bệnh.
Trâu đất cày ruộng đá,
Ngày nào thu được lúa.

70 . Khách núi tâm lặng lẽ,
Thường than năm đổi dời.
Siêng năng hái chi truật, (linh chi, bạch truật)
Tìm tòi há thành tiên?
Trước sân mây vừa cuộn.
Trăng chiếu rừng sáng ngời,
Chẳng về ở làm gì?
Quyến luyến cùng cây quế.

71 . Có người ngồi đường núi,
Áo mây hề mũ ráng.
Ôm cỏ thơm muốn gởi,
Đường dài hề khó đi.
Tâm buồn sầu hồ nghi,
Tuổi già không ra gì.
Mọi người chê già suy,
Riêng đứng hề trung trực.

72 . Heo ăn thịt người mất,
Người ăn ruột heo chết,
Heo chẳng chê người hôi,
Người lại khen heo thơm.
Heo chết quăng trong nước,
Người chết đào đất chôn,
Heo người chẳng ăn nhau,
Nước sôi sen hồng nở.

73 . Vui thay thân hỗn tạp,
Chẳng ăn lại chẳng tiểu.
Gặp được ai dùi phủng,
Do đó thành chín lỗ (cửu khiếu).
Hàng ngày vì ăn mặc,
Mỗi năm sầu thuế nhiều.
Ngàn kẻ tranh một tiền,
Dụm đầu than muốn chết.

74 . Khóc than do việc gì?
Lệ rơi như dòng châu,
Lý đáng có biệt ly,
Lại là gặp họa tang.
Bởi vì còn nghèo cùng,
Chưa thể rõ nhân quả.
Giữa mồ gánh thây ma,
Sáu đường chẳng thích ta.

75 . Phụ nữ lười dệt vải,
Nam nhi nhác cày ruộng.
Buông lung mê ôm đàn,
Ngón chân khảy dây hát.
Lạnh xương cần áo gấp,
No lòng trước phải ăn.
Nay ai thông cảm anh,
Đau khổ khóc trời xanh.

76 . Chẳng đi đường chân chánh,
Theo tà gọi hạnh bà.
Miệng niệm chút Thần Phật,
Tâm ôm nhiều tật đố.
Sau lưng ăn cá thịt,
Trước người niệm nam mô.
Chỗ tu thân như thế,
Nên khó tránh địa ngục.

77 . Đời có một hạng ngu,
Mờ mịt tợ như lừa,
Lại hiểu lời nói người,
Tham dâm tợ như heo.
Hiểm ca (3) khó thể lường,
Lời thật lại thành hư,
Ai hay cùng y nói,
Khiến cho chớ ở đây.

78 . Có kẻ tánh ngạo mạn,
Tên Tham tự Bất Liêm.
Một thân không hiểu gì,
Trăm việc bị người khi.
Chết ghét hoàng liên đắng,
Sống thích mật trắng ngon.
Ăn cá vẫn chưa dừng,
Xơi thịt lại không chán.

79 . Chọn lựa đất ở ẩn,
Thiên Thai hết chỗ chê.
Vượn kêu hơi khe lạnh,
Cỏ xanh mọc đầy hiên.
Lá trúc che thất tùng,
Khơi ao dẫn suối về.
Cam chịu buông tất cả,
Hái rau hết tuổi già.

80 . Ích là ích tinh kia,
Sao gọi là có ích.
Đổi là đổi hình kia,
Đó gọi là thay đổi.
Hay ích lại hay đổi,
Được ghi trên sách tiên,
Không ích lại không đổi,
Trọn chẳng thoát nạn chết.
(3) Hiểm ca: Khúc ca kỳ quặc, không bình thường.

81 . Uổng công nói ba sử,
Tự nhọc xem năm kinh.
Đến già kiểm sổ vàng,
Như cũ ghi thường dân.
Bói gặp quẻ xấu tệ,
Mạng sống (là) sao hư dối.
Sao bằng cây bên sông,
Mỗi năm lá thêm xanh.

82 . Khe xanh suối nước trong,
Hàn Sơn trăng sáng rõ,
Thầm biết thần tự trong,
Quán không cảnh càng lặng.

83 . Ta nay có một áo,
Chẳng tơ cũng không lụa,
Xin hỏi là màu gì?
Chẳng hồng cũng không tím.
Mùa đông làm áo ấm,
Mùa hạ đổi thành chăn,
Đông hạ thay đổi dùng,
Nhiều năm chỉ thế ấy.

84 . Phất trần cán trầm hương,
Mùi thơm trọn ngày nồng.
Mềm mại như khói cuộn,
Dao động tợ mây bay.
Trời nóng phụng sự mãi,
Quơ cao để quét bụi.
Thường ở trong phương trượng,
Dùng để chỉ người mê.

85 . Có người tham ái mong vui sướng,
Chẳng biết họa tại thân trăm năm.
Hãy xem sóng nắng bọt nước nổi,
Liền biết vô thường thân rã tan.
Ý chí trượng phu cứng như sắt,
Trong tâm không cong đạo tự chơn.
Mật hạnh tiết cao sương phủ trúc,
Mới biết chẳng uổng dụng tâm thần.

86 . Bao nhiêu bọn người hèn,
Trăm kế cầu danh lợi.
Tâm tham tìm vinh hoa,
Kinh doanh mong giàu có.
Tâm chưa từng thôi dứt,
Cuồn cuộn như mây khói.
Gia quyến thật sum vầy,
Vừa hô trăm kẻ dạ.
Chẳng quá tuổi bảy mươi,
Băng tan ngói bể rồi.
Đã chết muôn việc thôi,
Người nào thừa kế tiếp.
Nước thấm vào hòn đất,
Mới biết quá ngu si.

87 . Người tham thích chứa tiền,
Giống như cú thương con.
Con lớn ăn thịt mẹ,
Tiền nhiều lại hại mình.
Bố thí tức phước sanh,
Tích lũy liền họa khởi.
Không tiền cũng không họa,
Vỗ cánh trong mây xanh.

88 . Cách nhà một vạn dặm,
Đưa kiếm giết hung nô.
Được lợi anh liền chết,
Mất lợi anh cũng tàn.
Mạng anh đã chẳng tiếc,
Thân anh có tội gì?
Dạy anh thuật trăm thắng,
Chẳng tham là thượng mưu.

89 . Sân là lửa trong tâm,
Hay thiêu rừng công đức,
Muốn hành đạo Bồ Tát,
Nhãn nhục gìn chơn tâm.

90 . Bọn anh vùi đầu quá lầm mê,
Thích hướng vô minh hang la sát.
Bao lần khuyên anh sớm tu hành,
Chính anh ngu si tâm hoảng hốt.
Chẳng chịu tin nhận lời Hàn Sơn,
Càng tạo tăng thêm nghiệp chất chồng.
Đợi khi chém đầu làm hai khúc,
Mới biết thân mình là giặc nô.

91 . Ác thú rất mờ mịt,
Tối tăm không ánh sáng.
Nhân gian tám trăm năm,
Địa ngục mới nửa đêm.
Những bọn ngu si này,
Theo tình rất đáng thương,
Khuyên anh cầu xa lìa,
Nhận lấy ngôi Pháp Vương.

92 .Trời cao vút chẳng cùng,
Đất sâu dày vô cực.
Động vật tại trong ấy,
Nương sức tạo hóa này.
Tranh giành tìm no ấm,
Mưu kế cắn xé nhau.
Nhân quả thảy chẳng rành,
Bé mù hỏi màu sữa.

93 . Thiên hạ bao loại người,
Khi bàn có vài hạng.
Cổ bà theo Hứa phu,
Hoàng Lão vốn không vợ.
Họ Vệ con đáng mến,
Nhà chung gái cực xấu.
Nó nếu đi về tây,
Ta nhắm hướng đông chạy.

94 . Hiền sĩ chẳng tham lam,
Người ngu thích lò luyện.
Chiếm đất lúa của người,
Vườn trúc đều của ta.
Ra sức tìm tiền tài,
Cắn răng đuổi ngựa nô.
Hãy xem ngoài cửa thành,
Nhiều lũy dưới tùng bách.

95 . Lừa dối mua thịt cá,
Gánh về nuôi vợ con.
Đâu cần giết mạng nó,
Đem về nuôi mình người.
Chẳng phải nhân thiên đường,
Chỉ thuần nghiệp địa ngục.
Lời Từ Lục vỡ tan,
Mới biết không đạo lý.

96 . Có người nắm cây xuân,
Gọi là bạch chiên đàn,
Học đạo nhiều như cát,
Mấy người đạt Niết Bàn.
Bỏ vàng lại gánh cỏ,
Dối người cũng lừa mình,
Tợ nhóm cát một chỗ,
Thành viên cũng rất khó.

97 . Nấu cát định làm cơm,
Khát nước mới đào giếng.
Ra sức mài đá gạch,
Đâu kham làm kính soi.
Phật nói vốn bình đẳng,
Thảy có tánh chơn như.
Hãy tự suy nghĩ kỹ,
Đâu cần tranh luận suông.

98 . Suy tìm việc thế gian,
Chín chắn thảy cần biết.
Việc phàm chớ dễ duôi,
Đều thích tìm tiện nghi.
Giữ gìn tệ thành tốt,
Hủy bỏ phải thành trái.
Nên biết nhiều lời tạp,
Trước sau thảy do y.
Lạnh nóng ta tự lường,
Chẳng tin môi nô tỳ.

99 . Ngơ ngác kẻ sĩ nghèo,
Đói lạnh thành cùng khốn.
Ngồi không thích làm thơ,
Cố gắng dụng tâm lực.
Người hèn lời tốt đẹp,
Khuyên anh thôi than thở.
Viết chữ là bánh Hồ,
Cho chó cũng chẳng ăn.

100 . Muốn biết dụ sống chết,
Hãy sánh băng và nước,
Nước đông tức thành băng,
Băng tan trở về nước.
Chết rồi ắt phải sanh,
Sanh ra rồi lại chết,
Băng nước chẳng hại nhau,
Sống chết thảy đều tốt.

101 . Nhớ lại thời còn trẻ,
Đi săn đến Bình Lăng.
Chẳng mong làm đại sứ,
Thần tiên chưa đủ sánh.
Cởi ngựa trắng nối nhau,
Thỏ quát chim ưng chạy?
Chẳng biết nay lưu lạc,
Tóc bạc ai thấy xót.

102 . Nằm nghỉ dưới rừng sâu,
Từ sanh là nông phu.
Lập thân đã ngay thẳng,
Mở lời không nịnh hót.
Gìn ta chẳng xem ngọc,
Tin anh vừa được châu,
Đâu thể đồng trôi nổi.
Nhìn xa le trên sóng.

103 . Chẳng cần trách người ác,
Chẳng cần khoe mình hiền.
Làm được thì cứ làm,
Thu lại thì cứ thu.
Lộc nhiều lo nợ lớn,
Lời sâu ngại bạc bẽo.
Nghe đây nếu nhớ đây,
Trẻ nhỏ đang tự thấy.

104 . Trẻ giàu nhóm lầu cao,
Đèn treo sao sáng rực.
Lúc này người không đuốc,
Lòng muốn ở cạnh bên.
Đâu ngờ bị xua đuổi,
Chạy về chỗ tối ẩn.
Giúp người đèn há giảm?
Thật là tiếc sáng thừa.

105 . Đời có sĩ thông minh,
Khổ công tìm văn sâu.
Bút nghiên tự cô lập,
Kinh sử vượt hơn người.
Thần khí rất khác lạ,
Văn hay siêu quần chúng.
Chẳng biết ý trong ấy,
Theo cảnh loạn lăng xăng.

106 . Chất chồng nước núi tuyệt,
Mây ráng phủ xanh nhạt.
Sương thấm áo cỏ thô,
Chân bước qua các nơi.
Tay nắm dây mây già,
Nhìn về ngoài trần thế.
Cảnh mộng lại làm gì?

107 . Sách đầy thơ tài tử,
Bình tràn rượu thánh nhân.
Đi thích nhìn trâu nghé,
Ngồi chẳng lìa phải trái.
Sương mù vào mái hiên,
Trăng sáng soi lu nước.
Lúc này uống hai cốc,
Ngâm thơ hai ba bài.

108 . Thí chủ có hai con,
Dùng tài can Tề, Sở.
Văn võ đều tự đủ,
Gởi thân đã có nơi.
Mạnh Tử hỏi thuật kia,
Con ta đích thân dạy.
Tần, Vệ đều chẳng thành,
Thất thời thành lận đận.

109 . Chim uyên ương dừng nghỉ,
Con mái và con trống.
Ngậm hoa cùng ăn chung,
Rỉa lông thường theo nhau.
Đùa giỡn vào mây ráng,
Về nghỉ bên bờ cát.
Tự nhớ chỗ sống vui,
Chẳng cướp ao phụng hoàng.

110 . Hoặc có người kiêu ngạo,
Tài nghệ hơn Chu Khổng.
Nhìn thấy đầu lắc lư,
Khi xem thân vạm vỡ.
Trói cột chẳng thể đi,
Dùi đâm vẫn bất động,
Giống như hạc Dương Công,
Đáng thương sống ngu ngốc.

111 . Lúc nhỏ từng vác bừa,
Vốn cùng anh ở chung.
Bởi bị người khiển trách,
Lại bị vợ chê bỏ.
Buông hết cảnh hồng trần,
Thường thích xem kinh sách.
Ai tiếc một gáo nước,
Cứu lấy cá vết xe.

112 . Biến hóa kế vô cùng,
Sanh tử lại chẳng dừng.
Ba đường làm chim sẻ,
Ngũ Nhạc làm cá rồng.
Đời nhơ làm con cừu (giả ngu),
Đời trong làm ngựa giỏi.
Lúc trước là phú ông,
Ngày nay là bần sĩ.

113 . Sách đoán chẳng bất tài,
Trách thân chẳng chức cao.
Tuyển quan bị loại bỏ,
Tẩy nhơ tìm vết sẹo.
Chắc liên quan số mạng,
Năm nay lại thử xem.
Bé mù bắn mắt sẻ,
Bỗng nhiên trúng chẳng khó.

114 .Lừa nghèo một mét thiếu,
Chó giàu ba tất hơn.
So sánh nghèo bất bình,
Khoảng nửa giàu và khốn.
Mới cho lừa no đủ,
Lại bắt chó đói nghèo.
Vì nó suy nghĩ kỹ,
Khiến ta cũng sầu muộn.

115 . Liễu Lang tám mươi hai,
Lam tẩu tròn mười tám,
Vợ chồng cùng trăm năm,
Mối tình thật gian trá.
Sanh trai tên Ô Đồ,
Sanh gái gọi Oát Nạp,
Cây dương khô nẩy mầm,
Luôn bị sương tuyết hoại.

116 . Quán rượu ai rực rỡ,
Rượu kia thật đậm đà.
Đáng mến cờ xí cao,
Xa xa hủ chất hàng.
Ngạc nhiên sao chẳng bán,
Nhà kia nhiều chó dữ.
Đồng tử nếu đến mua,
Chó cắn co chân chạy.

117 .Than thở chỗ hỗn tạp,
La sát cùng hiền nhân.
Bảo là bọn quê dốt,
Đâu biết đạo chẳng gần?
Dối trá lại xưng chơn.
Quặng chì vào lò luyện,
Mới biết vàng chẳng ròng.

118 . Nhà nông tránh tháng hạn,
Cốc rượu cùng ai vui.
Dọn ra trái tạp nhạp,
Lưa thưa vài cốc rượu.
Dùng cỏ khô làm chiếu,
Lá chuối trải đầy mâm.
Khi say chống má ngồi,
Tu Di nhỏ (như) viên đạn.

119 . Kẻ tên Hà Thố Đại,
Thường đến Nam Viện thăm.
Tuổi khoảng hơn ba mươi,
Từng trải nhiều lần thi.
Trong túi không có tiền,
Trong cặp có quyển sách.
Đi đến trước quán ăn,
Chẳng dám xoay mặt nhìn.

120 . Có nhiều khách cơ hàn,
Sống nuôi cá thú ít.
Mãi ở dưới miếu đá,
Luôn bên góc tường cười.
Nhiều ngày uổng nhớ cơm,
Trọn đông không áo mặc.
Tư lương không bó cỏ,
Mang theo năm thăng trấu.

121 . Dối đến gát cao vút,
Uổng lên lầu trăm thước.
Dưỡng sinh nhưng chết non,
Dụ đọc (kinh) đâu phong hầu.
Chẳng cần theo trẻ nhỏ,
Nào phải chán bạc đầu.
Chưa thể thẳng như tê,
Lại chớ cong như câu.

122 . Lớp lớp mây núi liền trời xanh,
Rừng sâu đường vắng không khách đến.
Nhìn xa vầng trăng chiếu sáng ngời,
Gần nghe bầy chim kêu lãnh lót.
Ông già riêng ngồi tựa núi xanh,
Thiếu Thất nhàn ở mặc đầu bạc.
Than thở năm qua cùng ngày nay,
Tâm không lại tợ nước về đông.

123 . Giàu có sơ thân tụ,
Chỉ vì nhiều của tiền.
Nghèo nàn ruột thịt lìa,
Chẳng có tình anh em.
Hãy mau về đi thôi,
Gác chiêu hiền chưa mở.
Lang thang đường công danh,
Đạp nát gót da giày.

124 . Ta thấy một kẻ ngu,
Nhưng cưới hai ba vợ.
Nuôi tám chín đứa con,
Số khẩu kẻ đòi nợ.
Của tiền chẳng có sẵn,
Hoàng bá cột miệng lừa.
Về sau mới biết đắng.

125 . Lúa mới vẫn chưa chín,
Thóc cũ nay trống không.
Người đến vay vài lít,
Ngoài cửa đứng chờ trông.
Chồng ra bảo hỏi vợ,
Vợ ra sai tìm chồng.
Keo kiệt chẳng cứu đói,
Giàu có làm ngu thêm.

126 . Có nhiều việc đáng cười,
Lược bày năm ba kẻ.
Ông Trương giàu buông lung,
Mạnh Tử nghèo lận đận.
Chỉ giữ thân lùn no,
Chẳng thương Phương Sóc đói.
Ba ca (?) người xướng nhiều,
Tuyết trắng không người hòa.

127 . Ông già cưới vợ trẻ,
Tóc bạc vợ chẳng ưa,
Bà già lấy chồng trẻ,
Mặt vàng chồng chẳng thương.
Ông già cưới bà già,
Mỗi mỗi không ghét nhau,
Vợ trẻ lấy chồng trẻ,
Cả hai cùng thương yêu.

128 . Ung dung tuổi trẻ đẹp,
Học rộng hết sử kinh.
Mọi người gọi tiên sanh,
Đều xưng là học sĩ.
Khi chưa được chức quan,
Chẳng biết dùng lưỡi cày.
Đông mặc áo lót rách,
Bởi do sách lầm ta.

129 . Đáng cười hang ngũ ấm,
Bốn rắn cùng ở chung.
Tối tăm không ánh sáng,
Ba độc thay nhau đuổi.
Đồng bọn sáu thằng giặc,
Cướp phá báu pháp tài,
Chém hết bọn quân ma,
Bình an lặng như bơ.

130 . Nhà ta cột chẳng vẽ,
Rừng xanh là am tớ.
Nháy mắt một đời qua,
Muôn việc chớ tưởng bền.
Tế độ chẳng tạo phà,
Chìm nổi vì hái hoa.
Căn lành nay chưa trồng,
Ngày nào thấy mầm sanh.

131 . Sanh ra ba mươi năm,
Thường dạo ngàn muôn dặm.
Chơi sông hợp cỏ xanh,
Vào đất hiểm bụi bay.
Nấu thuốc uổng cầu tiên,
Đọc thơ cùng vịnh sử.
Ngày nay về Hàn Sơn,
Kê đầu suối rửa tai.

132 . Đời có người nhiều chuyện,
Học rộng thấy nghe nhiều,
Chẳng biết gốc chơn tánh,
Cùng đạo càng cách xa.
Nếu hay rõ thật tướng,
Đâu cần lập nguyện rỗng?
Một niệm rõ tự tâm,
Mở toang tri kiến Phật.

133 . Hôm qua sao mơ hồ,
Trong trường hứa người thương.
Trên làm đường đào lý,
Dưới tạo bãi cỏ, (giàn) lan.
Lại có người áo lụa,
Trong nhà nổi xanh biếc.
Gặp nhau muốn gọi nhau,
Hồi hộp chẳng nên lời.

134 . Trượng phu chớ giữ khốn,
Không tiền phải siêng năng.
Nuôi một con trâu cái,
Sanh được năm trâu con.
Trâu con lại sanh con,
Số lượng tăng không cùng,
Nhắn lời ông Đào Chu,
Giàu cùng vua tương tợ.

135 . Anh kia sao vội vàng,
Phương nam nhiều bệnh độc,
Đất bắc lắm gió sương.
Xó hoang chẳng thể ở,
Sông độc không thể uống.
Hồn ơi về đi thôi,
Ta ăn trái dâu vườn.

136 . Hôm qua mộng về quê,
Thấy vợ bên máy dệt.
Dừng thoi dáng suy tư,
Dời thoi tợ không sức.
Gọi vợ quay mặt nhìn,
Sao lại chẳng biết nhau?
Bởi vì xa nhiều năm,
Râu tóc đã đổi màu.

137 . Đời người chẳng đầy trăm,
Thường ôm lo ngàn năm,
Thân mình bệnh vừa hết,
Lại buồn lo cháu con.
Nhìn xuống đất gốc lúa,
Ngước lên ngọn cây dâu.
Quả cân rơi bể đông,
Tận đáy mới chịu dừng.

138 . Đời có một hạng người,
Lăng xăng như khúc cây,
Mở lời không hiểu biết,
Nói ta không gì phiền.
Hỏi đạo đạo chẳng hội,
Hỏi Phật Phật chẳng cầu,
Chín chắn suy tìm đến,
Mờ mịt một trường sầu.

139 . Đỗng Lang lúc còn trẻ,
Ra vào trong cung vua.
Áo lót thêu ngỗng vàng,
Dáng mạo giống như vẽ.
Thường cỡi ngựa trắng tuyết,
Phất phới bụi hồng bay.
Người xem đầy bên đường,
Kẻ này con nhà ai?

140 . Kẻ này con nhà ai,
Làm người quá bị ghét.
Tâm si luôn dày đặc,
Mắt thịt say lờ mờ.
Thấy Phật chẳng biết lạy,
Gặp tăng chẳng cúng dường.
Chỉ biết ăn thịt ngon,
Ngoài ra chẳng biết gì.

141 . Người lấy thân làm gốc,
Gốc do tâm làm chủ.
Gốc tại tâm chẳng tà,
Tâm tà mất bổn mạng.
Chưa thể thoát họa này,
Lời nào lười soi kính?
Chẳng niệm kinh Kim Cang,
Lại khiến Bồ Tát bệnh.

142 . Thành bắc có ông Trọng,
Nhà to nhiều rượu thịt.
Ông Trọng khi vợ chết,
Khách điếu đầy cả nhà.
Ông Trọng tự thân mất,
Không có một người khóc.
Người ăn chén thịt kia,
Thâm tình sao nhạt nhẽo.

143 . Hạ ngu đọc thơ ta,
Chẳng hiểu lại chê cười,
Trung dung đọc thơ ta,
Suy nghĩ nói rất yếu,
Thượng Hiền đọc thơ ta,
Nắm lấy nét mặt tươi,
Dương Tu thấy vợ trẻ,
Vừa nhìn liền biết diệu.

144 . Xưa có người keo kiệt,
Ta chẳng đồng như họ.
Áo lót mặc khiêu vũ,
Rượu hết do mê ca.
Thường ăn một bụng no,
Chớ để hai chân yếu.
Cỏ tranh dùi đầu lâu,
Ngày nay anh nên hối.

145 . Ta đi qua mộ xưa,
Lệ cạn than còn mất.
Mã sụp ép ruột vàng,
Hòm mục lộ xương trắng.
Vò hủ bị nghiên ngã,
Không trâm chống đứng lại.
Gió thổi lồng trong ấy,
Bụi tro bay mịt mù.

146 . Mặt trời hạ núi tây,
Cỏ cây ửng tươi tốt.
Lại có chỗ mịt mờ,
Tùng mây hòa quyện nhau.
Trong ấy nhiều chỗ ẩn,
Thấy ta tóc đổi màu.
Trong tay không lưỡi dao,
Thảy đều khép nép sợ.

147 . Xuất thân đã mệt mỏi,
Việc đời chẳng một thứ,
Chưa thể xả dòng tục,
Cho nên tìm hỏi nhau.
Hôm qua điếu Từ Ngũ,
Nay đưa tang Lưu Tam,
Ngày ngày chẳng được nhàn,
Do vậy tâm buồn thương.

148 . Có vui hãy cứ vui,
Thời giờ chẳng để mất.
Tuy nói một trăm năm,
Đâu tròn ba vạn ngày.
Cuộc đời trong nháy mắt,
Bàn tiền chớ thở than.
Kinh Hiếu chương cuối cùng,
Quanh co nói hết tình.

149 . Riêng ngồi thường buồn bã,
Trong lòng thật xôn xao.
Eo núi mây dày đặc,
Cửa hang gió xạc xào.
Vượn đu cây quằn quại,
Chim vào rừng kêu vang.
Thời gian gió vùn vụt,
Tuổi tàn già buồn hiu.

150 . Một người thích tài năng,
Sáu nghề đều thông suốt.
Nhìn nam lầm hướng bắc,
Nhìn tây lầm hướng đông.
Nổi mãi như bèo trôi,
Chẳng dừng tợ (cỏ) bồng bay,
Hỏi là những sắc gì?
Họ Bần tên là Không.

151 . Người hiền anh liền nhận,
Chẳng hiền anh chớ chơi.
Anh hiền người thấy dáng,
Chẳng hiền người giả từ.
Mến thiện chớ kiêu căng,
Nhân nghĩa mới an ổn.
Khuyên theo lời Tử Trương,
Buông hết lời so sánh.

152 . Tục bạc chân thành bạc,
Tâm người chẳng đồng nhau.
Ông Ân cười lão Liễu,
Lão Liễu cười ông Ân.
Vì sao chê cười nhau,
Cùng đi trong gian xảo.

153 . Khi ta ngày có tiền,
Thường vì anh cho vay.
Anh nay đã no ấm,
Thấy ta chẳng trả lại.
Nhớ xưa anh muốn được,
Đồng ta nay ngóng trông.
Có không việc thay đổi,
Khuyên anh suy nghĩ kỹ.

154 . Người sống một trăm năm,
Phật nói mười hai bộ,
Từ bi như nai đồng,
Sân nộ tợ chó nhà.
Chó nhà đuổi chẳng đi,
Nai đồng thường thích chạy,
Muốn dừng tâm khỉ vượn,
Cần nghe sư tử rống.

155 . Dạy anh bao nhiêu việc,
Nghĩ hiền biết ta hiền.
Quá nghèo nhịn mua nhà,
Vừa giàu phải mua ruộng.
Bụng trống chẳng được chạy,
Chiếc gối chớ nên ngủ,
Lời này mong cùng thấy,
Treo tại đông mặt trời.

156 . Hàn Sơn nhiều cảnh lạ,
Người lên đều nép sợ.
Trăng soi nước lặng lẽ,
Gió thổi cỏ vi vu.
Mai tàn kết hoa tuyết,
Cây trơ mây làm lá.
Gặp mưa càng tốt tươi,
Trời mù khó bước lên.

157 . Có cây mọc trước (khi có) rừng,
Tính tuổi càng gấp đôi,
Gốc bị hang đất đổi,
Lá bị gió sương phai.
Tức cười chạy rong ngoài,
Chẳng tiếc thần quang mình.
Da ngoài đã rơi sạch,
Chỉ còn lại chân thật.

158 . Hàn Sơn có loài trùng,
Thân trắng mà đầu đen,
Tay cầm hai quyển sách,
Một đạo và một đức.
Ở không sắm bếp nồi,
Đi chẳng mang áo cơm,
Thường cầm kiếm trí tuệ,
Định phá giặc phiền não.

159 . Có người sợ đầu bạc,
Chẳng chịu bỏ trang sức,
Hái thuốc uổng cầu tiên,
Gốc mầm loạn lăng xăng.
Nhiều năm không kết quả,
Ý sân si chứa đầy,
Thợ săn khoác cà sa,
Chẳng phải áo của anh.

160 . Ngày xưa quá nghèo khó,
Hôm nay càng nghèo hơn,
Làm việc không hòa hợp,
Gặp việc thành cùng khốn.
Lội bùn thường mỏi gối,
Ngồi tại chúng đau bụng.
Mất đi con mèo đốm,
Chuột chạy quanh nồi cơm.

161 . Rất quý vật thiên nhiên,
Một mình không bè bạn,
Tìm khác chẳng thể thấy,
Ra vào không cửa nẻo.
Thu lại tại tất vuông,
Buông ra khắp cả chỗ,
Anh nếu chẳng tin nhận,
Đối mặt chẳng biết nhau.

162 . Nhà ta có một hang,
Trong hang không một vật,
Sạch rỗng lại sáng ngời,
Chói chang ánh nhật nguyệt.
Cơm rau dưỡng thân tàn,
Vải thô che huyễn chất,
Mặc cho ngàn thánh hiện,
Ta có Phật Thiên Chơn.

163 . Nam nhi đại trượng phu,
Làm việc chớ cẩu thả.
Vững mạnh tâm sắc đá,
Thẳng giữ đường Bồ Đề.
Đường tà chớ nên đi,
Đi vào luống chịu khổ.
Chẳng cần cầu quả Phật,
Biết nhận chủ tâm vương.

164 . Nhàn tự hỏi cao tăng,
Khói núi muôn vạn tầng,
Thầy thương chỉ đường về,
Trăng treo như ngọn đuốc.

165 . Nhàn dạo trên Hoa Đảnh,
Trời trong trăng sáng ngời,
Bốn phía trời trống vắng,
Mây trắng đồng hạc bay.

166 . Hàn Sơn có một nhà,
Trong nhà không ngăn cách,
Sáu cửa phải trái thông,
Giữa nhà thấy trời xanh.
Mỗi phòng rỗng vắng tanh,
Vách đông qua vách tây,
Trong ấy không một vật,
Khỏi bị người ở nhờ.
Lạnh đến đốt lửa hơ,
Đói đến luộc rau dùng.
Chẳng theo ông Điền Xá,
Rộng sắm ruộng vườn nhà.
Thảy tạo nghiệp địa ngục,
Đã vào khi nào ra?
Trầm tĩnh khéo suy xét,
Suy kỹ biết phép tắc.

167 . Nhà kia tạm xuống núi,
Vào đến trong thành đô,
Nhìn thấy nhóm thiếu nữ,
Đoan chánh dung mạo đẹp.
Đầu cài hoa ong bướm,
Môi son mặt phấn mịn,
Vòng vàng điểm hoa bạc,
Áo lụa tơ hồng tím.
Sắc hồng đồng thần tiên,
Thoa hương mùi nồng nặc,
Người đời đều cố nhìn,
Si ái nhiễm tâm ý.
Bảo rằng không ai bằng,
Bóng hồn mê theo kia,
Chó gậm khúc xương khô,
Tự dối liếm môi răng.
Chẳng biết suy nghĩ lại,
Súc sanh nào khác gì?
Nay thành bà đầu bạc,
Già tàn như quỷ sứ.
Từ lâu do tâm chó,
Chẳng đạt cảnh giải thoát.

168 . Một mình ẩn Hàn Sơn,
Nuôi mạng ăn quả núi.
Bình sanh có gì buồn,
Đời này sống tùy duyên.
Ngày tháng như nước chảy,
Thời gian như lửa nháng.
Mặc cho trời đất đổi,
Ta thích ngồi trong núi.

169 . Ta thấy người thế gian,
Lăng xăng chạy đường trần.
Chẳng biết việc trong ấy,
Lấy gì làm mục tiêu.
Giàu sang được bao lâu,
Quyến thuộc thân một lúc.
Dù có ngàn lượng vàng,
Sao bằng nghèo ở rừng.

170 . Tự nghe triều nhà Lương,
Kính nương bốn hiền sĩ,
Chí Công, Sư Vạn Hồi,
Tứ Tiên, Phó Đại Sĩ.
Xiểng dương giáo một đời,
Làm sứ gìn Như Lai.
Xây dựng Tăng Già Lam,
Tâm tin theo lý Phật.
Tuy là được như thế,
Hữu vi nhiều hoạn lụy.
Cùng đạo càng cách xa,
Cắt tây để vá đông.
Chẳng đạt công vô vi,
Tổn nhiều lợi chút xiu.
Có tiếng mà không hình,
Đến nay nơi nào phải?

171 . Thở than nghèo lại bệnh,
Làm người không bạn thân.
Trong hũ mãi hết gạo,
Trong nồi bụi phủ dầy.
Mái am mưa thường dột,
Giường mục tạm chứa thân.
Chớ lạ nay tiều tụy,
Buồn nhiều chắc chết sớm.

172 . Nuôi phụ nữ ngại nhiều,
Lỡ sanh phải dạy dỗ.
Ấn đầu bỏ tiểu tâm.
Đánh lưng dạy giữ miệng,
Chưa biết cầm máy dệt,
Đâu kham việc quét sàng.
Bà Trương nói lừa con,
Nó to chẳng bằng mẹ.

173 . Vững chí chẳng mệt mỏi,
Ta chẳng phải chiếc chiếu.
Mặc tình đến núi rừng,
Riêng nằm trên tảng đá.
Biện sĩ đến khuyên ta,
Mời nhận vàng ngọc gấp.
Đục tường trồng bồng lao,
Như thế chẳng có ích.

174 . Bởi chỗ ta dừng nghỉ,
Tối sâu khó diễn tả.
Không gió dây mây động,
Không mù trúc tối om.
Tiếng suối chảy róc rách,
Mây núi bỗng tự đùn.
Giữa trưa ngồi trong am,
Mới thấy mặt trời hiện.

175 . Nhớ xưa chỗ thấy qua,
Du lịch trong nhân gian.
Dược Sơn lên vạn thước,
Dạo nước buồm ngàn chiếc.
Đưa khách hang Tỳ Bà,
Ôm đàn châu Oanh Vũ.
Đâu biết dưới cây tùng,
Ôm gối lạnh lập cập.

176 . Báo người tu hành rõ,
Siêng cầu luống nhọc thần.
Người có vật tinh minh,
Không tên lại không chữ.
Khi kêu ứng rõ ràng,
Lúc ẩn không nơi chỗ.
Nhắc nhở khéo giữ gìn,
Chớ để dính vết nhơ.

177 . Năm qua chim xuân hót,
Lúc này nhớ anh em.
Năm nay thu cúc tàn,
Khi ấy nhớ quê hương.
Nước xanh uốn nhiều chỗ,
Mây vàng bốn phía bằng.
Buồn thay trong trăm năm,
Đứt ruột nhớ Hàm Kinh.

178 . Bao nhiêu người Thiên Thai,
Chẳng biết Hàn Sơn Tử,
Chẳng rành lường chân ý,
Gọi là lời nói suông.

179 . Khi ở Hàn Sơn muôn việc thôi,
Lại không niệm tạp treo đầu tâm.
Nhàn nơi vách đá ghi thơ cú,
Mặc tình lại đồng thuyền không neo.

180 . Đáng tiếc nhà trăm năm,
Trái đổ phải lại nghiên.
Tường vách tiêu tán hết,
Kèo cột nằm ngổn ngang.
Mái ngói rơi từng mảnh,
Mục nát chẳng thể ở.
Mặc gió thổi tung đỗ,
Dựng lại trọn khó thành.

181 . Tinh thần thật thanh thản,
Dáng mạo rất sáng láng.
Sức mạnh khó ai sánh,
Đọc sách xem ngũ hành.
Từng ngủ gối đầu hổ,
Xưa ngồi giường ngà voi.
Nếu không có vật này,
Chắc là lạnh như sương.

182 . Cười ta con nhà nông,
Dưới đầu má ẩm ướt.
Khăn quấn chẳng từng cao,
Đai lưng lâu ngày xiết.
Chẳng phải lo không kịp,
Không tiền làm sao mua.
Hôm nào có nhiều vàng,
Một mình đứng nóc chùa.

183 . Mua thịt máu ứ đọng,
Mua cá đuôi ngoe ngẩy.
Thân anh chuốc tội lụy,
Vợ con được sống vui.
Đánh chết cả nhà anh,
Người khác ai dám ngăn.
Hôm nào nếu giường sập,
Hai kẻ đương đầu thoát.

184 . Ngàn sống muôn chết khi nào dứt?
Sanh tử đến đi thêm tình mê.
Chẳng biết trong tâm báu vô giá,
Giống hệt lừa mù chân bước càn.

185 .Dùng hết tâm thần vì danh lợi,
Trăm thứ tham lam tiến thân mình.
Cuộc đời huyễn hóa như đuốc cháy,
Nấm mồ vùi thân là có không.

186 . Thế gian việc gì phải thở than,
Thảy là tạo nghiệp thô tam đồ.
Chẳng học dưới núi khách mây trắng,
Một chiếc áo lạnh là sanh nhai.
Thu đến mặc cho lá rừng rụng,
Xuân về đúng tiết cây nở hoa.
Tam giới ngủ say không một việc,
Gió mát trăng sáng là nhà ta.

187 . Khách chê Hàn Sơn Tử,
Thơ anh không đạo lý.
Ta xem nơi người xưa,
Nghèo nàn chẳng thấy nhục.
Phải chi cười lời này,
Nói sao sơ lược vậy.
Mong anh như hôm nay,
Tiền là điều cần gấp.

188 . Từ sanh chẳng đến đi,
Đến chết không hai nghĩa,
Mở lời thành cành lá,
Trong tâm liền gian xảo.
Nếu anh mở đường nhỏ,
Do đây sanh lầm to.
Nói dối tạo thang mây,
Cạo gọt thành gai góc.

189 . Một bình đúc bằng vàng,
Một bình đất nung thành,
Hai bình mặc anh xét,
Cái bình nào bền lâu.
Muốn biết bình có hai,
Phải biết nghiệp chẳng một.
Lấy đây nghiệm nhân sanh,
Tu hành tại ngày nay.

190 . Đơn Khâu cao vút cùng mây bằng,
Năm núi trên không xa nhìn xuống.
Tháp Nhạn vươn cao ra núi xanh,
Điện cổ tùng lâm ẩn mây ráng.
Gió động lá tùng thành đỏ tuyệt,
Mây đùn giữa núi quên đường tiên.
Trời trong ngàn núi thấy muôn dặm,
Dây leo chằng chịt khe nối khe.

191 . Tôi thấy Tăng Dao tánh kỳ đặc,
Khéo léo sanh giữa đời nhà Lương.
Dù nơi hư không vẽ dấu bụi,
Không thể vẽ được sư Chí Công.

192 . Ở lâu Hàn Sơn đã mấy thu,
Riêng ngâm khúc ca bặt u sầu.
Đói ăn một viên thuốc già đà,
Tâm địa điều hòa nương gò đá.

193 . Các sao la liệt đêm khuya sáng,
Ngọn đuốc điểm núi trăng chưa chìm.
Ánh sáng tròn đầy chẳng do tạo,
Treo tại trời sanh là tâm ta.

194 . Già bệnh năm tàn một trăm hơn,
Mặt vàng đầu bạc thích ở núi.
Áo vải che thân tùy duyên qua,
Đâu thích người đời khuôn mẫu khéo.

195 . Suy tàn lều tranh hoang,
Trong ấy đầy lửa khói.
Xin hỏi bọn trẻ nhỏ,
Sanh ra đã mấy ngày?
Ngoài cửa có ba xe,
Đón chờ chẳng chịu ra.
Tham ăn bụng phình to,
Kẻ này thật ngu si.

196 . Có thân cùng không thân,
Là ngã chẳng phải ngã.
Suy xét kỹ như thế,
Dời đến nương núi ngồi.
Dưới chân cỏ xanh mọc,
Trên đầu bụi hồng rơi.
Đã thấy người trong tục,
Giường linh bày tiệc rượu.

197 . Hôm qua thấy cây (bên) sông,
Tồi tàn hết chỗ nói.
Hai ba hoa rêu bám,
Ngàn muôn vết búa rìu.
Sương lột lá héo sạch,
Sương dập gốc khô mục.
Chỗ sống đang như thế,
Đâu cần oán trời đất.

198 . Trên đá ngàn năm dấu người xưa,
Trước núi muôn thước một điểm không.
Trăng tròn chiếu sáng thường trong vắt,
Chẳng nhọc tìm xét hỏi tây đông.

199 . Thương thay bệnh chúng sanh,
Ăn nếm mãi chẳng chán,
Hầm thịt tương tỏi xông,
Nướng quay chấm muối ớt.
Lóc xương thái thịt nhỏ,
Luộc da, thịt gò má,
Chẳng biết mạng chúng khổ,
Chỉ giữ nhà mình ngon.

200 . Đọc sách há khỏi chết,
Đọc thư sao hết nghèo.
Vì sao thích biết chữ,
Biết chữ để hơn người.
Trượng phu chẳng biết chữ,
An thân ở chỗ nào?
Hoàng liên hòa tương tỏi,
Quên tính là cay đắng.

201 . Ta thấy kẻ khinh người,
Như sọt múc đầy nước.
Một hơi chạy về nhà,
Trong sọt chẳng còn gì.
Ta thấy người bị khinh,
Giống tợ hẹ trong vườn.
Mỗi ngày bị dao cắt,
Trời sanh lá mọc thêm.

202 . Trên đảnh Hàn Sơn một vầng trăng,
Chiếu cảnh trời không một vật không.
Rất quý thiên nhiên báu vô giá,
Vùi tại ngũ ấm chìm thân phàm.

203 . Ta đến trước khe soi dòng xanh,
Hoặc tới bên núi ngồi bàn đá.
Tâm tợ áng mây không chỗ nương,
Việc đời lăng xăng cần tìm gì?

204 . Nhà ta vốn ở tại Hàn Sơn,
Dừng nghỉ núi đá lìa phiền duyên.
Buông hết vạn tượng không dấu vết.
Thư thả bao trùm khắp Đại Thiên.
Ánh sáng rực rỡ chiếu tâm địa,
Không có một pháp đang hiện tiền.
Mới biết một viên châu ma ni,
Biết dùng vô cùng mỗi nơi tròn.

205 . Người đời việc gì đáng thở than,
Khổ vui nung nấu không bờ mé.
Sanh tử lại qua bao nhiêu kiếp?
Đông tây nam bắc là nhà ai?
Trương, Vương, Lý,Triệu tạm là họ,
Sáu đạo ba đường việc tợ (cây) gai.
Chỉ vì chủ nhơn chẳng thấu suốt,
Bèn chịu sanh diệt vào đường tà.

206 . Nhà ta vốn ở tại Thiên Thai,
Đường mây khói sâu không khách đến.
Núi hiểm ngàn thước sâu đáng ẩn,
Hang khe muôn lớp đá lâu đài.
Khăn hoa guốc gỗ bước ven dòng,
Áo vải gậy lê quanh núi về.
Tự biết cuộc đời việc huyễn hóa,
Tiêu diêu khoái lạc thật sướng thay!

207 . Thấy chăng sương sớm đọng,
Nắng soi tự tiêu trừ,
Thân người cũng như thế,
Diêm phù ở tạm thôi.
Thận trọng chớ qua suông,
Hãy khiến trừ ba độc.
Bồ Đề tức phiền não,
Quét sạch không còn thừa.

208 . Mặt nước lặng trong suốt,
Tự nhiên thấy tận đáy.
Trong tâm không một vật,
Muôn cảnh chẳng thể chuyển.
Tâm đã không khởi vọng,
Vĩnh kiếp không biến đổi.
Nếu hay biết như thế,
Biết này không trước sau.

209 . Nói ăn trọn chẳng no,
Nói mặc không hết lạnh.
Ăn no phải là cơm,
Mặc áo mới khỏi lạnh.
Chẳng biết suy nghĩ kỹ,
Chỉ nói cầu Phật khó.
Xoay tâm lại là Phật,
Chớ hướng tìm bên ngoài.

210 . Đáng sợ khổ luân hồi,
Qua lại như bụi bay,
Kiến lòng vòng không dứt,
Sáu đường loạn lăng xăng.
Thay đầu đổi mặt mũi,
Chẳng lìa người xưa nay,
Chóng rõ ngục đen tối,
Chớ khiến tâm tánh mờ.

211 . Đáng sợ vòng tam giới,
Niệm niệm chưa từng thôi,
Vừa mới được trồi đầu,
Lại bị chìm xuống sâu.
Giả sử trời Phi Tưởng,
Bởi do nhiều phước lực,
Sao bằng biết nguồn chơn,
Sống được là bất tử.

212 . Hôm qua lên đỉnh núi,
Nhìn xuống vách ngàn thước.
Lâm nguy một gốc cây,
Gió lay tét hai cành.
Mưa soi thành bụi trần.
Than ôi xưa tươi tốt,
Ngày nay thành đống bụi.

213 . Từ xưa bao nhiêu thánh,
Dặn dò bảo tự tin.
Người căn tánh chẳng đồng,
Cao thấp có nhanh chậm.
Chân Phật chẳng chịu nhận,
Gắng sức uổng nhọc phiền.
Chẳng biết tâm thanh tịnh,
Chính là ấn Pháp Vương.

214 . Ta nghe núi Thiên Thai,
Trong núi có cây quý.
Nói mãi muốn trèo lên,
Chẳng theo đường cầu đá.
Do đó sanh than buồn,
May mắn ở lòng mến.
Sống vui tuổi về già.
Ngày nay đối trước gương,
Tóc trắng rũ như tơ.

215 . Nuôi con chẳng thầy dạy,
Chẳng bằng chuột nhà trọ.
Nào từng thấy người tốt,
Há nghe lời trưởng giả.
Bị nhiễm bởi hôi thơm,
Phải cần chọn bạn lành.
Tháng năm bán cá tươi,
Chớ để người cười anh.

216 . Đóng cửa ngồi lều tranh,
Năm dời tháng đổi nhanh.
Chỉ nghe người thành quỷ,
Chẳng thấy hạc thành tiên.
Nghĩ đây sao đáng nói,
Theo duyên cần thương mình.
Quay nhìn vùng ngoại ô,
Mồ xưa thành đồng xanh.

217 . Người đời thấy Hàn Sơn,
Đều cho là phong điên,
Dáng mạo không muốn nhìn,
Thân chỉ quấn mảnh vải.
Lời ta người chẳng hiểu,
Lời người ta chẳng nói,
Vì báo người tới lui,
Nên về hướng Hàn Sơn.

218 . Tự tại mây trắng nhàn,
Xưa nay chẳng mua núi.
Xuống núi hiểm chống gậy,
Lên non nguy vịn dây.
Bên khe thường tùng xanh,
Đá vằng tại mé suối.
Bạn lành tuy cách trở,
Xuân đến chim kêu vang.

219 . Ta ở tại trong thôn,
Người tìm không nơi chỗ.
Hôm qua đến dưới thành,
Nhưng bị hình tướng chó.
Hoặc chê quần quá hẹp,
Lại trách áo thiếu dài.
Nhét đầy mắt diều hâu,
Chim sẻ múa rõ ràng.

220 . Sanh tử vốn có mạng,
Giàu có vốn do trời.
Đây là người xưa nói,
Ta nay chẳng lầm truyền.
Thông minh thường chết yểu,
Ngu ngốc lại sống lâu.
Ngọc quý ẩn đá xấu,
Kẻ sáng suốt không tiền.

221 . Nước lấy người làm gốc,
Như cây mọc từ đất,
Đất dầy cây sống lâu,
Đất mỏng cây khô héo.
Chẳng được bày gốc kia,
Cành khô trái rụng trước.
Ngăn ao để bắt cá,
Là mong một lúc lợi.

222 . Chúng sanh hết nói nổi,
Đâu ngờ nhận điên tà,
Trên mặt hai chim ác,
Trong tâm ba rắn độc.
Bởi nó làm chướng ngại,
Khiến anh việc rối bời,
Dơ cao tay khảy nhẹ,
Nam mô Phật Đà Da.

223 . Tự vui đạo bình sanh,
Khói cuộn trong hang đá.
Tình quê thật mênh mông,
Bạn thân mảnh mây nhàn.
Có đường chẳng thông đời,
Không tâm ai nắm bắt?
Giường đá đêm riêng ngồi,
Trăng tròn lên Hàn Sơn.

224 . Biển rộng nước vô biên,
Cá rồng muôn vạn thiên,
Thay đổi ăn nuốt nhau,
Lăng xăng mê miếng thịt.
Vì tâm chẳng thông suốt,
Vọng tưởng khởi như mây,
Trăng bổn tánh lặng sáng,
Rỗng rang chiếu vô biên.

225 . Ta thấy đỉnh Thiên Thai,
Riêng cao hơn các núi.
Gió đọng tùng trúc kêu,
Sóng biển nhồi bóng trăng.
Nhìn xuống triền núi xanh,
Bàn huyền có trăng sáng.
Tình quê là núi nước,
Bổn chí mến nếp đạo.

226 . Vài kẻ hậu sanh ngu,
Làm việc chẳng chân thật,
Chưa đọc mười quyển sách,
Gượng cầm bút sửa bừa.
Đem thiên hạnh nho kia,
Gọi là luật trộm cướp,
Hết thảy tợ con mọt,
Cắn rách quyển sách kia.

227 . Tâm cao như núi Nhạc,
Nhơn ngã chẳng phục người.
Giảng giải sách Di Đà,
Hay bàn văn tam giáo.
Trong tâm không hổ thẹn,
Phá giới trái luật răn,
Tự nói pháp thượng nhơn,
Xưng ta là số một.
Người ngu đều khen ngợi,
Người trí vỗ tay cười.
Sóng nắng, hoa hư không,
Há được thoát sanh tử?
Sao bằng trăm chẳng hiểu,
Ngồi lặng dứt ưu phiền.

228 . Của quý nhiều như thế,
Chèo thuyền mục vào biển.
Phía trước không cột buồm,
Phần sau không bến lái.
Quay cuồng mặc gió thổi,
Ngã nghiêng theo sóng nhồi.
Làm sao được đến bờ?
Nổ lực chớ ngồi yên.

229 . Ta thấy người phàm ngu,
Chứa nhiều thóc tiền của,
Uống rượu ăn mạng sống,
Khoe rằng ta giàu sang.
Chẳng biết địa ngục sâu,
Chỉ cầu phước trên Trời,
Tội nghiệp như Tỳ Phú (4),
Há được thoát tai độc?
Tài chủ bỗng nhiên chết,
Tranh nhau dụm đầu khóc.
Cúng Tăng đọc sớ văn,
Lộc quỷ thần trống rỗng.
Ruộng phước một chút không,
Dối bày một bầy ngốc.
Sao bằng sớm giác ngộ,
Chẳng tạo ngục đen tối.
Gió cuồng chẳng động cây,
Chơn tâm không tội phước.
Nhắn nhủ người ngơ ngáo,
Nhắc nhở thường xuyên đọc.

230 . Khuyên anh còn tam giới,
Không đạo chớ nên làm.
Điều dở bị người khi,
Việc tốt được người khen.
Thế gian người hỗn tạp,
Giống như xôi dính nhau.
Thấy chăng người vô sự,
Siêu thoát không gì sánh.
Sớm cần trở về nguồn,
Tam giới mặc duyên khởi.
Tâm tịnh vào dòng như,
Chớ uống nước vô minh.

(4) Tỳ Phú: Nói đủ là Tỳ Phú La Sơn, một ngọn núi lớn gần thành Tỳ Xá Vệ bên Ấn Độ.

231 . Tam giới người lúc nhúc,
Sáu đường người mờ mịt,
Tham tài ái dâm dục,
Tâm ác như cáo sói.
Địa ngục như tên bắn,
Quá khổ phải làm sao?
Ngơ ngáo qua sớm chiều,
Đều chẳng khác hiền lương.
Tốt xấu đều chẳng biết,
Giống như heo và dê.
Cùng nói như cây đá,
Tật đố tợ điên cuồng.
Chẳng tự thấy lỗi mình,
Như heo nằm tại chuồng.
Chẳng biết tự đền nợ,
Lại cười bò kéo cối.

232 . Người sống ở trong trần,
Giống như kiến trong bồn.
Trọn ngày bò vòng quanh,
Chẳng rời cái bồn ấy.
Thần tiên chẳng thể sánh,
Phiền não tính vô cùng.
Năm tháng như dòng nước,
Phút giây thành ông già.

233 . Hàn Sơn nói lời này,
Lại tợ kẻ điên cuồng.
Có việc giáp mặt nói,
Cho nên đủ người oán.
Chơn tâm nói lời thẳng,
Tâm thẳng không trước sau.
Chết rồi vào địa ngục,
Ai là kẻ rên la?
Mờ mịt đường âm phủ,
Bị nghiệp trói cột nhau.

234 . Nhắn nhủ các nhân giả,
Lại do lòng thế nào?
Đạt đạo thấy tự tánh,
Tự tánh tức Như Lai.
Thiên chơn vốn đầy đủ,
Tu chứng càng lầm sai,
Bỏ gốc lại theo ngọn,
Chỉ giữ một trò ngốc.

235 . Đời có một hạng người,
Không ác lại chẳng thiện,
Chẳng biết ông chủ nhơn,
Theo khách mỗi nơi chuyển.
Lững thững thời gian qua,
Đều do mê thịt ngon.
Tuy có một đài linh,
Đồng như kẻ nghèo cùng.

236 . Thường nghe Phật Thích Ca,
Xưa được Nhiên Đăng ký,
Nhiên Đăng cùng Thích Ca,
Chỉ là trí trước sau.
Thể trước sau không khác,
Trong khác không có khác,
Một Phật tất cả Phật,
Tâm là đất Như Lai.

237 . Thường nghe các đại thần,
Lộc trâm vàng mũ đỏ,
Giàu sang trăm ngàn thứ.
Tham vinh chẳng biết nhục,
Nuôi ngựa đầy cả nhà.
Vàng bạc vun nhà kho,
Phước si tạm thời nương.
Vùi đầu tạo địa ngục,
Bỗng chết muôn việc thôi.
Con cháu dụm đầu khóc,
Chẳng biết có họa ương.
Giàu sang sao mau tàn,
Nhà mục lạnh điều hiu.
Không có hạt gạo ăn,
Đói lạnh khổ thảm thương,
Bởi do chẳng giác ngộ.

238 . Thượng nhơn tâm mạnh sắc,
Vừa nghe liền biết diệu;
Trung lưu tâm thanh tịnh,
Suy xét nói rất yếu;
Bậc hạ dốt ngu si,
Cứng đầu rất khó dạy,
Trực nhận buồn lâm ly,
Mới biết tự tiêu diệt.
Chấp lấy mắt giặc mở,
Chợ ồn nhóm người giết.
Thây chết quăng như bụi,
Lúc này nhằm ai nói?
Nam nữ đại trượng phu,
Một đao lìa hai đoạn.
Mặt người lòng cầm thú,
Tạo tác khi nào xong?

239 . Ta có sáu anh em,
Tựu trung một thằng ác,
Đánh nó lại chẳng được,
Mắng nó cũng chẳng nghe.
Mỗi nơi biết làm sao?
Tham tài thích dâm sát,
Thấy đẹp vùi đầu yêu,
Tâm tham hơn la sát.
Người cha ghét nhìn nó,
Người mẹ hiềm chẳng vui,
Hôm qua bị ta bắt,
Mắng chưởi mặc tình lôi.
Đuổi vào chỗ không người,
Mỗi mỗi nhằm nó nói,
Mầy nay cần đổi hạnh,
Xe lật cần chuyển lối.
Nếu cũng chẳng tin nhận.
Cùng nó giận giết hết,
Nó nhận ta điều phục,
Ta cùng nó tìm sống.
Từ đây thảy hòa đồng,
Như nay viếng Bồ Tát,
Học nghề chế lò đúc,
Luyện được ba núi sắt,
Đến nay rất vững vàng,
Mọi người đều khen ngợi.

240 . Ta thấy người thế gian,
Hình dáng thật tròn đầy.
Chẳng đến ơn cha mẹ,
Khuôn mẫu của tất lòng.
Thiếu nợ người kia tiền,
Gót lủng mới buồn than.
Mỗi kẻ tiếc vợ con,
Cha mẹ chẳng nuôi dưỡng.
Anh em tợ oán thù,
Trong tâm thường buồn vui.
Nhớ xưa lúc còn trẻ,
Cầu thần mong lớn khỏe.
Nay làm con bất hiếu,
Thế gian nhiều bọn này.
Mua thịt ăn thỏa mãn,
Lau miệng nói ta sướng.
Tự bày nói ồn ào,
Thông minh không lợi ích.
Đầu trâu trừng mắt sân,
Khi biết thì đã muộn.
Chọn Phật đốt hương thơm,
Lựa tăng về cúng dường.
La Hán đứng trước cửa,
Đuổi quách Hòa Thượng lười.
Chẳng biết người vô vi,
Xưa nay không tướng trạng.
Viết thơ thỉnh danh tăng,
Cúng tiền hai ba cắc.
Pháp sư tướng tốt đẹp,
Trên đầu mọc hai sừng.
Tâm anh không bình đẳng,
Thánh Hiền chẳng đến thăm.
Phàm thánh đều hỗn tạp,
Khuyên anh thôi chấp tướng.

241 . Có chim lông năm màu,
Đậu ngô (cây ngô) ăn quả trúc.
Thong thả hợp oai nghi,
Tiếng hót hợp cung luật.
Gần đây vì sao đến.
Khiến ta tạm thời ra,
Tình cờ nghe tiếng ca,
Hôm nay múa vui thích.

242 . Ngày xưa quá nghèo khổ,
Hôm nay càng nghèo hơn,
Làm việc không hòa hợp,
Gặp việc thành cùng khốn.
Lội bùn thường mỏi gối,
Ngồi tại chúng đau bụng.
Mất đi con mèo đốm,
Chuột chạy quanh nồi cơm.

243 . Cả đời lười nhác làm,
Ghét khó thích dễ dàng.
Nhà anh học sự nghiệp,
Ta trái một quyển kinh.
Không tâm việc bổn phận,
Đến đi giúp người tỉnh.
Tùy bệnh mà cho thuốc,
Phương tiện độ chúng sanh.
Chỉ tự tâm vô sự,
Chỗ nào chẳng sánh ngời.

244 . Ta thấy người xuất gia,
Chẳng học tập xuất gia.
Muốn biết chân xuất gia,
Tịnh tâm không cột trói.
Lặng lẽ thật huyền diệu,
Như như không gá nương.
Tam giới mặc tung hoành,
Tứ sanh chẳng thể vương.
Người vô sự vô vi,
Thong dong thật vui thích.

245 . Hôm qua đến Vân Hà (5),
Bỗng gặp tiên tôn sĩ,
Khăn sao áo choàng nguyệt,
Đều nói ở sơn thủy.
Ta hỏi thuật thần tiên,
Rằng đạo làm sao sánh?
Nói linh không gì hơn,
Thuốc hay dưỡng tâm thần.
Giữ chết đợi hạc đến,
Đều nói nương cá đi.
Ta liền xét ngược lại,
Suy tìm không đạo lý.
Hãy xem tên bắn không,
Giây lâu lại rơi đất.
Dù anh được thành tiên,
Giống hệt giữ thây quỷ.
Trăng tâm tự sáng ngời,
Muôn tượng làm sao sánh?
Muốn biết thuật thần tiên,
Trong thân vốn là thần.
Chớ học ông Hoàn Công,
Ôm ngu tự giữ si.

246 . Quê tôi có một nhà,
Nhà kia không chủ chánh,
Đất sanh một tất cỏ,
Nước nhỏ một giọt sương.
Lửa thiêu sáu thằng giặc,
Gió thổi mây đen mưa.
Chín chắn tìm người xưa,
Chéo áo có chân châu.

247 . Gởi lời các nhân giả,
Lại do lòng thế nào?
Đạt đạo thấy tự tánh,
Tự tánh tức Như Lai.
Thiên chơn vốn đầy đủ,
Tu chứng càng sai lầm,
Bỏ gốc lại theo ngọn,
Chỉ giữ một trường ngốc.

248 . Vì sao mãi buồn bã,
Đời người tợ nấm sớm.
Đâu kham vài mươi măm,
Mới cũ héo tàn sạch.
Do đâu nghĩ tự buồn,
Tình sầu không chịu nổi.
Làm sao làm thế nào?
Buông hết về núi ẩn.

249 . Nghèo hèn do nghiệp cũ,
Chớ trách thân hôm nay.
Nếu nói tại mồ mả,
Kẻ này là ngu si.
Cuối cùng anh thành quỷ,
Đâu khiến nam nữ nghèo.
Rõ ràng việc dễ hiểu,
Làm gì không tinh thần.

250 . Ta thấy nước Hoàng Hà,
Trải qua bao lần trong,
Dòng nước như tên bay,
Đời người như bèo nổi.
Si thuộc nghiệp căn bản,
Hầm phiền não vô minh,
Luân hồi bao nhiêu kiếp,
Chỉ vì tạo mê lầm.

(5) Vân Hà: Nói đủ là Vân Hà Quán, tức là căn nhà của tiên nhơn ở.

251 . Hai nghĩa đã mở rồi,
Người liền ở trong ấy,
Anh mê ta nhiều lời,
Anh tỉnh liền thảnh thơi.
Anh tiếc tức giàu có,
Anh bỏ liền bần cùng,
Mãi làm kẻ cùng tử,
Mọi việc do ông trời.

252 . Ta khuyên những trẻ con,
Mau ra khỏi nhà lửa.
Ngoài cửa có ba xe,
Chở ông thoát phiêu bồng.
Ngồi ngã tư sờ sờ,
Giữa trời muôn việc không.
Mười phương không trên dưới,
Đến đi mặc tây đông.
Nếu đạt ý trong ấy,
Tung hoành mỗi nơi thông.

253 . Đáng thương người sống tạm,
Lăng xăng khi nào xong?
Mỗi ngày không rảnh rổi,
Năm qua chẳng biết già.
Thảy vì cầu ăn mặc,
Khiến tâm sanh phiền não,
Lăng xăng trăm ngàn năm,
Tới lui ba ác đạo.

254 . Người đời tìm đường mây,
Đường mây bặt dấu vết,
Núi cao lắm hiểm nguy,
Khe rộng ít tiếng kêu.
Núi xanh trước và sau,
Mây trắng tây cùng đông,
Muốn biết nơi đường mây,
Đường mây tại hư không.

255 . Chỗ ẩn nơi Hàn Sơn,
Dứt tuyệt người tạp qua.
Thường gặp chim trong rừng,
Cùng ca hát rừng núi.
Cỏ lành ven khe hang,
Tùng già cao chót vót.
Hãy nhìn khách vô sự,
Dừng nghỉ tại hang núi.

256 . Năm núi đều thành bụi,
Tu di một tấc đất,
Biển lớn một giọt nước,
Nuốt vào ruộng tâm kia.
Sanh trưởng hạt Bồ Đề,
Che khắp tất cả nơi,
Nhắn anh người mến đạo,
Thận trọng chớ tự trói.

257 . Không áo tự hỏi tìm,
Chớ cùng cáo mưu áo.
Không cơm tự tìm lấy,
Chớ cùng dê mưu ngon.
Mượn da cùng mượn thịt,
Lòng than rồi lòng sầu,
Đều do nghĩa bị mất,
Ăn mặc thường chẳng đủ.

258 . Tự thích vui giữa núi,
Thong dong không gá nương.
Theo ngày dưỡng thân tàn,
Lười nghĩ không làm gì.
Thường mở kinh Phật xưa,
Luôn luôn lên lầu đá.
Nhìn xuống vách ngàn thước,
Trên có mây bàng bạc.
Trăng lạnh gió vì vèo,
Thân tợ hạc lẻ bay.

259 . Ta thấy vua Chuyển Luân,
Thiên tử thường vây quanh,
Thập thiện hóa Tứ Thiên,
Trang nghiêm nhiều bảy báu.
Thất bảo thường theo thân,
Trang nghiêm rất tốt đẹp.
Một mai phước báo hết,
Giống như cò nương lau,
Lại làm trùng cổ trâu,
Sáu thú bị nghiệp dẫn.
Huống lại các phàm phu,
Vô thường há bền lâu.
Sanh tử như vòng lửa,
Luân hồi tợ hạt mầm (6).
Chẳng biết sớm giác ngộ,
Làm người uổng già rỗng.

260 . Đồng bằng nước mênh mông,
Đơn Khâu bốn bề sáng.
Tiên Đô rất cao đẹp,
Dãy núi xanh bao bọc.
Xa xa nhìn không rõ,
Chất chồng thế nối nhau.
Riêng vươn ra gốc bể,
Nơi nơi vang tiếng khen.

(6) Hạt mầm: Hạt sanh mầm, mầm lớn thành cây, cây trổ hoa, thành quả, quả rụng xuống sanh mầm. Một vòng luân hồi không có ngày dứt.

261 . Ta thấy người thế gian,
Sống rồi cũng phải chết.
Sáng qua còn mười sáu,
Tráng khí bậc anh hùng.
Ngày nay quá bảy mươi,
Sức tàn hình tiều tụy.
Giống như hoa ngày xuân,
Sáng nở đêm rụng tàn.

262 . Ngút ngàn ngoài trời xanh,
Trong mây đường dốc đứng.
Dòng thác đổ ngàn trượng,
Như mảnh lụa trắng dài.
Dưới có hang dừng nghỉ,
Cầu định mạng bắt ngang.
Hùng dũng trấn thế giới,
Thiên Thai nổi tiếng cao.

263 . Ngồi trên mặt tảng đá,
Khe suối lạnh buốt da.
Lặng nhìn thật tuyệt đẹp,
Vách núi mây che mờ.
Vui thích chỗ ngơi nghỉ,
Trời tà bóng cây nghiêng.
Ta tự xét cõi lòng,
Bùn nhơ sen hồng nở.

264 . Ẩn sĩ lánh nhơn gian,
Phần nhiều vào núi ngủ.
Dây bò xơ xác thưa,
Tiếng khe chảy vang rền.
Nước vang lòng an lạc,
Xa vắng tự thanh nhàn.
Khỏi bị nhiễm mùi đời,
Lòng sạch như sen trắng.

265 . Nhắc nhở kẻ ăn thịt,
Đang ăn khó dừng lại.
Đời nay quá khứ gieo,
Đời sau do nay trồng.
Chỉ tham hôm nay ngon,
Chẳng sợ đời sau buồn.
Con chuột vào hũ gạo,
Tuy no khó chui ra.

266 . Sau khi xuất gia rồi,
Dần được đường nuôi sống.
Duỗi thẳng tay chân đủ,
Xét kỹ sáu căn toàn.
Áo thô theo xuân đông,
Gạo xấu dưỡng sáng chiều.
Ngày nay tu gấp rút,
Nguyện cùng Phật gặp nhau.

267 . Năm lời năm trăm thiên,
Bảy chữ bảy mươi chín,
Ba chữ hai mươi mốt,
Hết thảy sáu trăm bài.
Lệ thường viết vách đá,
Tự khoe rằng khéo tay,
Nếu hay hiểu thơ ta,
Chính là mẹ Như Lai.

268 . Việc đời sao lăng xăng,
Tham sống mãi chẳng thôi,
Nghiền hết đá quả đất,
Bao giờ được nghỉ ngơi.
Bốn mùa tuần hoàn đổi,
Tám tiết nhanh nước trôi,
Vì báo chủ nhà lửa,
Sờ sờ cởi trâu trắng.

269 . Thường nghe Hán Vũ Đế,
Và cùng Tần Thủy Hoàng.
Đều thích thuật thần tiên,
Kéo tuổi trọn chẳng dài.
Ngai vàng gẫy làm hai,
Sa Khâu liền diệt mất.
Mao Lăng cùng Ly Nhạc,
Ngày nay cỏ chen nhau.

270 . Nhớ hai mươi năm qua,
Thả bộ về Quốc Thanh,
Người trong chùa Quốc Thanh,
Thảy nói Hàn Sơn si.
Người si đâu cần nghi?
Nghi chẳng biết suy xét.
Ta còn tự chẳng biết,
Thế anh đâu được biết?
Cúi đầu chẳng cần hỏi,
Hỏi được lại là sao?
Có người đến mắng ta,
Rõ ràng biết rành rẽ,
Tuy nhiên chẳng nên đáp,
Lại là được an nhiên.

271 . Bảo ông bọn xuất gia,
Tên gì là xuất gia?
Phung phí tìm nuôi sống,
Nối tiếp dòng họ nhà.
Lưỡi ngon miệng mồm ngọt,
Tâm siểm khúc cong thêm,
Trọn ngày lễ đạo tràng,
Trì kinh làm công quả.
Đốt hương cúng Thần Phật,
Thỉnh chuông cao giọng hòa.
Sáu thời dưỡng khách xuân,
Mỗi đêm chẳng được nằm.
Chỉ vì yêu tiền tài,
Trong tâm chẳng giải thoát.
Thấy người kia đạo cao,
Ganh ghét cùng hủy nhục.
Cứt lừa sánh xạ hương,
Nam Mô Phật Đà Da!

272 . Lại thấy người xuất gia,
Có sức và vô lực.
Bậc tiết cao thượng thượng,
Quỷ thần kính đạo đức,
Vua chúa chia tòa ngồi,
Chư hầu kính lễ rước,
Đáng làm ruộng phước đời,
Mọi người nên quý tiếc.
Bậc ngu dốt hạ hạ,
Lộ bày tìm cầu nhiều,
Hỗn tạp có thể biết,
Ngu si yêu tài sắc,
Mặc được y phước điền,
Trồng lúa tìm áo cơm.
Đền trả nợ trâu cày,
Làm việc chẳng trung trực,
Sáng sớm hành tệ ác,
Về chiều đau lưng mông.
Chẳng biết khéo suy nghĩ,
Địa ngục khổ vô cùng.
Một mai bệnh đến thân,
Ba năm nằm liệt giường.
Cũng có chơn tánh Phật,
Lại làm giặc vô minh.
Nam Mô Phật Đà Da,
Xa xôi cầu Di Lặc.

273 . Hàn Nham sâu lại đẹp,
Không người đi đường này,
Mây trắng cao hang núi,
Núi xanh vượn lẻ kêu.
Ta còn thân với ai?
Sướng chí hợp tuổi già,
Hình dung nóng lạnh đổi,
Tâm châu phải giữ gìn.

274 . Bổn chí mến bạn đạo,
Bạn đạo thường được gần,
Khi gặp khách Xả Nguyên,
Thường tiếp khách lời thiền.
Bàn huyền đêm trăng sáng,
Tìm lý đến rạng đông,
Vạn cơ đều bặt dấu,
Mới biết người xưa nay.

275 . Chẳng phải kẻ ẩn dật,
Tự gọi người núi rừng.
Đâu từng quấn khăn lụa,
Chỉ thích khăn lót thô.
Nói có đức Sào Hứa,
Hổ thẹn (làm) thần Nghiêu Thuấn.
Khỉ vượn đội chiếc nón,
Bắt chước tránh gió bụi.

276 . Từ xưa người thông minh,
Chẳng thấy còn sống mãi.
Sanh ra rồi lại chết,
Tan hết thành tro bụi.
Chứa xương như Tỳ Phú.
Biệt ly lệ như biển,
Chỉ còn lại tên rỗng,
Đâu thoát vòng tử sanh.

277 . Ngày nay ngồi trước hang,
Ngồi lâu thấm khói ráng.
Một đường khe trong lạnh,
Núi xanh cao ngàn thước.
Mây sớm bóng lặng lẽ,
Ánh trăng soi về đêm.
Trên thân không bụi trần,
Trong tâm nào lo âu.

278 . Trong ngàn mây muôn nước,
Có một kẻ sĩ nhàn.
Ban ngày dạo núi xanh,
Đêm về dưới hang ngủ.
Thấm thoát qua xuân thu,
Lặng lẽ không phiền lụy.
Vui thay không gá nương?
Lặng như nước sông thu.

279 . Khuyên anh thôi đến đi,
Chớ phiền lão Diêm La,
Lỡ chân vào tam đồ,
Bị đâm nghiền xương tan.
Mãi làm người địa ngục,
Hằng cách đạo đời nay,
Khuyên anh tin lời tôi,
Biết lấy châu trong áo.

280 . Thế gian có hạng người,
Thật đáng bị người cười.
Xuất gia thân mình tệ,
Lừa tục cho là đạo.
Tuy mặc y lìa trần,
Trong áo nuôi nhiều rận.
Chi bằng về đi thôi,
Biết nhận lấy Tâm Vương.

281 . Chót vót trên đỉnh núi,
Bốn phía không mé bờ.
Ngồi tịnh chả ai biết,
Suối lạnh vầng trăng soi.
Trong suối vốn không trăng,
Trăng tự ở trời xanh.
Ngâm một khúc ca này,
Trong ca chẳng có thiền.

282 . Có kẻ Vương Tú Tài,
Cười ta thơ nhiều lỗi,
Rằng chẳng biết phong yêu, (7)
Lại chẳng hiểu hạc tất,
Bình trắc chẳng biết chán,
Lời phàm mặc tình nói.
Ta cười anh làm thơ,
Như mù tả mặt trời.

283 . Ta ở tại xóm làng,
Không cha cũng không mẹ.
Không tên chẳng họ hàng,
Người gọi là Trương Vương.
Cũng không người dạy ta,
Nghèo nàn cũng bình thường.
Tự quý tâm chơn thật,
Vững chắc như kim cương.

284 . Hàn Sơn nói lời này,
Lại tợ kẻ điên cuồng.
Có việc giáp mặt nói,
Cho nê đủ người oán.
Chơn tâm nói lời thẳng,
Tâm thẳng không trước sau.
Chết rồi vào địa ngục,
Ai là kẻ rên la?
Mờ mịt đường âm phủ,
Bị nghiệp trói cột nhau.

285 . Ta thấy người đọc kinh,
Nương theo ngôn ngữ hiểu.
Miệng đọc tâm không đổi,
Tâm miệng trái nghịch nhau.
Chơn tâm không cong queo,
Chẳng tạo điều mê lầm.
Chỉ tự xét chính mình,
Chớ tìm người khác thế.
Trong ấy làm chủ được,
Mới biết không trong ngoài.

286 . Hàn Sơn có mây trắng,
Lặng lẽ bặt bụi hồng.
Tòa cỏ cùng nhà núi,
Đèn soi một vầng trăng.
Giường đá bên ao xanh,
Hổ nai thường làm bạn.
Tự vui thích ở ẩn,
Là người ngoài tục trần.

287 . Nai sanh trong rừng sâu,
Uống nước và ăn cỏ,
Duổi chân ngủ dưới cây,
Đáng mến không phiền não.
Trói cột tại nhà đẹp,
Ăn ngon rất béo phì,
Trọn ngày chẳng từng nếm,
Hình dung càng khô khao.

288 . Hoàng oanh đậu trên hoa,
Hót líu lo đáng mến.
Người đẹp dáng tợ ngọc,
Đối cảnh khảy cung đàn.
Ngắm nhìn chẳng thỏa mãn,
Nhớ luyến thời ấu thơ.
Chim bay hoa cũng tan,
Lệ rưng trước gió xuân.

289 . Dừng lâu dưới Hàn Sơn,
Lạ lùng rất kỳ đặc.
Quảy giỏ đào rễ cây,
Mang sọt hái quả về.
Rửa rau trải cỏ ngồi,
Ăn nếm nấm linh chi.
Ao trong rửa bát bầu,
Hòa tạp nấu sơ sài.
Đương Dương sách áo ngồi,
Nhàn đọc thơ người xưa.

290 . Ngày xưa chỗ kinh hành,
Nay đã bảy mươi năm.
Người xưa không qua lại,
Chôn ở khoảng mộ xưa.
Ta nay đầu đã bạc,
Vẫn giữ mảnh mây núi.
Vì báo người đến muộn,
Sao chẳng đọc lời xưa?
(7) Phong yêu, hạc tất: Những lỗi lầm thường vấp phải khi sáng tác thơ.

291 . Ta thấy người trí sáng,
Xem qua liền hiểu ý,
Chẳng nhờ tìm văn tự,
Thẳng vào đất Như Lai.
Tâm chẳng theo các duyên,
Ý căn chẳng khởi vọng,
Tâm ý khi không sanh,
Trong ngoài không việc khác.

292 . Thân mặc y không hoa,
Chân mang giày lông rùa,
Tay nắm cung sừng thỏ,
Định bắn quỷ vô minh.

293 . Anh xem hoa trong lá,
Tươi tốt được bao lâu.
Hôm nay sợ người hái,
Sáng mai mong người quét.
Đáng tiếc tình đẹp đẽ,
Nhiều năm trở thành già,
Việc đời so với hoa,
Hồng nhan há bền lâu?

294 . Dù anh ở tê giác,
Dù anh mang mắt hổ.
Cành đào bẻ làm thuốc,
Củ tỏi lấy làm anh (lạc).
Uống rượu thì bụng ấm,
Bụng đói ăn (chè) câu kỷ.
Cuối cùng chẳng thoát chết,
Uổng công tìm trường sanh.

295 . Làm người thường ăn dùng,
Tâm ái cần khô cạn.
Già đi chẳng tự do,
Dần bị người chê trách.
Đưa đến núi Thái Sơn,
Cả đời mong vô ích,
Mất dê thôi sửa chuồng,
Ý hết về vô cùng.

296 . Hàn Sơn vách vô lậu,
Vách kia rất trọng yếu,
Người xa xưa truyền diệu.
Lặng lẽ khéo ở yên,
Rỗng không lìa chê gièm,
Trăng sáng soi suốt đêm,
Trời hồng thường chiếu đến.
Hổ Khâu và Hổ Khê,
Chẳng cần gọi mời nhau,
Thế gian có Vương Phó,
Chớ cho đồng Châu Chiêu.
Ta tự ẩn Hàn Nham,
Vui thích ca cười mãi.

297 . Sa môn chẳng giữ giới,
Đạo sĩ không uống thuốc.
Từ xưa bao nhiêu hiền,
Thảy dừng chân núi xanh.

298 . Có người cười thơ ta,
Thơ ta đồng sách tà.
Chảng phiền họ Trịnh giảng,
Đâu cần ông Mao hiểu?
Chẳng hận người hội ít.
Nếu bắt theo luật thơ,
Ta bệnh mãi không hết.
Bỗng gặp người sáng mắt.
Liền tự truyền thiên hạ.

299 . Đường Hàn Sơn,
Không người đến.
Nếu đi được,
Gọi là Phật.
Ve thường hát,
Không quạ kêu.
Lá vàng rơi,
Mây trắng quét.
Đá chồng chất,
Núi âm u.
Ta một mình,
Khéo dẫn đường.
Xem kỹ lưỡng,
Có tướng gì?

300 . Hàn Sơn lạnh,
Băng phủ đá.
Núi xanh ẩn,
Mây trắng hiện.
Mặt trời chiếu,
Đồng lúc tan.
Từ đây ấm,
Dưỡng khách già.

301 . Ta ở núi,
Người chẳng biết,
Trong mây trắng,
Thường lặng lặng.

302 . Hàn Sơn sâu,
Gọi tâm ta,
Thuần đá trắng,
Chẳng vàng ròng,
Tiếng suối vang,
Khảy Bá Cầm,
Có Tử Kỳ,
Rõ âm này.

303 . Trong vách núi,
Đủ gió mát,
Quạt chẳng động,
Khí lành thông,
Trăng sáng chiếu,
Mây trắng che,
Riêng tự ngồi,
Một ông già.

304 . Hàn Sơn Tử,
Mãi như thế,
Riêng tự ở,
Chẳng sanh tử.

305 . Ta thấy người thế gian,
Mỗi kẻ tranh ý khí.
Một mai bỗng nhiên chết,
Chỉ được một miếng đất.
Rộng một mét hai,
Dài bốn mét.
Ông nếu hiểu,
Ra đây tranh ý khí.
Ta cùng anh lập bia đá ghi.

306 . Nhà có thơ Hàn Sơn
Hơn anh xem quyển kinh.
Sách để trên bình phong,
Thường thường xem một biến.

THẬP ĐẮC

Ngài Thập Đắc, do Thiền Sư Phong Can trước đó tình cờ đi dạo núi, đến bên đường Xích Thành, nhân nghe tiếng trẻ nít khóc, liền tìm đến, gặp một đứa trẻ vài tuổi trở lại. Ban đầu Ngài cho là trẻ con của những người chăn trâu, hỏi kỹ đầu đuôi mới biết rằng: “Đứa bé không nhà bỏ ở đây”. Ngài Phong Can dẫn về chùa Quốc Thanh trao cho vị tăng Điển Tòa, và nói, nếu có ai đến nhận thì trả lại. Sau đó Sa Môn Linh Tập nhận nuôi, sai trông coi hương đăng ở trai đường. Bỗng một hôm, thấy Ngài leo lên tòa, ngồi ngang mâm đối trước tượng mà ăn, lại gọi ngài Kiều Trần Như là : “Tiểu Quả Thanh Văn”. Coi như bên cạnh không có người, cầm đũa cười to.

Tăng bèn xua đuổi. Ngài Linh Tập liền thưa lên các vị Tôn Túc, cho Ngài nghỉ việc nơi trai đường. Lại sai Ngài rửa đồ đạc trong nhà bếp. Rửa vừa xong, Ngài đãi lọc cơm canh thừa, dùng ống tre bỏ đầy trong đó, khi Hàn Sơn đến thì vác lên vai là đi. Lại ở nơi miếu Thần Hộ Già Lam, mỗi ngày thức ăn dưới nhà bếp của chúng Tăng bị chim quạ mổ lấy vun vãi. Thập Đắc lấy gậy đánh tượng hai ba cái rồi mắng rằng: “Ông ăn mà chẳng hay giữ gìn thì đâu được gọi là Hộ Già Lam ư? Đêm ấy, Thần báo mộng cùng khắp chúng Tăng trong chùa mà nói: “Thập Đắc đánh tôi”. Sáng hôm sau, chư Tăng thuật lại việc mộng đều giống hệt nhau, cả chùa xôn xao, mới biết Ngài chẳng phải người thường. Bấy giờ ở châu, quận, huyện mới thông tin xuống rằng: “Vị hiền sĩ ở ẩn, chính là hóa thân của Bồ Tát, nên biểu dương Ngài. Và gọi Thập Đắc là Hiền Sĩ. Lại, Ngài chăn trâu nơi trang sở của chùa, ca hát vang trời. Đang khi chúng Tăng trong chùa Bố Tát, Thập Đắc đuổi trâu đến trước nhà Tăng đang tụ tập, tựa cửa vỗ tay cười to nói:

- Đông đảo tụ đầu.

Khi ấy, vị Thủ Tọa trì luật quát mắng:

- Kẻ điên vì sao làm ồn ào ngăn ngại buổi thuyết giới?

Thập Đắc nói:

- Ta chẳng thả trâu. Bầy trâu đây, phần nhiều là những người trông coi việc chúng Tăng (Ban Chức Sự) trong chùa này.

Thập Đắc liền gọi pháp hiệu của mỗi vị Tăng đã mất, mỗi con trâu nghe đến tên mình liền ứng thanh mà đi qua. Cả chúng kinh ngạc, đều nghĩ, sửa đổi việc xưa kia và tu sửa lại về sau, để không phụ lòng Bồ Tát rủ lòng độ thoát. Lúc bấy giờ, Ngài Đạo Kiểng biên góp văn cú của Ngài Hàn Sơn, ở nơi miếu thổ thần thổ địa, gặp thơ kệ của Thập Đắc, liền ghép phụ chung vào thơ Hàn Sơn thành một quyển.

THƠ THẬP ĐẮC

1 . Từ khi đến chùa Thiên Thai này,
Trải qua đến nay đã bao năm?
Núi nước chẳng dời người tự già,
Thấy rõ bao nhiêu người sanh sau.
Anh thấy chăng trong tam giới nhiều phiền não,
Chỉ vì vô minh chẳng thấu suốt.
Một niệm chẳng sanh tâm lặng yên,
Không đến không đi chẳng sanh diệt.

2 . Ta thấy người ngu độn,
Tim đèn dùi Tu Di.
Con kiến gậm cây to,
Đâu biết khí lực nhỏ?
Học cắn hai cọng rau,
Nói cùng Tổ Sư đồng.
Hãy mau xin sám hối,
Từ nay lại chớ mê.

3 . Anh thấy trăng sáng rỡ,
Chiếu soi Tứ Thiên Hạ,
Tròn đầy treo hư không,
Sáng trong thật thanh thoát.
Người nói có khuyết tròn,
Ta thấy không suy giảm,
Dáng tợ châu ma ni,
Soi sáng không đêm ngày.

4 . Ta ở không chỗ nơi,
Bàng bạc lý vô vi.
Thường lên núi Niết Bàn,
Hoặc ngắm chùa Hương Lâm.
Bình thường chỉ an nhàn,
Nói chẳng dính danh lợi.
Biển đông thành ruộng dâu,
Tâm ta đâu màng đến.

5 . Tay trái nắm ly châu, (
Tay phải cầm kiếm tuệ.
Quyết bắn giặc vô minh,
Châu thần tỏa ánh sáng.
Xót thương người ngu si,
Tham ái nào biết chán?
Khi đọa vào tam đồ,
Mới biết đường hiểm nạn.

6 . Rượu Bát Nhã lạnh nhạt,
Người uống nhiều dễ tỉnh.
Ta ở núi Thiên Thai,
Phàm ngu nào thấy hình?
Thường chơi hang động sâu,
Trọn chẳng theo thường tình.
Không sầu cũng không lo,
Không nhục cũng không vinh.

7 . Thương thấy người thế gian,
Thảy đều thích ăn thịt,
Chén bàn chẳng từng cạn,
Ăn hoài nói không chán.
Hôm qua bày tiệc trai,
Sáng nay giết lục súc, (9)
Đều do nghiệp kéo lôi,
Chẳng can tình ham muốn.
Một lần tạo thiên đường,
Trăm lần tạo địa ngục,
Sứ Diêm La đến lôi,
Cả nhà thảy kêu khóc.
Bình đất vào lò nung,
Chảo dầu sôi tắm rửa,
Khi được thoát ra khỏi,
Đổi hẳn y phục anh.

8 . Xuất gia cần thanh nhàn,
Thanh nhàn tức là quý.
Thế nào người ngoài trần,
Lại vào trong trần lụy?
Một khi quên bổn tâm,
Suốt buổi đuổi danh lợi.
Danh lợi được đến thân,
Hình dung đã tiều tụy.
Huống lại người chẳng theo,
Mặc tình chí bình sanh.
Đáng thương người vô sự,
Chưa thể cười được anh.

9 . Được thân phần đoạn này,
Đáng cười hình dáng đẹp,
Khuôn mặt tợ mâm bạc,
Trong tâm đen như sơn.
Hầm heo lại giết dê,
Khoe nói ngọt như mật,
Chết rồi vào địa ngục,
Lại chớ than oan ức.

10 . Phật thương con tam giới,
Thảy là trai gái ta,
Sợ chìm hầm đen tối,
Rủ lòng thương giáo hóa,
Đều lên đạo vô thượng,
Cùng chứng đường Bồ Đề.
Dạy anh chúng sanh si,
Tâm tuệ cần giác ngộ.
( Ly châu: Hòn ngọc dưới cổ con Ly Long.
(9) Lục súc: Bò, ngựa, dê, chó, lợn, gà.

11 . Phật bỏ vui tôn vinh,
Vì thương các con ngu.
Sớm nguyện ngộ vô sanh,
Thành tựu việc Vô Thượng.
Về sau người xuất gia,
Nhiều duyên không chuyên nhất.
Chẳng đầy đủ ăn mặc,
Chui đầu vào trong chùa.
Ôi thấy người thế gian,
Vĩnh kiếp ở bờ mê.
Chẳng xét cái ý ấy,
Tu hành luống khổ nhọc.

12 . Thơ ta cũng là thơ,
Có người gọi là kệ.
Thơ kệ đều giống nhau,
Người đọc phải chín chắn.
Thong thả suy xét kỹ,
Chẳng được sanh dễ duôi.
Nương đây học tu hành,
Có lắm việc đáng cười.

13 . Thơ kệ có ngàn vạn,
Gấp rút thuật lại khó.
Nếu cần người biết nhau,
Hãy vào núi Thiên Thai.
Chỗ sâu trong núi ngồi,
Nói lý và bàn huyền.
Cùng ta chẳng thấy nhau,
Đối mặt tợ ngàn núi.

14 . Thế gian người ức vạn,
Mặt mũi chẳng giống nhau.
Xin hỏi do duyên gì,
Khiến cho phải như thế?
Mỗi người chấp thấy riêng,
Đều nói phải và quấy.
Hãy tự sửa lỗi mình,
Chớ bàn nói kia đây.

15 . Ta khuyên bọn xuất gia,
Nên biết giáo pháp sâu,
Chuyên tâm cầu xa lìa,
Lại chớ nhiễm tham dâm.
Có lắm bậc sĩ tục,
Biết quấy chẳng nhận vàng,
Nên biết chí quân tử,
Mặc tình theo thịnh suy.

16 . Hàn sơn tự Hàn Sơn,
Thập Đắc tự Thập Đắc,
Phàm ngu há thấy biết?
Phong Can lại biết nhau.
Khi thấy chẳng thể thấy,
Lúc tìm chỗ nào tìm,
Xin hỏi có duyên gì?
Hãy nói sức vô vi.

17 . Từ xưa là Thập Đắc,
Chẳng phải ngẫu nhiên xưng.
Riêng không thân quyến thuộc,
Hàn Sơn là anh ta.
Hai người tâm giống nhau,
Ai thể theo tình tục?
Nếu hỏi tuổi bao nhiêu,
Hoàng Hà bao lần trong?

18 . Nếu biết bắt con chuột,
Chẳng cần năm mèo trắng;
Nếu thể ngộ lý tánh,
Nào do gấm lụa bao.
Chân châu vào túi lác,
Phật tánh dừng bồng mao.
Một đám kẻ chấp tướng,
Dụng ý thảy không giao (dính).

19 . Dụng tâm thường rộng lớn,
Đây ắt gọi là trùm.
Tổn mình lợi nơi người,
Mới gọi là bố thí.
Về sau người chẳng biết,
Đâu thể hội nghĩa này?
Chưa tròn một tăng hèn,
Sớm định mong giàu to.

20 . Khỉ vượn còn dạy được,
Người sao chẳng vươn lên?
Xe trước đã rơi hầm,
Xe sau cần chuyển lối.
Nếu cũng chẳng hiểu đây,
Ngại anh ác giết hết.
Khi xưa là dạ xoa,
Biến đổi thành Bồ Tát.

21 . Đóng cửa riêng tạo tội,
Nghĩ sẽ khỏi tai ương,
Bị kẻ đày tớ xấu,
Chép được báo Diêm Vương.
Dù không vào chảo dầu,
Cũng phải nằm giường sắt.
Chẳng cho đày tớ thay,
Tự làm tự thân chịu.

22 . Đường Phật xưa lạnh lẽo,
Người ngu đến rồi quên.
Chỉ vì nghiệp trước nặng,
Do đó chẳng biết về.
Muốn hiểu lý vô vi,
Trong tâm chẳng vướng tơ.
Đời đời cần khổ học,
Quyết định gặp thầy ta.

23 . Người có Thiên Chơn Phật,
Gọi đó là Bảo Vương.
Ánh châu ngày đêm chiếu,
Huyền diệu rất khó lường.
Người mê thường ngơ ngáo,
Nào sợ chịu tai ương?
Chỉ tham dâm theo nghiệp,
Bọn này thật đáng thương.

24 . Xuất gia cầu xa lìa,
Thương nhớ khổ chúng sanh.
Giúp Phật để giáo hóa,
Dạy chọn đường trở về.
Nào từng biết cứu khổ?
Buông thói loạn tung hoành.
Một khi bị sa đọa,
Đều rớt xuống hầm sâu.

25 . Ta thấy người xuất gia,
Thảy thích ăn rượu thịt.
Đáng lý sanh Thiên Đường,
Lại chìm về địa ngục.
Nhớ được hai quyển kinh,
Lừa dối người thành thị,
Đâu biết người thành thị,
Nhiều người căn tánh thuần.

26 . Ôi thấy kẻ biết nhiều,
Trọn ngày uổng dụng tâm,
Đường tẻ gặp lâu la, (10)
Khinh mạn tất cả người.
Chỉ tạo nghiệp địa ngục,
Chẳng tu nhân đời sau.
Bỗng nhiên vô thường đến,
Biết chắc loạn lăng xăng.

27 . Xa xôi đường núi cao,
Muôn thước rất hiểm nguy,
Cầu đá rong rêu bao,
Thường thấy mảnh mây bay,
Thác đổ như lụa treo,
Bóng trăng rơi đầm trong,
Lại lên trên Hoa Đảnh,
Còn đợi hạc lẻ đến.

28 . Gió tùng lạnh vì vèo,
Từng mảnh ráng mây hiện.
Nhiều lớp núi bao quanh,
Mặc tình ngắm muôn dặm.
Khe đầm nước trong veo,
Thấy đáy như soi kính.
Rất quý vật đài linh,
Bảy báu không thể sánh.

29 . Bùn thêm nước vò viên,
Suy lường không lẽ thật.
Thân mộng huyễn bọt nổi,
Trăm năm được bao lâu?
Chẳng biết suy nghĩ kỹ,
Rằng sống mãi không chết.
Mong cầu chứa nhiều vàng,
Để lại cho vợ con.

30 . Đời có người biết nhiều,
Ngu si học văn suông,
Chẳng lo quả tương lai,
Chỉ biết tạo nhân ác.
Thấy Phật chẳng biết lạy,
Gặp Tăng lòng sân thêm,
Bọn ngũ nghịch thập ác,
Ba độc làm quyến thuộc.
Chết quyết vào địa ngục,
Chưa biết ngày nào ra.

(10) Lâu la: Đàn em của tướng cướp.

31 . Đáng cười suối rừng này,
Nhiều dặm thiếu bóng người.
Mây từ núi xanh bay,
Thác đổ nước thì thào.
Vượn kêu hát khúc đạo,
Hổ gầm thoát nhơn gian,
Gió tùng nhè nhẹ mát,
Tiếng chim kêu lảnh lót.
Riêng bước quanh khe đá,
Một mình trèo núi cao.
Thường ngồi trên mỏm đá,
Nằm ngửa vịn dây leo.
Xa trông về thành đô,
Chỉ nghe tiếng ồn ào.

32 . Tự cười lão phu gân sức tàn,
Riêng luyến tùng núi thích dạo chơi,
Thở than năm qua đến ngày nay,
Mặc tình lại đồng thuyền không neo.
Không đến không đi vốn lặng lẻ,
Chẳng kẹt trong ngoài và khoảng giữa.
Một viên thủy tinh bặt vết tỳ,
Ánh sáng tràn đầy thoát nhơn gian.

33 . Mây núi chất chồng mấy ngàn lớp,
Hang tối đường sâu bặt bóng người.
Khe xanh dòng trong nhiều thắng cảnh,
Thời tiết chim kêu hợp lòng người.

34 . Tam giới (như) bánh xe quay,
Cuộc đời như nước chảy.
Lúc nhúc các chủng loài,
Tham sống không biết chết.
Anh xem sương sớm đọng,
Thời gian được bao lâu.

35 . Lăng xăng người trong thành,
Thường vui thú trong trần.
Ta thấy người trong ấy,
Tâm phần nhiều xót thương.
Vì sao thương bọn này,
Nhớ kia trong trần khổ.

PHỤ LỤC
THƠ PHONG CAN

Ta tự đến Thiên Thai,
Từng trải bao lần về.
Một thân như mây nước,
Xa xôi mặc đến đi.
Tiêu diêu bặt ồn náo,
Quên cơ lên Phật đạo.
Tâm thế gian nhiều mối,
Chúng sanh lắm phiền não.
Ngơ ngáo chìm biển sóng,
Trôi nổi quanh tam giới.
Đáng tiếc một vật linh,
Từ lâu bị cảnh vùi.
Điện chớp bỗng nhiên khởi,
Sanh tử dấy bụi hồng.
Hàn Sơn riêng hỏi nhau,
Thập Đắc thường qua lại.
Bàn tâm nói trăng sáng,
Hư không rỗng không ngăn.
Pháp giới tức vô biên,
Một pháp trùm tất cả.
Xưa nay không một vật,
Cũng không bụi để phủi.
Nếu hay thấu suốt đây,
Chẳng cần ngồi ngơ ngáo.

PHONG CAN

Phong Can chẳng biết người ở đâu. Niên hiệu Trinh Quán đời nhà Đường, Sư đến ở chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai, cắt tóc ngang mày, mặc áo vải rách, có ai hỏi lý Phật, chỉ đáp hai chữ “tùy thời”. Thường xướng đạo, cởi cọp ra vào, chúng Tăng đều kinh sợ chẳng ai dám nói chuyện với Sư. Có Hàn Sơn, Thập Đắc chơi thân với Phong Can.

Một hôm, Hàn Sơn hỏi Phong Can rằng:

- Gương xưa chẳng lau, làm sao chiếu soi?
- Đài băng không hình bóng. Khỉ vượn mò bóng trăng.
- Đây là chẳng chiếu soi, thỉnh Sư nói thêm.
- Muôn đức chẳng đem đến, bảo ta nói cái gì?

Hàn Sơn, Thập Đắc đều làm lễ. Phong Can bảo Hàn Sơn:

- Ông đi dạo Ngũ Đài Sơn với ta thì là bạn ta; nếu không đi không phải bạn ta.
- Tôi không đi.
Phong Can nói:
- Ông chẳng phải bạn ta.
Hàn Sơn hỏi Phong Can:
- Ông đi Ngũ Đài Sơn làm gì?
- Ta đi lễ Văn Thù. Ông không phải bạn của ta.
Phong Can đi Ngũ Đài một mình. Gặp một ông già, Phong Can hỏi:
- Có phải là Văn Thù không ?
- Há có hai Văn Thù?
Phong Can liền làm lễ. Chợt ông già biến mất. Sau Phong Can trở về núi Thiên Thai thị tịch.
Hàn Sơn nhân chúng Tăng đang nướng cà, bèn lấy xâu cà đánh vào lưng một vị Tăng, Tăng quay đầu lại. Hàn Sơn đưa xâu cà hỏi:
- Là cái gì?
Tăng nói:
- Gã điên này!
Hàn Sơn hỏi Tăng bên cạnh:
- Ông nói xem ông Sư này tốn bao nhiêu tương muối?

Triệu Châu đến Thiên Thai, đi thấy dấu chân trâu. Hàn Sơn hỏi:

- Thượng Tọa lại biết trâu chăng? Đâu là năm trăm La Hán dạo núi.
- Đã là La Hán vì sao lại làm trâu?
Hàn Sơn nói:
- Trời xanh! Trời xanh!
Triệu Châu cười ha ha.
Hàn Sơn nói:
- Cười cái gì?
Triệu Châu nói:
- Trời xanh! Trời xanh!
Hàn Sơn nói:
- Chú tiểu nhỏ này lại có tư cách đại nhân.
Thập Đắc đang quét sân, chủ chùa hỏi:
- Ngươi họ gì? Ở đâu?
Thập Đắc buông chổi, vòng tay đứng.
Chủ chùa mờ mịt.
Hàn Sơn đấm ngực nói:
- Trời xanh! Trời xanh!
Thập Đắc hỏi:
- Ông làm gì vậy?
Hàn Sơn nói:
- Há không nghe nói nhà phía Đông có người chết, nhà phía Tây buồn lây sao!

Rồi vừa múa vừa cười khóc mà đi ra.

Thập Đắc lại chăn trâu ở Trang xá ca vịnh kêu trời rằng:

- Ta có một hạt châu, chôn ở trong ấm giới, không một ai biết cả.

Hết tập thơ HÀN SƠN THẬP ĐẮC

Source: Thiền Tông Việt Nam


IMG_5117


Phái đoàn chụp hình lưu niệm bên bia đá bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc (xem tiếp)

----o0o---

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/06/201313:06(Xem: 2705)
Bạch Thầy, chúng con bao lâu nay tâm nguyện và mơ ứớc có được đủ duyên lành về thăm viếng và chim bái quê hương Đấng Từ phụ Thích Ca Mâu Ni, nay ước mơ đó đã thành hiện thực.
21/06/201316:21(Xem: 2584)
Công đức của Thầy dẫn dắt các Phật tử hành hương chiêm bái Phật tích Ấn Độ- Nepal – Đài Loan 2008 thật vô lượng, không thể diễn tả hết bằng ngôn ngữ của chúng sinh.
24/06/201316:14(Xem: 3084)
Một buổi sáng có mưa sa Linh Sơn Đại Phật Di Đà hiện ra Bóng Ngài mờ ảo xa xa Đến gần nhìn rõ lòng ta bồi hồi Trời quang mưa tạnh tức thời Nhìn Ngài phúc hậu môi cười xinh xinh.
02/03/201222:38(Xem: 1270)
Trên đường đến Linh Thứu sơn thuộc thành Vương Xá, nay là Rajgir, cách trường đại học Na Lan Đà khoảng 1500 m, đoàn chúng tôi có viếng thăm nhà kỷ niệm ngài Huyền Trang (Huyền Trang Kỷ Niệm Đường) mặc dù ngoài trời mưa vẫn còn nặng hạt...
19/06/201312:04(Xem: 4684)
Phái đoàn tuân thủ đúng theo quy định giờ giấc: 4-5-6, tức có nghĩa là thức chúng 4 giờ sáng, 5 giờ điểm tâm và 6 giờ lên xe, dường như hầu hết thời gian ở Ấn Độ phái đoàn đều áp dụng đúng thời khóa này, dù khó khăn cho nhiều đệ tử.
25/06/201319:16(Xem: 2765)
Châu Hoằng đại sư, tự Phật Huệ, hiệu Liên Trì, người đời Minh, con nhà họ Trầm, ở xứ Nhân Hòa tại Hàng Châu. Năm mười bảy tuổi ngài đã được bổ làm Giáo thọ, nổi tiếng là người học hạnh kiêm toàn.
24/06/201317:10(Xem: 2403)
Đất nước Trung Quốc rộng lớn, mà Tứ Đại Danh Sơn lai nằm trên 4 tỉnh cách nhau rất xa, nên khí hậu ở mỗi nơi nóng lạnh khác nhau, do đó chúng ta phải chịu đựng tình trạng hôm nay nóng, ngày mai lạnh.
10/04/201710:51(Xem: 1482)
Khác với vẻ cằn cỗi như sa mạc, Ladakh đến gần đẹp như một bức tranh vẽ với những đỉnh núi tuyết phủ trắng xóa, bao quanh mây phủ. Ladakh là vùng đất nằm rìa Tây Tạng, thuộc bang Jammu và Kashmir, Ấn Độ. Với khí hậu trong lành và vẻ đẹp nguyên sơ, Ladakh thu hút du khách bởi bầu trời trong xanh, núi băng trắng và những cơn gió lạnh mơn man làn da. Tại đây, bạn có thể cảm thấy như được nằm gọn trong vòng tay của thiên nhiên.
19/06/201311:19(Xem: 2864)
Bảo Tháp Chuyển Pháp Luân tại Vườn Lộc Uyển - Sanarth nơi Đức Phật lăn chuyển bánh xe Pháp đầu tiên.
10/07/202015:54(Xem: 848)
Chính phủ Nhật đầu tư 12,5 tỷ USD để mời bạn đến du lịch Do chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh viêm phổi Vũ Hán, số lượng du khách đến Nhật du lịch giảm mạnh. Vì thế chính phủ Nhật đã đề ra một phương án là đầu tư gói 12,5 tỷ USD để phục hồi ngành du lịch, trong đó bao gồm chi trả một phần chi phí cho du khách nhằm thu hút họ đến nước này.