Thạch Quật Am và Phật Quốc Tự Di sản Di sản Thế giới tại Hàn Quốc

10/2/202309:20(View: 10943)
Thạch Quật Am và Phật Quốc Tự Di sản Di sản Thế giới tại Hàn Quốc

Thạch Quật Am và Phật Quốc Tự Di sản Di sản Thế giới tại Hàn Quốc

(Seokguram Grotto and Bulguksa Temple)

 

Được thành lập vào thế kỷ thứ 8, việc xây dựng bắt đầu vào năm 742, Thạch Quật Am (석굴암, nghĩa là Am hang đá) là một Cổ Am và một phần của phức hợp Phật Quốc Tự. Nó nằm cách bốn km về phía đông của ngôi đại già lam cổ tự trên núi Tohamsan, ở Gyeongju, Hàn Quốc, gian chính hình tròn thờ tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cao 3,5m với tư thế Xúc địa thủ ấn (Bhumistarsa Mudra), pho tượng hoành tráng đang nhìn ra biểnvà gian phụ cách đó một lối đi là nơi thực hiện nghi thức cầu nguyện. Kiến trúc này phản ánh rõ quan niệm “trời tròn, đất vuông” của người Silla xưa.

 

Xung quanh các bức tường tại đây còn khắc hình Mật Tích Kim Cương lực sĩ, Tứ Thiên Vương đóng vai trò bảo hộ Phật pháp và 39 hình ảnh các vị Phật, Bồ Tát và đệ tử trong buổi truyền giảng kinh Phật, tất cả đều được điêu khắc chân thực và tinh tế trên các bức phù điêu cao thấp, được coi là một kiệt tác của nghệ thuật Phật giáo ở Viễn Đông. Ngôi già lam Phật Quốc tự (불국사) (được kiến tạo vào năm 774) và Thạch Quật Am tạo thành một quần thể kiến trúc tôn giáo có ý nghĩa đặt biệt.

 

Giá trị Nổi bật Toàn cầu

   Tổng hợp ngắn gọn

 

Được kiến tạo vào thế kỷ thứ 8 dưới triều đại Silla (신라), toạ lạc trên sườn núi Tohamsan, Thạch Quật Am và Phật Quốc Tự tạo thành một quần thể kiến trúc tôn giáo có ý nghĩa đặc biệt.

 

Năm 528, Pháp Hưng Vương (법흥왕, trị vì 514–540) dựng lên một ngôi am nhỏ cầu nguyện cho Hoàng hậu vào thời điểm này, nhưng sau đó rơi vào quên lãng và rơi vào hư hỏng. Ngôi đại già lam cổ tự hiện tại đã được quan Đại thần triều đại Silla, Kim Đại Thành (김대성, 700-774) đã khởi xướng và giám sát việc xây dựng ngôi đại già lam Phật Quốc tự và Thạch Quật Am, ngôi già lam trước được kiến tạo để tưởng nhớ song thân phụ mẫu ông trong kiếp hiện tại và ngôi già lam sau để tưởng niệm song thân phụ mẫu từ kiếp trước. Hoàn thành vào thời Cảnh Đức Vương (경덕왕, trị vì 742-765) năm 774.

 

Thạch Quật Am là một hang động nhân tạo được xây dựng bằng đá granit bao gồm một tiền sảnh, một hành lang và một nhà vòm tròn chính. Gian chính hình tròn thờ tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cao 3,5m với tư thế  Xúc địa thủ ấn (Bhumistarsa Mudra), pho tượng hoành tráng đang nhìn ra biểnvà gian phụ cách đó một lối đi là nơi thực hiện nghi thức cầu nguyện.

 

Xung quanh các bức tường tại đây còn khắc hình Mật Tích Kim Cương lực sĩ, Tứ Thiên Vương đóng vai trò bảo hộ Phật pháp và 39 hình ảnh các vị Phật, Bồ Tát và đệ tử trong buổi truyền giảng kinh Phật, tất cả đều được điêu khắc chân thực và tinh tế trên các bức phù điêu cao thấp, được coi là một kiệt tác của nghệ thuật Phật giáo ở Đông Á. Trần mái nhà vòm tròn và lối vào hành lang sử dụng một kỹ thuật xây dựng sáng tạo liên quan đến việc sử dụng hơn 360 phiến đá.

 

Phật Quốc Tự là một quần thể tự viện Phật giáo, bao gồm một loạt các toà nhà bằng gỗ trên các bậc thang bằng đá nhô cao. Khuôn viên ngôi Phật Quốc Tự được chia thành ba khu vực - Điện Phật Tỳ Lô Giá Na (비로자나불전), Đại Hùng Bảo điện (대웅전) và Điện Cực Lạc (극락전). Những khu vực này và các bậc thang bằng đá được thiết kế để đại diện cho cõi Tịnh độ của Đức Phật. Những bậc thang bằng đá, những chiếc cầu và hai ngôi Bảo tháp - Tháp thờ Phật Thích Ca (석가탑) và tháp thờ Đa Bảo Như Lai (다보탑) – đối diện với Đại Hùng Bảo điện chứng thực cho công trình xây dựng tinh xảo của triều đại Silla.

 

Tiêu chí (i): Thạch Quật Am, với pho tượng Phật được bao quanh bởi các vị Bồ tát, Thập đại đệ tử của Đức Phật, tám vị Thần Thánh Thủ Hộ, nhị vị Thiên Thần và nhị vị Thần Kim Cương Hộ pháp đều được chạm khắc từ đá granit trắng, một kiệt tác của Nghệ thuật Phật giáo Đông Á.

 

Tiêu chí (iV): Thạch Quật Am, với hang động nhân tạo và các tác phẩm điêu khắc bằng đá, cùng với ngôi đại già lam Phật Quốc Tự có kiến trúc bằng gỗ và các bậc thang bằng đá, một ví dụ nổi bật về kiến trúc tôn giáo đạo Phật phát triển mạnh ở ở Gyeongju, thủ đô của Vương quốc Silla vào thế kỷ thứ 8, như một biểu hiện vật chất của tín ngưỡng Phật giáo.

 

Tính Trung thực

 

Thạch Quật Am mô tả sự giác ngộ của Đức Phật và ngôi đại già lam Phật Quốc Tự biểu tượng cho Chủ nghĩa xã hội không tưởng của Phật giáo đang hình thành trong thế giới trên mặt đất. Hai địa điểm tâm linh được liên kết chặt chẽ về mặt vật lý, lịch sử và văn hoá và tất cả các thành phần chính của chúng đều nằm trong ranh giới của tài sản.

 

Các mối đe doạ đáng kể nhất của Thạch Quật Am phải đối mặt là độ ẩm và ngưng tụ hơi nước, gây ra sự phát triển của nấm mốc, nấm mốc sương và rêu phong. Thiệt hại do thời tiết đối với các tác phẩm điêu khắc bằng đá là một mối đe doạ khác. Việc xây dựng mái vòm tròn bằng bê tông từ năm 1913 đến năm 1915 dẫn đến tích tụ độ ẩm và thấm nước. Một mái vòm tròn bằng bê tông thứ hai được đặt trên mái vòm tròn hiện tại vào những thập niên 1960, để tạo ra không gian 1,2 m giữa chúng, kiểm soát và điều chỉnh luồng không khí, giảm sự hình thành của nấm mốc và ngăn ngừa thiệt hại về khí hậu. Một phòng chờ bằng gỗ cũng được thêm vào bên trong hang động được niêm phong bằng một bức tường kính để bảo vệ du khách và sự thay đổi nhiệt độ.


thach quat am (2)thach quat am (4)thach quat am (5)thach quat am (6)thach quat am (7)thach quat am (8)thach quat am (9)thach quat am (10)thach quat am (11)thach quat am (12)thach quat am (13)


 

Những thay đổi từ những thập niên 1913-1915 đối với cấu trúc ban đầu của Thạch Quất Am và những sửa đổi tiếp theo để giải quyết các vấn đề do những tác động bên ngoài gây ra cần được nghiên cứu thêm. Kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm, sự xâm nhập của nước được theo dõi và quản lý cẩn thận, đồng thời thực hiện các biện pháp giảm thiểu theo yêu cầu.

 

Các mối đe doạ chính đối với các bộ phận xây dựng của ngôi đại già lam Phật Quốc Tự là mưa axit, ô nhiễm, sương mù mặn có nguồn gốc từ Biển Đông và rêu trên bề mặt khối xây. Những mối đe doạ này liên tục được theo dõi và nghiên cứu.

 

Hoả hoạn là mối đe doạ lớn nhất đối với sự toàn vẹn của các toà nhà bằng gỗ của ngôi đại già lam Phật Quốc Tự, kêu gọi các hệ thống phòng ngừa và giám sát tại địa điểm văn hoá tâm linh này.

 

Tính Xác thực

 

Chính pho tượng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cao 3,5m với tư thế Xúc địa thủ ấn và hầu hết các tác phẩm điêu khắc bằng đá vẫn giữ nguyên hình dạng ban đầu. Do sự sụp đổ một phần của trần vòm nhà tròn, toàn bộ Thạch Quật Am đã được tháo dỡ và xây dựng lại, được bao phủ bởi một mái vòm tròn bê tông từ đầu thế kỷ 20 những thập niên 1913-1915. Một mái vòm tròn bê tông thứ hai đã được bổ sung vào những thập niên 1960. Những biện pháp mạnh mẽ này đã làm giảm tính xác thực của hình thức hang động và vật liệu của nó ở mức độ thấp hơn, mặc dù vào thời của chúng chúng ta có thể chấp nhận được và khi đối mặt với tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Không có thay đổi nào về chức năng và kích thước của hang động.

 

Các cấu trúc xây dựng bên trong ngôi đại già lam Phật Quốc Tự vẫn giữ nguyên hình dạng ban đầu, chỉ mới được sửa chữa một phần. Cá toà nhà bằng gỗ đã được sửa chữa và phục hôi nhiều lần kể từ thế kỷ 16. Tất cả các công việc trùng tu và sửa chữa đều dựa trên nghiên cứu lịch sử và đã sử dụng các vật liệu, kỹ thuật truyền thống.

 

Yêu cầu bảo vệ và quản lý

 

Thạch Quật Am đã được chỉ định là Quốc bảo Hàn Quốc và – ngôi đại già lam Phật Quốc Tự đã được chỉ đinh là Địa điểm Lịch sử theo Đạo luật Bảo vệ Di sản Văn hoá. Bất kỳ thay đổi nào đối với hình thức hiện có của địa điểm văn hoá tâm linh này đều cần có sự cho phép. Chúng được bao gồm trong ranh giới của Vườn quốc gia Gyeongju, trong đó có những hạn chế xây dựng mới. Một khu Bảo vệ Môi trường Văn hoá Lịch sử dài 500 mét từ ranh giới của địa điểm cũng đã được thiết lập, trong đó tất cả các công việc xây dựng phải được phê duyệt trước.

 

Ở cấp quốc gia, Cục Quản lý Di sản Văn hoá (CHA) chịu trách nhiệm thiết lập và thực thi các chính sách bảo vệ tài sản và vùng đệm, phân bổ nguồn tài chính để bảo tồn. Thành phố Gyeongju chịu trách nhiệm trực tiếp giám sát việc bảo tồn và quản lý tài sản, phối hợp với Dịch vụ Công viên Quốc gia Hàn Quốc, trong khi ngôi đại già lam Phật Quốc Tự chịu trách nhiệm quản lý hàng ngày. Giám sát thường xuyên hàng ngày được thực hiện và giám sát chuyên nghiệp chuyên sâu được thực hiện trên cơ sở 3 đến 4 năm.

 

Công việc bảo tồn được thực hiện bởi các Chuyên gia Bảo tồn Di sản Văn hoá, những người đã vượt qua các Kỳ thi Chứng chỉ Quốc gia trong các lĩnh vực chuyên môn cá nhân của họ. Một chiếc quạt thông gió trong Thạch Quật Am, có độ rung gây rủi ro, đã được gỡ bỏ và số lượng du khách được kiểm soát hợp lý. Bên trong ngôi đại già lam Phật Quốc Tự, mưa axit, ô nhiễm, sương muối có nguồn gốc từ Biển Đông và rêu bám trên bề mặt đá được theo dõi cẩn thận và các phương pháp giảm thiểu các vấn đề đang được nghiên cứu liên tục. Để đảm bảo các cấu trúc bằng gỗ của ngôi đại già lam cổ tự này khỏi hoả hoạn, Hệ thống ngăn ngừa rủi ro hoả hoạn tổng thể đã được triển khai cho ngôi đại già lam Phật Quốc Tự và camera quan sát được lắp đặt ở nhiều điểm khác nhau trong ngôi đại già lam cổ tự này.

 

Việt dịch: Thích Vân Phong

Nguồn: UNESCO World Heritage Centre

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
10/24/2021(View: 4934)
Thủ tướng Thái Lan Prayut Chan-o-cha cho biết, bắt đầu từ ngày 1 tháng 11 tới, Vương quốc Phật giáo này sẽ mở cửa chào đón du khách thập phương hành hương từ 46 quốc gia, thay vì trước đây chỉ công bố 10 quốc gia có nguy cơ thấp bởi dịch Covid-19.
10/24/2021(View: 5596)
Hôm thứ Tư, ngày 20 tháng 10 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Ấn Độ Narendra Modi đã phát biểu miêu tả rằng: "Đức Phật là nguồn cảm hứng cho Hiến pháp Ân Độ đến tận ngày nay; Đức Phật luôn Ngự trong tâm hồn của nhân loại và kết nối các nền văn hóa và quốc gia khác nhau."
9/23/2021(View: 7826)
Bài Khảo Luận nầy nay đã in lại và trở thành CHƯƠNG MỘT của tác phẩm nầy. Chương hai có tựa đề là: VIỆT NAM PHẬT GIÁO TRUYỀN QUA TRUNG QUỐC. Những chương khác nghiên cứu về Phật, Bồ Tát, các Kinh, Luận...là những Kinh, Luận, Bồ Tát... rất uyên thâm, nỗi tiếng, tiêu biểu cho Giáo Lý Phật Giáo của tất cả các tông phái Phật Giáo đang hành đạo tại Việt Nam. Phần cuối của tác phẩm là những phụ lục. Trong đó 3 phụ lục đầu là 3 bài tham luận đã thuyết trình trong 3 lần hội thảo quốc tế, có ghi rõ thời gian và nơi chốn hội thảo. Những phụ lục còn lại là những bài khảo luận nghiên cứu về giáo lý Phật Giáo. Như vậy xét về nội dung tác phẩm nầy không phải là sách chuyên khảo cứu về Lịch Sử Du Nhập và Truyền Thừa của Phật Giáo Việt Nam. Mục đích của tác giả là muốn cho thế hệ người Việt Nam trẽ lưu tâm nghiên cứu sâu, tìm hiểu, phát huy những điểm son lịch sử hào hùng của Dân Tộc Việt, viết lên cho thế giới biết Dân Tộc Việt Nam có lịch sử Hào Hùng, Minh Triết về mọi thời đại, mọi lãnh vực tro
3/31/2021(View: 21786)
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
1/18/2021(View: 13970)
Trong cộng đồng nhân loại, bất cứ chủng tộc nào, có tinh thần độc lập, có ý chí tự cường, có lịch sử đấu tranh lâu dài thì chủng tộc đó nhất định có sáng tạo văn hóa để thích ứng với mọi hoàn cảnh địa lý, với những điều kiện thực tế để tự cường, sinh tồn và phát triển. Dân tộc Việt Nam là một chủng tộc có ngôn ngữ riêng biệt thuần nhất, có nền văn hóa nhân bản đặc thù, siêu việt và nền văn hóa này có khả năng chuyển hóa, dung hợp tinh ba của tất cả nền văn hóa nhân loại biến thành chất liệu sống và ý nghĩa sự sống bồi dưỡng cho sanh mệnh dân tộc mang tánh chất Rồng Tiên nẩy nở phát triển và trường tồn bất diệt trải dài lịch sử hơn bốn ngàn năm văn hiến kể từ khi lập quốc cho đến ngày nay. Đặc tánh Rồng Tiên, theo Hai Ngàn Năm Việt Nam Và Phật Giáo của Lý Khôi Việt, trang 51 giải thích: Rồng tượng trưng cho hùng tráng dũng mãnh tung hoành, Tiên biểu tượng cho thanh thoát cao quý, hòa điệu. Vì có khả năng chuyển hóa và dung hợp của nền văn hóa Việt Tộc (Chủng Tộc Việt Nam), dân tộc Việ
9/13/2020(View: 20347)
Thiền viện tọa lạc dưới chân núi Bạch Mã, khu vực hồ Truồi, xã Lộc Hòa, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ở độ cao 1.450m, cách biển Đông 5km đường chim bay, nhiệt độ trung bình 200C, Bạch Mã là nơi có khí hậu mát mẻ, lý tưởng cho việc tu tập của Tăng, Ni, Phật tử và các chuyến tham quan, chiêm bái của du khách. Tên thiền viện lấy theo tên núi Bạch Mã. Chữ “Trúc Lâm” hàm ý đến dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, một dòng thiền mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và mang tính nhập thế.
3/25/2020(View: 12887)
Vào năm 325 trước Công nguyên, Quốc vương của Macedonia, Alexandros Đại đế (Tại vị 336 - 323 TCN) đã chinh phục Đế chế Ba Tư, bao gồm cả Tiểu Á, Syria, Phoenicia, Gaza, Ai Cập, Bactria và Lưỡng Hà và mở rộng biên cương đế chế của ông đến xa tận Punjab thuộc Ấn Độ ngày nay, và thông tin về Phật giáo đã đến với phương Tây từ đó. Nhưng sự việc đã diễn ra trực tiếp giữa Phật giáo và triết học phương Tây và tư tưởng tôn giáo chủ yếu là ở Vương quốc Ashoka Maurya (274-236 TCN).
3/5/2020(View: 11662)
Trong những quốc gia nói tiếng Tây Ban Nha, Phật Giáo nằm ngay giữa bối cảnh lịch sử Thiên Chúa Giáo. Mối quan hệ giữa hai nền văn hóa tôn giáo – Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo – phủ lên một hình ảnh bao quát: từ chủ nghĩa bài xích nhau đến đối thoại hiệu quả, chuyển qua các cấp độ đa dạng của sự lãnh đạm nhau. Liên quan đến hai truyền thống tâm linh, Ana Maria Schlüter Rodés biểu hiện những gì bà gọi một cách chính xác là “song ngữ tôn giáo.” Trong cuộc phỏng vấn với Daniel Millet Gil từ Buddhistdoor Global được dịch sang Anh ngữ và đăng trên trang mạng www.buddhistdoor.net hôm 27 tháng 2 năm 2020, Ana Maria nói về con đường tâm tinh và thực hành Thiền của bà trong bối cảnh Thiên Chúa Giáo.
2/20/2020(View: 7049)
Lịch sử Phật Giáo thường rất mù mờ. Hơn nữa, những chuyện của khoảng 2 ngàn năm trước đã quá xa xưa, rất khó kết luận chắc nịch được.
2/13/2020(View: 14347)
Sau khi Đức Phật thành đạo, ánh sáng giác ngộ của Ngài đã chiếu khắp mọi nơi, hàng vạn người dân Ấn, từ sĩ, nông, công, thương, mọi tầng lớp của xã hội Ấn đều thừa hưởng được kết quả giác ngộ của Ngài. Đến cuối đời của Ngài, Chánh pháp đã có mặt ở khắp Ấn Độ và lan tỏa đến các quốc gia láng giềng. Từ hạ lưu của sông Hằng đi về phía Đông, phía Nam tới bờ sông Caodaveri, phía Tây tới bờ biển Á-rập, phía Bắc tới khu vực Thaiysiro, đâu đâu cũng có sự ảnh hưởng của giáo lý Phật-đà, và người dân nơi ấy sống trong sự hòa bình và hạnh phúc. Trong triều đại của Hoàng Đế Asoka thuộc Vương Triều Maurya (thế kỷ thứ III trước TL), Phật giáo đã bắt đầu truyền bá sang các vùng biên giới của đại lục.