Danh từ Ấn, Hồi

06/01/201206:49(Xem: 8736)
Danh từ Ấn, Hồi

LỊCH SỬ VĂN MINH ẤN ĐỘ 

Tác giả: Will Durant - Nguyễn Hiến Lê dịch

DANH TỪ ẤN, HỒI

do Pháp phiên âm
(Chúng tôi bỏ bớt một số danh từ ít gặp trong sách)

A

Abhidamma
: Luận, một trong tam tạng của Phật giáo.

Açoka
[Ashoka]: (A Dục) một trong những ông vua đầu tiên theo đạo Phật và làm cho đạo đó phát triển mạnh, ở thế kỉ thứ III trước Công nguyên.

Adrishta
: Vô kiến

Advaitam
: bất nhị nguyên

Ahimsa
: giới luật bất tổn sinh (không được làm thương tổn tới sinh mạng của một loài nào), ta thường dịch là bất bạo động, hoặc bất hại.

Ajur veda
: phép trường sinh chỉ trong Arthava Veda.

Akbar
: (A Cách Bá) một ông vua gốc Mông Cổ cai trị Ấn, rất có tài, ở thế kỉ XVI.

Amida
: Phật A Di Đà.

Ananda
: khánh hỉ tức cảnh vĩnh phúc khi đã đại giác, thấy mình với Đại Ngã chỉ là một. Cũng là tên một môn đệ thân tín của Phật Thích Ca, theo truyền thuyết có công đầu chép lại lời dạy của Phật; tiếng Hán là A Nan.

Aranyaka
: một phần trong các kinh Veda.

Arhat
: La Hán, trong đạo Phật. Trong đạo Jaïn, trỏ một linh hồn đã được giải thoát vĩnh viễn.

Asana
: (tư thế) giai đoạn thứ ba để tu yoga: bỏ hết mọi cử động, cảm giác.

Ashrama
: giai đoạn tu hành theo Bà La Môn để tới bực thánh.

Astika
: hữu (trái với vô).

Atharva Veda
: Coi Veda.

Atman
: linh hồn của mọi linh hồn, tức cái Đại Ngã. Atman với Brahman chỉ là một.

Avalokiteshvara
: một vị thần từ bi trong Ấn Độ giáo[1].

Avidya
: vô minh (không sáng suốt, mê muội).



B

Bengali: một ngôn ngữ văn chương ở miền Bengale.

Bhakti-yoga
: con đường tu hành bằng từ ái.

Bhagavad Gita
: trường thi triết lí danh tiếng nhất của Ấn, người Trung Hoa dịch là Bát Già Phạn khúc.

Bhikkhu
: tì khưu.

Bodhi: cây bồ đề.

Bodhisattwa
: Phật Bồ Tát, tự nguyện đầu thai để cứu nhân loại.

Brahma
: Phạn Thiên, một trong ba vị thần tối cao.

Brahmana
: Phạn chí, sách lễ của đạo Bà La Môn.

Brahmane
[Brahman]: Bà La Môn, trỏ một tập cấp tu sĩ và đạo của các tu sĩ đó, đạo này có trước Phật giáo, rất phổ biến ở Ấn.

Brahman
: Thực thể của vũ trụ, linh hồn của mọi vật (nhiều sách thường dùng lẫn lộn Brahma với Brahman).
Bhrama-chary[2]
: giai đoạn tu hành thứ nhất của Bà La Môn khi chưa có vợ.

Bhramacharya
: nguyện vọng của người tu hành, bỏ hết nhục dục, giữ cho mình thanh khiết.

Bhrama-somaj
: Hội Brahma, một phong trào cải lương ở thế kỉ XIX.

Buddhi
: trí năng.


CH

Chaïtya
[Chaitya]: phòng hội họp trong các chùa, đền.

Charka
: guồng quay sợi.

Charvaka
: một phái duy vật ở Ấn.




D

Darshana
: tên gọi chung các triết hệ chính thống ở Ấn.

Devadasi
: ca vũ nữ mà cũng là con gái điếm trong các đền Ấn.

Devadatta
: (Đề Bà Đạt Đa) em bà con của Phật.

Dharana
: giai đoạn thứ sáu để tu yoga: thiền.

Dharma
: bổn phận thuộc mỗi tập cấp.

Dhyana
: giai đoạn thứ bảy để tu yoga: định.

Digambara
: một phái trong đạo Jaïn, chủ trương khoả thân.

Dravidien
[Dravidian]: thổ dân ở Nam Ấn.




F

Fakir
: từ ngữ này gốc Ả Rập, chính nghĩa là nghèo, mới đầu trỏ một hạng tu sĩ Hồi nguyện sống nghèo, sau trỏ cả những tu sĩ yoga[3].



G

Gandhara
: tên một miền mà cũng là một phái điêu khắc chịu ảnh hưởng của Hi Lạp.

Gautama
: Cồ Đàm, thị tộc của Phật Thích Ca.

Gopuram
: cửa chính trong các đền Ấn.

Grihastha
: giai đoạn tu hành thứ nhì của Bà La Môn khi có vợ.

Guna
: khả năng biến hoá.

Gupta
: tên một miền ở Ấn rất thịnh, rất văn minh trong các thế kỉ thứ IV, V; cũng trỏ nền văn minh đó.

Guru
: thầy, phu tử; mỗi trẻ em Ấn theo học một guru từ nhỏ tới khoảng 20 tuổi, phải phục vụ guru cũng như hồi xưa chúng ta phục vụ các thầy đồ.



H

Hinayana
: Tiểu thặng, cũng gọi là Tiểu thừa (tiếng Pháp dịch là Petit véhicule).

Hindi
: một thổ ngữ quan trọng ở Ấn.

Hindoustani
[Hindustani]: một thổ ngữ từ thổ ngữ hindichuyển qua.


I

Inana-yoga
[Jnana-yoga]: con đường tu hành bằng trầm tư.

Ishvara
: đấng Sáng tạo, cũng tức là Brahman.



J

Jaïn
[Jain]: (Kì Na giáo) một tôn giáo đồng thời với đạo Phật.

Jaimini
: người thành lập triết thuyết Purvamimansa.

Jina
: đấng Cứu thế, theo đạo Jaïn.


K

Kali
: nữ thần, thường được coi là thần Chết, hình rất rùng rợn, vợ của thần Shiva.

Kalpa
: kiếp, một chu kì bằng 4.320 triệu năm.

Kanada
: thuỷ tổ phái Vaisheshika.

Kapila
: người lập ra triết thuyết Sankhya.

Kapilavastu
: Ca Tì La Vệ, kinh đô vương quốc của thân phụ Phật Thích Ca.

Karma
: nghiệp báo[4].

Karma-yoga
: con đường tu bằng hành động.

Khaddar
: một thứ hàng “len” xấu, hoặc một thứ vải thô người Ấn dệt lấy.

Kharosthi: cổ tự Ấn ở thế kỉ thứ V trước Công nguyên.

Krishna
: một vị thần, hoá thân của thần Vichnou.

Kshatriya
: tập cấp chiến sĩ.


L

Linga
: hình tượng trưng dương vật, để thờ.

M

Mahabharata
: một anh hùng trường ca thời cổ, rất danh tiếng.

Mahatma
: thánh.

Mahavira
: đại anh hùng, tên tín đồ Jaïn tặng người sáng lập ra đạo Jaïn.

Mahayana
: Đại thặng, cũng gọi là Đại thừa (tiếng Pháp dịch là Grand véhicule).

Mahayuga
: một thời vận bằng 4.320.000 năm, một phần ngàn của một kalpa.

Manas
: mạt-na, tức tinh thần.

Mandapam
: cổng trong các đền Ấn.

Manou
[Manu]: bộ luật cổ về các tập cấp; theo truyền thuyết, Manou là người soạn bộ luật đó.

Mantra
: thánh ca, có chỗ trỏ thần chú, bùa phép.

Mastaba
: bệ lớn trên đó dựng đền, như bệ Voi ở Đế Thiên Đế Thích.

Maya
: Ma Da, tên thân mẫu Phật Thích Ca.

Moksha
: sự thoát khỏi vòng luân hồi.

Mullah
: tu sĩ Hồi giáo.

N

Nalanda
: tu viện Na Lan Đà.

Naga
: thổ dân Ấn trước khi người Aryen tới; cũng trỏ rồng thần hoặc rắn thần mà thổ dân đó thờ.

Nastika
: vô (trái với hữu).

Niyama
: (luật) giai đoạn thứ nhì để tu yoga: giai đoạn dự bị.

Nirvana
: Niết bàn.

Nyaya
: luận lí học, tên một triết thuyết trọng sự biện luận (chính nghĩa là nghị luận).



O

Om
: một âm thiêng liêng của Ấn, người tu yogakhi toạ thiền, tụng hoài âm đó.


P

Pali
: cổ ngữ Ấn ở phương Nam, có sau cổ ngữ sanscrit; các sách Việt thường dịch sanscrit và pali là tiếng phạn, có lẽ nên phân biệt sanscrit là bắc phạn, và pali là nam phạn.

Panchagavia
: một phép “tẩy uế” rất đáng kinh, phải uống nước tiểu của bò cái, vân vân.

Paria
[Pariah]: tiện dân.

Pitaka
: tạng.

Prakiti[Prakriti]: bản thể (cái sinh ra những cái khác).

Prakrit
: cổ ngữ Ấn, có sau cổ ngữ sanscrit, trước cổ ngữ pali.

Pranayama
: (điều khí) giai đoạn thứ tư để tu yoga: kiểm soát hơi thở.

Pratyahara
: (li thế) giai đoạn thứ năm để tu yoga: diệt hết ý nghĩ.

Purana
: sách giáo lí cho các tập cấp không phải là Bà La Môn; cũng có nghĩa là truyện cổ Ấn Độ.

Purdah
: tục đàn bà cấm cung và che mặt.

Purusha
: thần ngã hoặc tinh thần.

Pura mimansa
: một triết thuyết phản đối chủ trương vô tín ngưỡng.

R

Radjpute
[Rajput]: dân miền Rajputana ở Tây Ấn[5].

Raga
: nhạc chỉ.

Rahula
: tên con trai của Phật Thích Ca.

Raja: người thủ lãnh một bộ lạc thời cổ.

Rajah
: tiểu vương Ấn.

Rama
: một hoá thân của thần Vichnou.

Ramayana
: một anh hùng trường ca rất nổi danh thời cổ Ấn Độ.

Rig Veda
: coi Veda.

Rita
: đạo Trời.



S

Sama Veda
: coi Veda.

Samadhi
: (tuệ) giai đoạn thứ tám và cuối cùng để tu yoga: xuất thần.

Samana
: sa môn.

Sankhya
: số luận, môn phái triết có trước khi Thích Ca ra đời (chính nghĩa là liệt kê).

Sannyasi
: giai đoạn tu cuối cùng của Bà La Môn: từ bỏ xã hội và gia đình.

Sanscrit
: cổ ngữ Ấn Độ ở phương Bắc.

Sarnath
: Lộc Uyển, nơi Phật Thích Ca thuyết pháp lần đầu.

Shah
: tiếng Ba Tư trỏ vua.

Shakti
: năng lực sinh hoá, sáng tạo; cũng trỏ giáo phái thờ năng lực đó.

Shakya Muni
: Thích Ca Mâu Ni (có sách viết là Çakya Mouni).

Shaman
: phù thuỷ.

Sangha: tăng già, đoàn thể tu sĩ trong Phật giáo.

Shankara
: một triết gia, có công lớn với triết thuyết Vedanta, thuộc phái Bà La Môn; người ta coi ông là Kant của Ấn Độ.

Shiva
: một trong ba vị thần tối cao.

Shivaisme
[Shivaism]: giáo phái tôn thờ Shiva.

Shuddhodhana
: Tịnh Phạn, thân phụ của Phật Thích Ca.

Shudra
: tập cấp công nhân, lao động.

Siddharta
[Siddhartha] Tất Đạt Ta, tên tục của Thích Ca.

Sikh
: tên một giáo phái, cũng trỏ những người theo giáo phái đó.

Stupa: cái tháp.

Sutra
: lời bình giải các kinh, có hình thức cách ngôn, người ta thường dịch là kinh.

Sutta
: kinh, một trong tam tạng của Phật giáo.

Swadeshi
: phong trào tẩy chay hàng Anh.

Swaraj
: phong trào tự trị.


103lichsuvanminhando-10a

Tượng Trimurti

T


Tamul
[Tamil]: thổ ngữ văn chương của miền Nam, có chỗ viết là Tamil[6] hay Tamoul.

Tantra
: cổ thư, chân ngôn.

Tathagata
: Như Lai, tôn danh của Phật Thích Ca, có nghĩa là vị nắm được chân lí.

Tattwa
: thực thể, tát đoả.

Topa
: cũng như stupa, mới đầu trỏ một nấm mồ, sau trỏ cái tháp chứa hài cốt các vị thánh hay hoà thượng.
Trimurti
: tượng thần Shiva có ba mặt[7].

Tripitaka
: tam tạng gồm Kinh, Luật, Luận của Phật giáo.



U

Upanishad
: phần thuyết pháp trong các kinh Veda.



V

Vaisheshika
: thắng luận, tên một triết thuyết.

Vaishnavisme
[Vaishnavism]: giáo phái tôn thờ thần Vichnou.

Vaisya
: tập cấp thương nhân.

Vanaprastha
: giai đoạn tu hành thứ ba của Bà La Môn: ở ẩn trong núi, nhưng vẫn sống với vợ.

Veda
: Vệ Đà hoặc Phệ Đà: các kinh có từ khoảng 1000 tới 500 trước Công nguyên. Nay còn 4 kinh: Rig Veda (Lê Câu Vệ Đà), Sama Veda, Yajur Vệ Đà (Dạ Nhu Vệ Đà), Arthava Veda. Cũng trỏ thời đại các kinh đó xuất hiện.

Vichnou[Vishnu]: một trong ba vị thần tối cao.

Vihara
: tu viện.

Vinaya
: Luật, một trong tam tạng của Phật giáo.

Vishesha
: đặc chất, đặc tính, thắng (phân biệt).



Y

Yajur Veda
: coi Veda.

Yama
: giai đoạn đầu tiên để tu yoga: diệt dục.

Yoga
: Du già, một lối tu khổ hạnh (chính nghĩa là cái ách).

Yogi
: người tu theo yoga.

Yoni
: hình tượng trưng âm hộ, để thờ.

Yuga
: một thời đại bằng một phần tư mahayuga.


[1] Cũng là Quán Thế Âm Bồ Tát trong Phật giáo. (Goldfish).

[2] Chắc là Bhramacharibị in sai mà thành Bhrama-chary, vì trong tiết V – chương V in là Bhramachari, còn bản tiếng Anh cũng phiên âm là: Bhramachari. (Goldfish).

[3] Trong Tiết VI – Chương V, có đoạn: “một triệu fakir(cũng như phù thuỷ)” - Bản tiếng Anh chỉ viết là: “a million fakirs”. (Goldfish).

[4] Có chỗ cụ Nguyễn Hiến Lê dịch là: nghiệp, quả báo. (Goldfish).

[5] Radjputecó chỗ chép là Rajputhoặc Rajpute; Rajputanacó chỗ chép là Radjputana. (Goldfish).

[6] Trong sách có chỗ giảng Tamil là xứ của người Tamil. (Goldfish).

[7] Trong tiết II – Chương V, tác giả viết: Người Ấn cho rằng đời sống cũng như vũ trụ, qua ba giai đoạn liên tiếp: sinh, trưởng rồi diệt. Vì vậy có ba thứ thần: thần Brahma, đức Sáng tạo; thần Vichnou, đức Bảo tồn; và thần Shiva, đức Huỷ diệt: đó là Trimurti, tức “ba hình thức” mà tất cả các người Ấn, trừ những tín đồ Jaïn [và Hồi giáo, dĩ nhiên] đều theo”. (Goldfish).

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/04/2011(Xem: 9006)
Đây là phần thứ 2 trong 3 phần chính của cuốn Zen no Rekishi (Lịch Sử Thiền) do giáo sư Ibuki Atsushi soạn, xuất bản lần đầu tiên năm 2001 tại Tôkyô.
12/04/2011(Xem: 16992)
Thật ra chân lý nó không nằm ở bên đúng hay bên sai, mà nó vượt lên trên tất cả đối đãi, chấp trước về hiện hữu của Nhị Nguyên. Chân lý là điểm đến, còn hướng đến chân lý có nhiều con đường dẫn đến khác nhau.
12/04/2011(Xem: 16697)
Trong tiếng Phạn (Sanskrit), từ "Thiền" có ngữ nguyên là dhyâna. Người Trung Hoa đã dịch theo âm thành "Thiền na". Ý nghĩa "trầm tư mặc tưởng" của nó từ xưa trong sách vở Phật giáo lại được biểu âm bằng hai chữ yoga (du già).
04/04/2011(Xem: 9800)
Khởi đi từ Ấn Độ cách đây 2556 năm về trước, giáo lý của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni bắt đầu tỏa chiếu từ cội cây Bồ Đề linh thiêng và kể từ đó đến nay giáo lý từ bi trí tuệ ấy đã làm cho không biết bao nhiêu chúng sanh được gội nhuần ân pháp vũ. Bất luận là Á Âu hay Mỹ Phi Úc, đâu đâu nếu có những người hướng thiện, muốn tu học và cần cầu sự giải thoát; thì giáo lý kia chính là những chất liệu dưỡng sinh để giúp cho con người mau ra khỏi vòng tục lụy của một kiếp nhân sinh
10/03/2011(Xem: 8636)
Cho đến nay Phật giáo đã tồn tại hơn 2.500 năm, và trong suốt thời kỳ này, Phật giáo đã trải qua những thay đổi sâu xa và cơ bản. Để thuận tiện trong việc xem xét, lịch sử Phật giáo có thể được tạm chia thành bốn thời kỳ.
05/01/2011(Xem: 3825)
Ấn Độ vào thế kỷ thứ VI trước Tây lịch có những biến chuyển rất lớn về những vấn đề xã hội, văn hoá tư tưởng và tôn giáo. Vào thời điểm này, Ấn Độ chưa phải là một quốc gia rộng lớn độc lập mà bao gồm nhiều tiểu vương quốc khác nhau. Và các tiểu vương quốc ở những khu vực biên giới từ lâu được xem là man di nay đang vùng lên chiếm ưu thế và họ có những thế lực nhất định trong xã hội Ấn Độ thời bấy giờ. Bà-la-môn giáo từ lâu được xem là tôn giáo chính thống đang bị suy giảm uy tín cũng như quyền lực lãnh đạo tinh thần xã hội. Lòng người trở nên hoang mang và hầu như mất đi nơi quy hướng.
29/12/2010(Xem: 4790)
Mùa Xuân là mùa đâm chồi nẫy lộc của thiên nhiên. Cách đây hơn 25 thế kỹ, nhân loại cũng đã chứng kiến một hiện tượng “đâm chồi nẫy lộc” khác vĩ đại và tuyệt vời hơn nhiều. Không phải của thiên nhiên mà của trí tuệ, không phải làm đẹp cảnh vật mà làm sáng lên một con đường giải phóng chúng sinh thoát khổ. Hiện tượng khai hoa nở nhụy đó là sự thành hình của Tăng đoàn Phật giáo (Tăng già, Sangha) do chính Đức Phật khai sinh, nuôi dưỡng và uốn nắn để từ đó lớn lên, lan rộng, vượt thời gian, tồn tại cho đến ngày nay dưới những chiếc tăng bào nhiều màu sắc trên khắp mặt địa cầu.
26/12/2010(Xem: 4378)
Dân số thế giới: 7 tỷ, trong đó, Á châu: 4 tỷ (Trung Quốc có 1.3 tỷ, Ấn Độ có 1.1 tỷ). Đạo Phật: 500 triệu tín đồ, đa số ở Nam Á, Đông Á, Đông Nam Á, và một phần của Nga. Việt Nam: dân số 84 triệu, Phật giáo 83% (70 triệu; gồm Bắc tông 78% và Nam tông 5%), Gia-tô giáo 7%, Cao Đài 2%, các đạo khác và vô tôn giáo 8%).
25/12/2010(Xem: 5523)
Lịch Sử Kết Tập Kinh Điển , Bình Anson minh họa bằng biểu đồ và hình ảnh
25/12/2010(Xem: 13293)
Phật giáo là một tôn giáo được đức Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) truyền giảng ở miền bắc Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6 TCN. Do đạo Phật được truyền đi trong một hơn hay 2500 năm và lan ra nhiều nơi cho nhiều chủng tộc nên lịch sử phát triển của nó khá đa dạng về các bộ phái cũng như là các nghi thức và phương pháp tu học. Ngay từ buổi đầu, đức Thích Ca, người truyền đạo Phật, đã thiết lập được một giáo hội với các luật lệ hoạt động chặt chẽ của nó. Nhờ vào sự uyển chuyển của giáo pháp, đạo Phật có thể thích nghi với các hoàn cảnh chế độ xã hội, con người, và tập tục ở các thời kỳ khác nhau, nên ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển ngay cả trong các nước có nền khoa học tiên tiến như Hoa Kỳ và Tây Âu.