Chùa Hoa Đình ở Côn Minh

10/04/201314:27(Xem: 6107)
Chùa Hoa Đình ở Côn Minh

 chua hoa dinh-con minh



Chùa Hoa Đình ở Côn Minh

NGUYỄN KHUÊ

---o0o---

Với một vị trí ở giữa cảnh quan núi non rất đẹp, kiến trúc qui mô tráng lệ và có nhiều cổ tích văn vật có giá trị văn hóa nghệ thuật, chùa Hoa Đình được xem là một danh lam cổ tự nổi tiếng bậc nhất ở Côn Minh. Chính vì thế, năm 1983, Quốc vụ viện công nhận chùa Hoa Đình là một tự viện trọng điểm của Phật giáo Trung Quốc

Chúng tôi đến viếng cảnh chùa Hoa Đình vào một buổi sáng đầu Thu năm nay. Sau mấy ngày mưa, trời rất đẹp.

Chùa Hoa Đình, người Trung Quốc gọi là Hoa Đình thiền tự hay Hoa Đình tự , tọa lạc trên ngọn núi Hoa Đình của Bích Kê Sơn thuộc Tây Sơn, bên bờ hồ Côn Minh tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Nền cũ của chùa này nguyên là biệt thự của Thiện Xiển hầu Cao Trí Khai thời kỳ nước Đại Lý đời Tống(1).

Năm Diên Hựu thứ 7 (1320 TL) đời Nguyên, ngài Huyền Phong (1266-1349), vị Pháp sư được tôn xưng là Vân Nam Thiền tôn đệ nhất Tổ , xây dựng chùa ở đây, lúc đầu đặt tên là chùa Đại Viên Giác. Pháp sư Huyền Phong là vị Tổ khai sơn của chùa này. Người sau nhân tên núi là Hoa Đình Phong, nên đổi tên chùa là Hoa Đình tự .

Năm Thiên Thuận thứ 6 (1462), vua Anh Tông nhà Minh ban cho tên chùa là Hoa Đình Sơn Đại Viên Giác tự .

Trải qua hai triều Minh và Thanh, chùa nhiều lần bị hư hoại vì binh lửa, rồi lại nhiều lần được trùng tu.

Năm 1922, Hòa thượng Hư Vân (1840-1959) nhân trùng tu chùa, đào được một tấm bia cổ, hàng chữ đầu có khắc tên chùa là Vân Thê, các hàng chữ khác bị mờ, không đọc được, nên không biết niên đại của tấm bia, mới đặt tên chùa là Tĩnh Quốc Vân Thê thiền tự .

Chùa Hoa Đình có qui mô rộng lớn, nguy nga tráng lệ. Cổng chùa có bậc cấp cao, tất cả các loại xe đều đậu ở bên ngoài, giữ cho chùa sự yên tĩnh tôn nghiêm của nơi thờ phượng.

Theo tục lệ đến chùa lễ bái của người Trung Quốc, khi bước vào cổng chùa hoặc điện thờ Phật, phải bước chân trái qua ngưỡng cửa trước, khi bước ra thì bước chân phải trước.

Trong khuôn viên chùa, và ngay cả trước cổng chùa, không có người ăn xin, cũng vắng bóng những kẻ bán hàng rong. Chúng tôi cũng không thấy bày bán chim phóng sinh. Đó đây có những gian hàng ngăn nắp, mỹ quan, hoặc bày bán thức ăn chay (mua đem về, chứ không ăn tại chỗ), nhang đèn, tràng hạt, những đồ vật lưu niệm, hoặc phát hành kinh sách cho khách thập phương đến tham quan, lễ bái.

Lễ Phật, người Trung Quốc dùng hai loại nhang có màu khác nhau: nhang màu đỏ để cầu xin được sống lâu và nhang màu vàng để cầu xin phát tài.

Trong sân chùa có nhiều cây cổ thụ, bạch mai, hai cây tử vi. Cây tử vi cao hơn 3m, vỏ cây trơn láng, hoa màu đỏ tím. Thơ văn Trung Quốc thường nói đến cây tử vi, nay lần đầu tôi được tận mắt nhìn thấy. Có một điều kỳ thú về cây tử vi là nếu ta vuốt thân cây thì sự xúc chạm truyền lên cành lá làm cho cành lá khẽ rung động. Tôi có mấy vần thơ vịnh cây tử vi ở chùa Hoa Đình như sau:

Tử vi cũng giống hữu tình(2)

Thân cây truyền xúc rung rinh lá cành

Kiếp xưa đã tạo nhân lành

Nên nay được đứng Hoa Đình nghe kinh

Linh Sơn qui hướng tinh thành (3)

Đủ duyên ắt sẽ hóa sinh có ngày.

Trong Thiên Vương điện, thờ tôn tượng của bốn vị Tứ Đại Thiên Vương, hai vị mặt trắng hiền từ, hai vị mặt đen hung dữ. Đó là bốn vị hộ trì Phật pháp, hộ trì bốn cõi thiên hạ, khiến các quỉ thần hung ác không thể xâm hại chúng sinh.

Bước vào Đại Hùng bảo điện, người ta chú ý ngay đến ba tượng Phật lớn và rất oai nghiêm, đó là kim thân của Phật Thích Ca Mâu Ni (ở giữa), Phật A Di Đà (bên phải) và Phật Dược Sư (bên trái). Trên vách hai bên và vách phía sau của bảo điện có đắp tượng 500 vị La hán, mỗi vị có một tư thế, cách phục sức và dáng vẻ riêng, cực kỳ sinh động, thật là một công trình nghệ thuật rất có giá trị. Chẳng hạn trong số 500 tượng La hán có đến 3 tượng (1 ở vách bên phải, 1 ở vách trái và 1 ở vách sau) đều có một cánh tay thật dài, dài gấp ba, bốn lần cánh tay kia, nhưng với ba thần thái biểu hiện ba ý nghĩa khác nhau: một vị vươn cánh tay dài này lên không trung như nắm bắt hư không, một vị khác giơ tay lên trời nắm lấy vầng trăng, còn vị thứ ba thì giơ tay bắt một con chim. Người Trung Quốc đến lễ bái ở đây thường đếm tượng La hán để bói thời vận tốt xấu. Người ta đếm tượng La hán, bắt đầu với bất kỳ tượng nào cũng được, đếm nhẩm 1, 2, 3... cho đến đúng số tuổi của mình thì thôi, và xem thần thái vui, buồn của vị La hán cuối cùng mà suy đoán thời vận của mình.

Đàng sau Đại Hùng bảo điện là Tàng kinh lâu hai tầng, kiến trúc rất đẹp.

Chùa Hoa Đình có hai tượng Phật bằng ngọc do Phật giáo Myanmar tặng, một tượng Phật mạ vàng do Phật giáo Thái Lan tặng. Trong phương trượng còn giữ được một tượng Chuẩn Đề Bồ tát bằng đồng có 3 mắt và 18 cánh tay. Ngoài ra, chùa có tháp xá lợi của Thiền sư Hư Vân, bia khắc thơ của Lâm Tắc Từ và của Quách Mạc Nhược.

Với một vị trí ở giữa cảnh quan núi non rất đẹp, kiến trúc qui mô tráng lệ và có nhiều cổ tích văn vật có giá trị văn hóa nghệ thuật, chùa Hoa Đình được xem là một danh lam cổ tự nổi tiếng bậc nhất ở Côn Minh. Chính vì thế, năm 1983, Quốc vụ viện công nhận chùa Hoa Đình là một tự viện trọng điểm của Phật giáo Trung Quốc:

1. Thiện Xiển tức Côn Minh ngày nay. Đại Lý là tên nước, ở địa phận tỉnh Vân Nam bây giờ, bị nhà Nguyên diệt.

2. Từ hữu tình ở đây dùng theo nghĩa nhà Phật, chỉ loài có tình thức và có sự sinh tồn.

3. Linh Sơn tức Linh Thứu Sơn, tên một ngọn núi ở Trung Ấn Độ, nơi Đức Như Lai thường trụ thuyết pháp.


---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/10/2021(Xem: 5438)
Thủ tướng Thái Lan Prayut Chan-o-cha cho biết, bắt đầu từ ngày 1 tháng 11 tới, Vương quốc Phật giáo này sẽ mở cửa chào đón du khách thập phương hành hương từ 46 quốc gia, thay vì trước đây chỉ công bố 10 quốc gia có nguy cơ thấp bởi dịch Covid-19.
23/09/2021(Xem: 8673)
Bài Khảo Luận nầy nay đã in lại và trở thành CHƯƠNG MỘT của tác phẩm nầy. Chương hai có tựa đề là: VIỆT NAM PHẬT GIÁO TRUYỀN QUA TRUNG QUỐC. Những chương khác nghiên cứu về Phật, Bồ Tát, các Kinh, Luận...là những Kinh, Luận, Bồ Tát... rất uyên thâm, nỗi tiếng, tiêu biểu cho Giáo Lý Phật Giáo của tất cả các tông phái Phật Giáo đang hành đạo tại Việt Nam. Phần cuối của tác phẩm là những phụ lục. Trong đó 3 phụ lục đầu là 3 bài tham luận đã thuyết trình trong 3 lần hội thảo quốc tế, có ghi rõ thời gian và nơi chốn hội thảo. Những phụ lục còn lại là những bài khảo luận nghiên cứu về giáo lý Phật Giáo. Như vậy xét về nội dung tác phẩm nầy không phải là sách chuyên khảo cứu về Lịch Sử Du Nhập và Truyền Thừa của Phật Giáo Việt Nam. Mục đích của tác giả là muốn cho thế hệ người Việt Nam trẽ lưu tâm nghiên cứu sâu, tìm hiểu, phát huy những điểm son lịch sử hào hùng của Dân Tộc Việt, viết lên cho thế giới biết Dân Tộc Việt Nam có lịch sử Hào Hùng, Minh Triết về mọi thời đại, mọi lãnh vực tro
12/06/2021(Xem: 27697)
Viết về lịch sử của một Dân Tộc hay của các Tôn Giáo là cả một vấn đề khó khăn, đòi hỏi ở người viết phải am tường mọi dữ kiện, tham cứu nhiều sách vở hay là chứng nhân của lịch sử, mới mong khỏi có điều sai lệch, nên trước khi đặt bút viết quyển “Lịch sử Phật Giáo Việt Nam tại Hải Ngoại trước và sau năm 1975” chúng tôi đắn đo suy nghĩ rất nhiều...
07/06/2021(Xem: 26963)
LỜI NÓI ĐẦU Hôm nay là ngày 9 tháng 7 năm 2018, trong mùa An Cư Kiết Hạ của năm Mậu Tuất, Phật lịch 2562 này, tôi bắt đầu đặt bút viết tác phẩm thứ 66 của mình sau hơn 45 năm (1974-2018) cầm bút và sau hơn 42 năm ở tại Âu Châu (1977-2018). Những sách của tôi viết bằng tiếng Việt hay dịch từ các ngôn ngữ khác ra Việt ngữ như: Anh, Đức, Hán, Nhật đều đã được in ấn và xuất bản với số lượng ít nhất là 1.000 quyển và có khi lên đến 2.000 quyển hay 5.000 quyển. Vấn đề là độc giả có nắm bắt được bao nhiêu phần trăm ý chính của kinh văn hay của sách dịch lại là một việc khác. Người viết văn, dịch sách cũng giống như con tằm ăn dâu thì phải nhả tơ, đó là bổn phận, còn dệt nên lụa là gấm vóc là chuyện của con người, chứ không phải của con tằm.
31/03/2021(Xem: 23569)
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
18/01/2021(Xem: 14753)
Trong cộng đồng nhân loại, bất cứ chủng tộc nào, có tinh thần độc lập, có ý chí tự cường, có lịch sử đấu tranh lâu dài thì chủng tộc đó nhất định có sáng tạo văn hóa để thích ứng với mọi hoàn cảnh địa lý, với những điều kiện thực tế để tự cường, sinh tồn và phát triển. Dân tộc Việt Nam là một chủng tộc có ngôn ngữ riêng biệt thuần nhất, có nền văn hóa nhân bản đặc thù, siêu việt và nền văn hóa này có khả năng chuyển hóa, dung hợp tinh ba của tất cả nền văn hóa nhân loại biến thành chất liệu sống và ý nghĩa sự sống bồi dưỡng cho sanh mệnh dân tộc mang tánh chất Rồng Tiên nẩy nở phát triển và trường tồn bất diệt trải dài lịch sử hơn bốn ngàn năm văn hiến kể từ khi lập quốc cho đến ngày nay. Đặc tánh Rồng Tiên, theo Hai Ngàn Năm Việt Nam Và Phật Giáo của Lý Khôi Việt, trang 51 giải thích: Rồng tượng trưng cho hùng tráng dũng mãnh tung hoành, Tiên biểu tượng cho thanh thoát cao quý, hòa điệu. Vì có khả năng chuyển hóa và dung hợp của nền văn hóa Việt Tộc (Chủng Tộc Việt Nam), dân tộc Việ
15/09/2020(Xem: 20504)
Chùa tọa lạc ở số 01 đường Sư Liễu Quán, phường Trường An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Mặt chùa quay hướng Nam. Bên trái chùa, có chùa Linh Quang và đền thờ cụ Phan Bội Châu. Chùa được Thiền sư Minh Hoằng Tử Dung dựng vào cuối thế kỷ 17 tại ngọn đồi thấp Hoàng Long Sơn, có tên thiền thất Ấn Tôn. Năm Nhâm Thìn (1712), ngài Thiệt Diệu Liễu Quán, quê ở Phú Yên là đệ tử đắc pháp của Sơ tổ Minh Hoằng Tử Dung, được ngài truyền tâm ấn, trở thành đệ nhị Tổ. Ngài Thiệt Diệu Liễu Quán đã phát triển dòng thiền Lâm Tế cho đến ngày nay.
13/09/2020(Xem: 22127)
Thiền viện tọa lạc dưới chân núi Bạch Mã, khu vực hồ Truồi, xã Lộc Hòa, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ở độ cao 1.450m, cách biển Đông 5km đường chim bay, nhiệt độ trung bình 200C, Bạch Mã là nơi có khí hậu mát mẻ, lý tưởng cho việc tu tập của Tăng, Ni, Phật tử và các chuyến tham quan, chiêm bái của du khách. Tên thiền viện lấy theo tên núi Bạch Mã. Chữ “Trúc Lâm” hàm ý đến dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, một dòng thiền mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và mang tính nhập thế.
09/04/2020(Xem: 9111)
Thành phố Sa Đéc hiện có trên dưới 48 cơ sở thờ tự (đình, chùa, miếu, nhà thờ họ,…) và trong đó không ít những ngôi chùa, đình có niên đại trên 100 tuổi (chùa Phước Hưng xây dựng vào 1838 tính đến nay 177 năm, chùa Quảng Phước xây dựng vào 1858, tuổi thọ cũng gần 160 năm, đình Tân Quy Tây thờ vị thần hoàng khai khẩn đất đai Võ Ngọc Minh được xây dựng vào năm 1812, hơn 200 tuổi…). Bài viết của chúng tôi tập trung giới thiệu 3 trong số quần thể di tích chùa, đình cổ ở đây với số lượng văn bản Hán Nôm vượt trội, cũng như lịch sử lâu đời: Chùa cổ Phước Hưng, chùa Bà Thiên Hậu của công đồng người Hoa và đình Vĩnh Phước.
05/03/2020(Xem: 12493)
Trong những quốc gia nói tiếng Tây Ban Nha, Phật Giáo nằm ngay giữa bối cảnh lịch sử Thiên Chúa Giáo. Mối quan hệ giữa hai nền văn hóa tôn giáo – Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo – phủ lên một hình ảnh bao quát: từ chủ nghĩa bài xích nhau đến đối thoại hiệu quả, chuyển qua các cấp độ đa dạng của sự lãnh đạm nhau. Liên quan đến hai truyền thống tâm linh, Ana Maria Schlüter Rodés biểu hiện những gì bà gọi một cách chính xác là “song ngữ tôn giáo.” Trong cuộc phỏng vấn với Daniel Millet Gil từ Buddhistdoor Global được dịch sang Anh ngữ và đăng trên trang mạng www.buddhistdoor.net hôm 27 tháng 2 năm 2020, Ana Maria nói về con đường tâm tinh và thực hành Thiền của bà trong bối cảnh Thiên Chúa Giáo.