Dấu Thời Gian (sách)

15/11/201507:05(Xem: 13359)
Dấu Thời Gian (sách)



Dau Thoi Gian_HT Thich Tin Nghia

LỜI TỰA CỦA TÁC GIẢ

HT Thich Tin Nghia

 

Thời gian chỉ là một khái niệm vô hình vô ảnh của nhân loại ; nhưng nó có thể được biểu hiện bởi sự chia chẻ tính đếm qua giây, phút, khắc, giờ, ngày, tuần, tháng, quý, năm, thế kỷ, thiên kỷ. . .  và qua sự biến đổi, di dịch, của vật thể và sinh loại trong không gian. Như vậy, tuy vô hình, thời gian cũng để lại vết tích của nó qua các dữ kiện, sự kiện được ghi lại trong sử liệu của số đông, hoặc chỉ là những dấu ấn kỷ niệm trong tâm thức mỗi cá nhân—trong đó, bao gồm tất cả những thành tựu vinh quang hay thất bại đầy tủi nhục của những con người và tập thể trần gian mà họ tùy thuộc, tương thuộc.

Mỗi người dấn thân vào đời tất nhiên đã tự chọn cho mình một lý tưởng, một mục tiêu, có khi cục bộ, cá nhân ; và thường khi là đồng hóa chính mình vào tập thể, tổ chức, đảng phái hay tôn giáo mà mình tin tưởng, phục vụ.

Người viết đã chọn đời mình là sứ giả của Như Lai, chọn con đường hành đạo của mình là phụng sự chúng sinh thông qua Phật giáo Việt Nam mà đại diện tiêu biểu là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Tất nhiên chọn lựa như thế là chấp nhận thăng trầm theo vận mệnh của Giáo Hội ;  cũng như Giáo Hội, khi đặt mục tiêu hoằng pháp là để “phục vụ nhân loại và dân tộc” là chấp nhận thăng trầm theo vận nước, lòng dân, theo nguyện vọng hòa bình và phúc lạc của cả nhân loại.

Bây giờ đã vào giai đoạn lão niên, quay nhìn lại con đường đã qua với dấu thời gian còn in hằn trong tâm tưởng, người viết cảm thấy đã không đóng góp được gì nhiều cho Phật Pháp ; nhưng, tợ một người tự đặt mình như một viên gạch xây dựng ngôi nhà Phật Việt, không bao giờ hối tiếc ân hận về sự chọn lựa của mình. Vì vậy, những gì có vẻ như là tâm sự hay trải nghiệm cá nhân nơi tập sách này cũng đều là tâm thành hướng vọng con đường và chí nguyện tiền nhân, của Thầy-Tổ ; còn những tài liệu được sưu tập, trích dẫn, chính là phản ảnh trung thực tấm lòng và hành xử của tập thể Tăng-già hải ngoại trước những chướng duyên, nghịch cảnh thời đại.

Thời gian : vô hình ; Sứ giả Như Lai : vô ngã. Có chăng dấu vết nào để lại, đều là niềm kỳ vọng chân thành gửi gắm cho người đến sau. Thăng-trầm, vinh-nhục của những người đi trước không thể nói hết được qua những dòng chữ, nhưng bài học cho sự vươn dậy của Phật giáo ngày mai, hy vọng có thể được tìm thấy bởi những pháp lữ hậu học có chung con đường và chí nguyện lợi sanh.

Sa môn Thích Tín Nghĩa

Vu lan Rằm tháng Bảy Ất Mùi

Aug. 08, 2015  -  2559



LỜI GIỚI THIỆU
Thich Nguyen Sieu 1

 

          của Hòa thượng Thích Nguyên Siêu,

Tổng thư ký Hội đồng Điều hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ, kiêm Viện chủ chùa Phật Đà, Tu viện Pháp Vương - San Diego, CA.

 

          Đọc “Dấu Thời Gian” để thấy mình đã kinh qua những chứng tích lịch sử thời đại. Chứng tích lịch sử ấy đã cho con người nhiều bài học sống, từ tự thân đến cộng đồng xã hội, từ quá khứ đến hiện tại. Do vậy bài học lịch sử là bài học kinh nghiệm bằng xương máu của bản thân, để từ đó có cái nhìn quán triệt, suốt một dòng thời gian từ thuở sơ sinh cho đến ngày nhắm mắt. Bài học lịch sử ấy cho con người thấy được giá trị tâm thức hoạt dụng hay việc làm mang tính tương dung, tương tác của con người. Việc làm ấy : “tâm thức hoạt dụng” tính “tương dung tương tác” có khi thăng có lúc trầm, có khi nặng có lúc nhẹ, cứ thế tuôn chảy để tài bồi cho một nguồn sống của kiếp nhân sinh. Và bài học lịch sử ấy để thấy sự việc có lúc thành công hay quang vinh tột đỉnh, rồi lại có lúc thấy thất bại ê chề, nhục nhã, đau thương.
          Đọc “Dấu Thời Gian” cũng để thấy được tâm tình, cảm nghĩ của tác giả luôn gắn bó với Tông môn Pháp phái, với huynh đệ xa gần mà suốt thời gian nhiều thập niên qua trong dòng lịch sử nói trên, tác giả đã trải tâm, hóa thân vào đại cuộc để gánh vác trọng trách như là sử mệnh quê hương, một sứ giả Như Lai hoằng truyền chánh pháp. Từ những ngày tháng còn ở quốc nội, cho đến bây giờ, nơi hải ngoại, tâm tình này, cảm nghĩ này được hàm tàng qua các bài viết của tác giả trong “Dấu Thời Gian”.
          1.- Chứng Tích Lịch Sử Thời Xưa – Quốc Nội.

               Sau những năm tháng dài của dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam hơn hai ngàn năm qua đã nuôi dưỡng sinh thành bao nhiêu Thánh Tăng, Thiền Sư của thời đại để làm hưng thịnh Phật pháp trên dòng lịch sử ấy. Đầu thế kỷ 19, Phật giáo Việt Nam đã xuất hiện các bậc Thạch Trụ Thiền Gia để lèo lái chống đỡ ngôi nhà Phật giáo. “Dấu Thời Gian” đã chứng minh : “Vào những năm 1920 ở miền Nam có những bậc Thạc Đức như : Từ Phong (Chợ Lớn), Khánh Hòa (Bến Tre), Chí Thành (Châu Đốc), Huệ Quang (Trà Vinh), Khánh Anh (Long An), Tâm Thông (Gò Vấp), Hoằng Nghĩa (Chợ Lớn), Huệ Tịnh (Gò Công). . . Ở miền Trung, Cố đô Huế thì có Thiền Sư Huệ Pháp nổi tiếng là thâm uyên giáo điển, là bậc Thầy của các Thiền Sư : Giác Tiên, Tịnh Khiết, Tịnh Hạnh, Mật Thể, Vĩnh Thức. . . mở lớp giảng dạy tại Tổ Đình Thiên Hương, Thiền Sư Thanh Thái với đạo tràng Từ Hiếu, Thiền Sư Đắc Ân với đạo tràng Quốc Ân, Thiền Sư Tâm Tịnh với đạo tràng Tây Thiên, ở Thập Tháp thì có Quốc Sư Phước Huệ.”

          Trên, là những danh Tăng Phật giáo Việt Nam, đã làm hưng thịnh nền Đạo học, đẩy mạnh bánh xe pháp hoằng truyền từ Bắc chí Nam, đã trở thành các bậc Tổ sư trong chốn Thiền môn. Là dòng máu Tăng già Việt Nam, dòng máu làm Phật, làm Tổ, làm Bồ Tát mà quý Ngài đã đóng góp cho con đường hoằng pháp của chặng đường lịch sử thời ấy ngày một hưng long.

          Đọc “Dấu Thời Gian” qua những chặng đường lịch sử này, chúng ta thấy rõ hơn công việc đào tạo Tăng tài, xây dựng Tự viện, thành lập đạo tràng, Phật Học Hội, công cuộc chấn hưng Phật giáo thời ấy, để rồi qua nhiều thập niên sau này, cuối thế kỷ 19, vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm qua các lãnh vực hoằng pháp, văn hóa, giáo dục, từ thiện, xã hội . . . Viện Đại Học Vạn Hạnh được thành lập, Viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm, Viện Cao Đẳng Chuyên Khoa Hải Đức Nha Trang . . . cũng như các Phật Học Viện, hệ thống trường Bồ Đề, kinh tế tự túc để đào tạo Tăng tài. Đó là những hình ảnh đã in sâu vào tâm thức của người Phật tử Việt Nam. Tạo dựng một niềm tin kiên định nơi ngôi Tam Bảo, để phát tâm hộ pháp dõng mãnh hơn.

Quả thật, Đại Học Vạn Hạnh được mở ra cho hàng ngàn sinh viên theo học đã tạo nên một trào lưu trí thức Phật tử, qua hai phạm trù đạo học và thế học. Đây là sự thành tựu to lớn, có tầm cỡ quốc tế, mà thành quả này chính là nhờ sự ươm mầm, gây giống từ nhiều thập niên trước. Hai Viện Cao Đẳng Phật Học Chuyên Khoa Huệ Nghiêm, Sài Gòn và Hải Đức Nha Trang là tiềm năng được xốc dậy để dựng thành lớp người Tăng sĩ mang hành trang giáo hóa vào đời làm lợi ích chúng sanh. Nền văn hóa, giáo dục này có được là nhờ bao tâm huyết, chí nguyện của dòng máu Tăng già Việt Nam từ thời Cha Ông nối tiếp. “Trường Đại Học Phật giáo đầu tiên được mở ra tại Tổ Đình Trúc Lâm năm 1935, Tổ Giác Tiên làm Giám đốc. Lớp Trung học mở ra tại Tổ Đình Tường Vân do Thiền Sư Tịnh Khiết làm Giám đốc. Cả hai lớp đều do Thiền Sư Phước Huệ trực tiếp giảng dạy. Lớp Trung học này gồm những Tăng sinh miền Nam như : Thiện Hoa, Thiện Hòa, Chí Thiện, Hiển Thụy, Hiển Không v.v… theo học. Lớp Giáo sư gồm các Thiền Sư Tịnh Khiết, Đắc Ân, Thanh Duyên, cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám và quý Tăng sinh lớp Đại học Trúc Lâm.”

          Dòng lịch sử luôn kết nối từ thế hệ này đến thế hệ khác, mỗi thế hệ người có tầm cỡ và giá trị phụng sự khác nhau. Nhưng dù có khác nhau thế nào vẫn mang một sắc thái đặc thù nền văn hóa giác ngộ của đạo Phật. Cha Ông chúng ta trên dòng lịch sử đầu thế kỷ 19 hay trước nữa đã tác thành những bậc Tổ đức Thiền Sư hay những vị Đại thí chủ hộ pháp, an dân, thì hôm nay hàng con cháu hậu duệ cũng đã noi theo hành trạng của chư vị Lịch Đại Tổ Sư ấy mà tu hành để chứng đắc hay hy hiến đời mình thành chư vị Bồ Tát, Thánh Tăng. Một Thiền Sư Khương Tăng Hội, Chi Khương Lương, Mâu Bác . . . từ thuở sơ khai của dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam đã gầy dựng, gieo trồng hạt mầm Phật giáo ăn sâu, mọc rễ trên mảnh đất Lạc việt, trên nền văn hóa Luy Lâu. Thời Đinh Lê Lý Trần . . . một Vạn Hạnh Thiền Sư, Điều Ngự Giác Hoàng Phật Tổ . . . đã xiển dương Phật giáo cực thịnh, đã an bang tế thế, thanh bình thịnh trị suốt mấy trăm năm. Lịch sử cận đại với Bồ Tát Quảng Đức, đốt ngọn đuốc thiêng để lại ngọn lửa Từ Bi và trái tim Bất Diệt cho thế giới ngày nay. Mặc dù “Dấu Thời Gian” chỉ nêu lên một chặng đường lịch sử tiêu biểu, nhưng đó chính là dấu ngoặc trên con đường hoằng dương chánh pháp. Bởi vì chúng ta hiện hữu như một chứng tích lịch sử, thì chúng ta cũng có thể cảm nhận hay đi suốt những chặng đường lịch sử đã qua hoặc sắp tới. Vì vậy, đọc “Dấu Thời Gian” để chia sẻ cùng tâm tình của tác giả một phần nào đã ghi lại trên những dòng chữ đơn sơ mang chứng tích lịch sử thời xa xưa.

          2.- Chứng Tích Lịch Sử Thời Nay – Hải Ngoại.

          Đạo Phật là đạo Vô tướng, tùy thời, tùy xứ, tùy duyên nên đạo Phật truyền đến đâu cũng đều thích nghi với địa phương với dân tộc đó. Đạo Phật được hòa tan vào đại thể mà không có tướng riêng biệt cho chính mình. Do vậy, “Dấu Thời Gian” đã ghi lại những biến cố thời đại, từ nội bộ hay ngoại tại, suốt 40 năm đạo Phật có mặt nơi hải ngoại trong làn sóng người vượt biên, vượt biển. Chứng tích lịch sử Phật giáo hải ngoại này, “Dấu Thời Gian” đã mô tả sự thành hình của bốn Giáo Hội của bốn châu lục, từ Âu Châu, Úc Châu đến Hoa Hỳ, Gia Nã Đại đã đồng bộ vận động để thành lập Giáo Hội Thống Nhất Hải Ngoại, để từ đó xiển dương con đường hoằng pháp nơi đây. Các Tự viện, Tòng lâm được xây dựng. Các Khóa tu học Phật pháp được duy trì, phát triển, khởi sắc sâu rộng. Đông đảo chư Tôn Đức Tăng Ni tham dự tu học, cùng hàng trăm, hàng ngàn Phật tử có mặt trong các Khóa tu học Phật pháp ấy. Từ Âu Châu, Úc Châu qua Hoa Hỳ rồi Gia Nã Đại, chứng tích lịch sử Hải ngoại đã sớm tô đậm dấu ấn truyền thừa của chư vị Lịch Đại Tổ Sư trên dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam 2000 năm qua. Và hôm nay, Phật giáo Việt Nam đã có mặt khắp nơi trên thế giới. Đây chính là nhờ tấm lòng hộ pháp của nam nữ Phật tử mà nhất là tâm nguyện dấn thân của chư Tôn Đức Tăng Già.

          Tác giả “Dấu Thời Gian” đã trích dẫn các chứng tích lịch sử Phật giáo hải ngoại từ sự thăng hoa, lợi lạc tha nhân cho đến sự phân hóa, tan vỡ nội bộ của các Giáo Hội. Nhưng dù có thăng trầm, thành bại “Dấu Thời Gian” vẫn giữ được tính trầm lặng để cho người đọc một cảm giác thân thiện, khách quan hơn :     “Trước biến cố Giáo Chỉ và Thông Bạch với những hậu quả tiêu cực đã và đang xảy ra như được trình bày một phần nào ở trên, cũng như ý thức được bổn phận và trách nhiệm của mình với tiền đồ Phật giáo Việt Nam hải ngoại. Quá bán chư Tôn Đức Tăng Ni và Phật tử vốn là thành viên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ quyết định triệu tập Đại Hội Bất Thường vào các ngày 11, 12 tháng 11 năm 2008 tại chùa Phổ Đà và chùa Bảo Quang, thành phố Santa Ana, California nhằm mục đích :

          a.- Tìm giải pháp tốt đẹp để đem lại sinh hoạt hòa hợp, thanh tịnh cho Tăng Ni, Phật tử đúng với tinh thần Từ Bi, Trí Tuệ và Giải Thoát của đạo Phật.

          b.- Tiếp nối tinh thần phụng sự Đạo Pháp và dân tộc được truyền thừa suốt hơn 2000 năm qua của Phật giáo Việt Nam và cũng là lý tưởng hành hoạt của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất từ khi thành lập năm 1964.”

          Chứng tích lịch sử Phật giáo hải ngoại, “Dấu Thời Gian” đã đưa người đọc từ khúc quanh lịch sử này đến khúc quanh lịch sử khác, như là sự vận động thành lập Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ năm 1992 tại San Jose, Bắc Cali. . . tuần tự suốt thời gian làm việc mấy nhiệm kỳ cho đến ngày nội bộ bị phân hóa, xẻ đôi. Sự thành lập Văn phòng Điều Hợp Liên Châu Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, cũng như các chứng tích lịch sử khác, tác giả đã dày công sưu khảo và góp nhặt tài liệu để tập thành “Dấu Thời Gian” cống hiến bạn đọc và hậu thế thấy rõ sự thành công cùng những nỗi truân chuyên, cay đắng của Phật Giáo Hải Ngoại, để cùng suy gẫm về bài học lịch sử và những kinh nghiệm đã trải qua ngõ hầu tránh được chông gai trên con đường hoằng dương Phật pháp sau này.

          Đọc “Dấu Thời Gian” không phải là đọc sự tư duy sáng tạo mà là đọc những chứng tích lịch sử thời đại, chứng nhân cùng những tâm tình được khơi dậy trong lòng tác giả xuyên qua những chặng đường thời gian, đúng như : “Dấu Thời Gian” vậy.

          3.- Những Bài Viết Từ Cảm Xúc – Tính Gắn Bó Với Người

          Đọc những bài viết ngắn của tác giả như tùy bút, tự thuật, hồi ký . . . chúng ta thấy tình cảm của tác giả với người trong truyện thật chân thành, thắm thiết, thể hiện hết cả tấm lòng như “Tách Trà Còn Nóng”. Nóng ở đây như giọt nước mắt “Nóng” nhỏ xuống để kính, để thương bậc Tôn túc đã hy hiến thân mạng cho Đại cuộc – Dân tộc và Đạo pháp được trường tồn. Rồi những bài tiếp theo “45 Ngày Du Hóa Âu Châu” hoặc “Lần Đầu Đến Xứ Úc”, “Ôn Già Lam”, “Một Kỷ Niệm Khó Quên với Ôn Huyền Quang”, v.v… tất cả đã được ghi lại bằng tâm tình đơn sơ, chân thật, tác giả đã tạo dựng được hình ảnh sống động như hai người đang trò chuyện thân tình với nhau.
         “Dấu Thời Gian” dày gần 700 trang, tác giả đã không chia Chương Mục hoặc phân loại thể tài mà để cho độc giả thong dong đi suốt từ trang đầu đến trang cuối, với đầy những chứng tích lịch sử, tài liệu, nhận định, tâm tình được mô tả đơn sơ, chân thật.  
          Dẫu có giới thiệu “Dấu Thời Gian” đến thế nào đi nữa thì vẫn là những thiếu sót. Kính mong quý độc giả hãy tự mình suy gẫm, để thấy được những điều cao quý còn tồn đọng nơi đó, hãy cùng tiếp tục gạn đục lắng trong để thấy cái thật, cái hay vì đạo Phật là đạo như thật. Nội dung “Dấu Thời Gian” một phần nào mang tính sự kiện thời đại. Do vậy, cũng có người thích hoặc không thích. Nhưng “Dấu Thời Gian” là chứng tích lịch sử khách quan, cho dẫu ai đó có vo tròn bóp méo thì sự kiện lịch sử vẫn là sự kiện lịch sử.
          Đọc “Dấu Thời Gian” để cùng thấy được tâm sự đầy vơi, vui buồn của thế thường nhân sinh, lắm điều khó nghĩ. Ước mong quý độc giả chia sẻ trọn vẹn tâm tình cùng tác giả để cảm thông nỗi niềm riêng tư nếu có.

          Nguyên Siêu

 

 

 

Chân thành cảm ơn Ôn Tín Nghĩa
đã gởi tặng trang nhà Quảng Đức
phiên bản điện tử tập sách này
Nam Mô A Di Đà Phật
15-11-2015
TK Thích Nguyên Tạng

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/01/2012(Xem: 19171)
Việt Nam, là một quốc gia nằm trong vùng Đông Nam Châu Á, Bắc giáp với Trung Hoa, Đông và Nam giáp với Biển Nam Hải, phía Tây giáp với Lào và Campuchia; diện tích: 329.556 km2, dân số 70 triệu người; mật độ dân cư: 224 người/km2; dân số dưới 15 tuổi: 39, 2%; tuổi thọ trung bình: 62,7 tuổi; tử suất trẻ em: 59%; học sinh cấp Trung học : 46,9%; tôn giáo chính: Phật giáo ( những tôn giáo nhỏ khác là Khổng, Lão, Cao Đài, Hòa Hảo, Ky Tô, Tin Lành…); thể chế chính trị: Cộng Sản; Lao động (nông & ngư nghiệp): 73% dân số; truyền thông đại chúng: 7 triệu máy radio, 3 triệu máy truyền hình, Nhật báo Nhân Dân phát hành 200.000 tờ mỗi ngày; thu nhập bình quân đầu người 113 đô la.
12/01/2012(Xem: 6017)
Từ Trần Nhân Tông (ở ngôi 1279-1293) cho đến nay, Phật giáo nước ta về cơ bản vẫn chịu những ảnh hưởng bởi những thiết định của nền Phật giáo do dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, trực tiếp là nhà vua-thiền sư Trần Nhân Tông, đệ nhất Tổ thiết lập. Chúng ta sẽ tìm hiểu thời kỳ này qua hai giai đoạn: giai đoạn từ vua Trần Nhân Tông đến chúa Nguyễn Phúc Chu và từ chúa Nguyễn Phúc Chu đến cận đại.
12/01/2012(Xem: 5258)
Đây là một thời kỳ đặc biệt của Phật giáo Việt Nam, và đỉnh cao của nó là sự thành lập các nhà nước Phật giáo thời Lý, Trần với các chiến công hiển hách không chỉ trong việc nhiều lần đánh bại đế quốc xâm lược Nguyên-Mông bảo vệ trọn vẹn ranh giới của Tổ quốc, mà còn vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng đất nước và mở mang bờ cõi. Giai đoạn này đặc biệt sôi nổi với phong trào vận động xây dựng nền độc lập lâu dài cho nước ta, cùng với sự xuất hiện của các dòng Thiền lớn.
12/01/2012(Xem: 5836)
Phật giáo từ Ấn Độ du nhập Việt Nam đã trên hai ngàn năm. Ngay từ rất sớm, Phật giáo đã được tiếp nhận và trở thành một tư tưởng chủ đạo trong nền văn hóa dân tộc, dĩ nhiên là sau khi đã bản địa hóa Phật giáo. Suốt hơn hai ngàn năm lịch sử, Phật giáo luôn đồng cam cộng khổ với vận mệnh thăng trầm của xứ sở, trong công cuộc chống ngoại xâm cũng như sự nghiệp dựng nước, mở mang bờ cõi, đánh bạt âm mưu xâm lăng và nô dịch về văn hóa của thế lực phương Bắc trong nhiều giai đoạn.
16/12/2011(Xem: 4966)
Trước đây, chúng ta đã biết thống kê đầu tiên về tình trạng thiểu số hóa Phật giáo ở Việt Nam, đó là thống kê của Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương, công bố qua sách “Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009”, nhà xuất bản Thống kê xuất bản.
19/11/2011(Xem: 7977)
Trong thời gian qua trên các phương tiện truyền thông Internet đã có những bài viết và phim ảnh ngụy tạo nhằm đánh phá Phật Giáo một cách tinh vi và có hệ thống qua việc xuyên tạc và mạo hóa lịch sử. Sự thật của lịch sử Phật Giáo Việt Nam trong ngày 11/6/1963 đã bị các thế lực thù nghịch Phật Giáo bóp méo, đặc biệt là tuyên truyền chuyện “đốt Hoà thượng Thích Quảng Đức”, như một đoạn phim “Youtube.com”, diễn lại toàn cảnh Hoà Thượng Thích Quảng Đức “bị thiêu”.
10/10/2011(Xem: 21640)
Khi tại thế, Ðức Phật đi hoằng hóa nhiều nước trong xứ Ấn Ðộ, đệ tử xuất gia của ngài có đến 1250 vị, trong đó có Bà Ma Ha Ba Xà Ba Ðề...
06/10/2011(Xem: 11544)
Không phải đến ngày 04.01.1964 khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập và công bố bản Hiến Chương GHPGVNTN thì mới có sự hợp nhất. Nguyện vọng thống nhất các tổ chức, hội đoàn Phật giáo toàn quốc đã được hoài bão từ lâu, chí ít là từ phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thập niên 1930, và đã được hình thành bằng một tổ chức thống hợp vào năm 1951 với danh xưng Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, qui tụ 51 đại biểu của 6 tập đoàn Bắc, Trung, Nam.
15/09/2011(Xem: 4865)
Trên quả Đại hồng chung chùa Thiên Mụ đúc năm 1710, chúa Nguyễn Phúc Chu (1675 - 1725) đã cho khắc những dòng chữ như sau: “Quốc chúa Đại Việt Nguyễn Phúc Chu, nối dòng Tào Động chánh tông đời thứ 30, pháp danh Hưng Long đúc hồng chung này nặng 3.285 cân an trí ở chùa Thiên Mụ thiền tự để vĩnh viễn cung phụng Tam bảo. Cầu nguyện gió hòa mưa thuận quốc thái dân an, chúng sinh trong pháp giới đều hoàn thành Đại viên chủng trí. Năm Vĩnh Thịnh thứ 6, ngày Phật đản tháng Tư Canh Dần”(1).
10/08/2011(Xem: 9640)
Bài kệ "Hữu cú vô cú" đã có nhiều người dịch, ngoài các bản dịch còn có bản giảng giải của Hòa Thượng Thích Thanh Từ. Tuy nhiên theo thiển ý của tôi hầu hết các bản dịch cũng như lời giảng vẫn còn nhiều chỗ chưa rõ ràng, nhất quán và thỏa đáng. Vì vậy tôi xin dịch và giảng lại bài này trong cách hiểu biết của tôi.