Phật giáo Việt Nam thiểu số hóa từ một thống kê mới

16/12/201122:38(Xem: 5030)
Phật giáo Việt Nam thiểu số hóa từ một thống kê mới


chua_mot_cot
Trước đây, chúng ta đã biết thống kê đầu tiên về tình trạng thiểu số hóa Phật giáo ở Việt Nam, đó là thống kê của Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương, công bố qua sách “Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009”, nhà xuất bản Thống kê xuất bản.


Mới đây lại xuất hiện một số liệu thống kê mới, đăng trên wikipedia tiếng Anh, do Trung tâm Nghiên cứu Pew thực hiện.

1) Trung tâm Nghiên cứu Pew (Pew Research Center) là một thinktank Hoa Kỳ, đặt trụ sở ở Washington DC, cung cấp thông tin về các vấn đề xã hội, dư luận, nhân khẩu học tại Hoa Kỳ và trên thế giới.

Trang web của Trung tâm Nghiên cứu Pew là PewResearch.org.

2) Thống kê mới và hàng đầu trên Wikipedia tiếng Anh

Thật tình, danh xưng Trung tâm Nghiên cứu Pew còn xa lạ với tôi. Vì vậy, tôi hơi bất ngờ khi thấy kết quả thống kê tôn giáo ở Việt Nam của Trung tâm Nghiên cứu Pew được trích dẫn trên Wikipedia tiếng Anh, mục từ “Religion in Vietnam”. Bản cập nhật của mục từ này được viết dưới quan điểm của Trung tâm Nghiên cứu Pew. Và ngoài số liệu thống kê của Pew, mục từ nói trên chỉ dẫn lại thêm một thống kê nữa, mà gọi là của Chính phủ Việt Nam (xin xem 2 đồ biểu trên mục từ nói trên ở Wikipedia tiếng Anh). Ngoài tiếng Việt, tiếng Anh, mục từ tương ứng nói trên chỉ có tiếng Nga, thì bản tiếng Nga cũng viết cùng nội dung trên, cũng chỉ 2 nguồn thống kê. Trong đó, thống kê của Trung tâm Nghiên cứu Pew được đưa lên hàng đầu và chi phối nội dung mục từ.

Khi tìm thông tin về tôn giáo ở Việt Nam, thì các công cụ hỗ trợ luôn đưa thông tin từ Wikipedia tiếng Anh lên ở vị trí trước tiên. Vì vậy, tất nhiên, chúng ta phải quan tâm đến nội dung mục từ tương ứng về tôn giáo trên Wikipedia tiếng Anh, dù rằng có thể chưa nhất trí với nội dung ở đó.

3) Phật giáo Việt Nam thiểu số hóa theo thống kê của Trung tâm Nghiên cứu Pew

Nội dung theo thống kê của Trung tâm Nghiên cứu Pew được đưa lên ngay ở ngữ đoạn đầu tiên trong nội dung mục từ “Religion in Vietnam”. Biểu đồ theo Trung tâm Nghiên cứu Pew cũng là biểu đồ đầu tiên.

Nội dung mục từ có thể tạm dịch như sau: Theo số liệu của Pew Forum, hầu hết người Việt thực hành tôn giáo bản địa, thờ cúng thần linh địa phương, các vị thần và mẫu thần (45,3%) như các tôn giáo đã trải qua hồi phục từ những năm 1980. Phật giáo là tôn giáo lớn thứ hai với 16,4% dân số (xác định rõ bằng cụm từ “second largest religion”) khoảng 8% người Việt là Ki tô hữu (hầu hết là Ca tô), và khoảng 30% là tôn giáo không liên kết.

Tính chất “second” của Phật giáo Việt Nam được thể hiện trong cấu trúc bài viết. Trong đó, trong phần “Tôn giáo bản địa”, mục 3, chỉ kể đầu tiên và duy nhất đạo Mẫu.
Trong phần Phật giáo, loạt bài “Cảnh quan các tôn giáo toàn cầu”, mục Tôn giáo, trang Pew Research, việc xác định các quốc gia có Phật giáo là đa số được xác định rõ, tất nhiên không có Việt Nam. Tạm dịch nguyên văn đoạn xác định Phật giáo đa số như sau:

“Bảy quốc gia có đa số Phật giáo: Campuchia, Thái Lan, Miến Điện (Myanmar), Bhutan, Sri Lanka, Lào và Mông Cổ. Chẳng những, Việt Nam không có trong danh sách này mà nhiều nước và vùng lãnh thổ có Phật giáo là tôn giáo truyền thông cũng đã bị loại, nhưng Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc, Đài Loan. Cũng trong bản thống kê trong bài viết trên, số tín đồ Phật giáo Việt Nam được xác định là 14.380.000 người, tức 16,4% dân số”.

Đáng chú ý là phần Phật giáo, mục 4, trong nội dung mục từ nói trên, Wikipedia tiếng Anh, gồm 4 tôn giáo là:

4.1 Tịnh độ Tông
4.2 Bửu Sơn Kỳ Hương
4.3 Hòa Hảo
4.4 Tứ Ân Hiếu Nghĩa

Quan điểm như thế, xem đạo Mẫu như một tôn giáo và coi là tôn giáo đa số ở Việt Nam, xếp Phật giáo Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương… vào Phật giáo có thể được coi là rất lạ, so với đơn vị tiến hành thống kê ở Mỹ (trong khi đó Cao Đài được xếp tách biệt, sau Chính thống giáo Ki tô và trước Đạo Dừa).

Chúng tôi dẫn lại ở đây thống kê được nêu trên mục từ “Tôn giáo ở Việt Nam” trong Wikipedia tiếng Anh với tinh thần chấn hưng Phật giáo. Chấn hưng Phật giáo thực sự đã trở thành một nhu cầu cấp thiết, khi trên Wikipedia tiếng Anh, 2 thống kê được trích dẫn thì đều đã thể hiện xu hướng thiếu số hóa. Trong đó, thống kê hàng đầu và được lấy làm căn bản của bài viết mục từ “Tôn giáo ở Việt Nam”, Wikipedia, đã cho thấy Phật giáo là tôn giáo thiểu số, tôn giáo đứng thứ hai.

Thống kê của Ban Chỉ đạo Tổng Điều tra dân số nhà ở Trung ương thường được gọi tắt Thống kê của Chính phủ, chưa đề cập đến Đạo Mẫu, vì đạo này chưa được công nhận. Nếu cuộc thống kê dân số kế tiếp có tính cả đạo Mẫu, thì liệu con số tín đồ Phật giáo Việt Nam sẽ giảm xuống bao nhiêu?

Trong một kỳ họp Quốc hội mới đây, đã có một đại biểu đề xuất công nhận đạo Mẫu là một tôn giáo ở Việt Nam. Quan điểm này không khác với quan điểm của Trung tâm Nghiên cứu Pew. Không rõ đây là việc ngẫu nhiên, hay quan điểm của Trung tâm Nghiên cứu Pew đã có ảnh hưởng rộng lớn?

Nếu so sánh 2 nguồn thống kê đăng trên Wikipedia tiếng Anh, chúng tôi coi số liệu của “Chính phủ” là đáng tin cậy hơn, vì Trung tâm Nghiên cứu Pew chắc chắn là đã không tiến hành được một cuộc tổng điều tra toàn quốc như Chính phủ Việt Nam đã làm năm 2009. Phụ lục về nguồn dữ liệu của Trung tâm Nghiên cứu Pew cũng đề cập nhiều đến yếu tố ước tính. Tuy nhiên, nó được Wikipedia tiếng Anh sử dụng nên cũng không thể xem thường, vì nó sẽ phục vụ cho bạn đọc mạng toàn thế giới, và là từ điển bách khoa có nhiều nhiều độc giả nhất.

Và như thế, thì đối với thế giới, mà phần lớn bạn đọc tiếp nhận thông tin qua mạng, thì ở Việt Nam, Phật giáo đã trở thành tôn giáo đứng hàng thứ hai, tôn giáo thiểu số.

Vì vậy, một lần nữa, xin lặp lại lời kêu gọi chấn hưng Phật giáo.

MT

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/04/2012(Xem: 4778)
Đạo Phật truyền vào Việt Nam từ đầu kỷ nguyên dương lịch. Từ thời sơ nguyên ấy đến nay, trải bao triều đại suy-thịnh, phế-hưng, đất nước có khi đổi tên theo các triều đại, chính thể, nhưng Đạo Phật Việt vẫn là một dòng chảy nhất quán, bất tuyệt suốt 2000 năm. Nhất quán không phải là sự đồng nhất, không thay đổi nơi danh xưng tổng hội, giáo hội…; cũng không phải từ những ngôi vị tăng trưởng, đạo thống, tăng thống... Nhất quán là ở chỗ đồng tâm hiệp ý về bản hoài hoằng dương chánh pháp để phục vụ nhân loại và dân tộc. Nhờ bản hoài này mà Đạo Phật có thể song hành với đất nước và dân tộc một cách hài hòa, tương hợp theo chiều dài lịch sử.
29/01/2012(Xem: 19342)
Việt Nam, là một quốc gia nằm trong vùng Đông Nam Châu Á, Bắc giáp với Trung Hoa, Đông và Nam giáp với Biển Nam Hải, phía Tây giáp với Lào và Campuchia; diện tích: 329.556 km2, dân số 70 triệu người; mật độ dân cư: 224 người/km2; dân số dưới 15 tuổi: 39, 2%; tuổi thọ trung bình: 62,7 tuổi; tử suất trẻ em: 59%; học sinh cấp Trung học : 46,9%; tôn giáo chính: Phật giáo ( những tôn giáo nhỏ khác là Khổng, Lão, Cao Đài, Hòa Hảo, Ky Tô, Tin Lành…); thể chế chính trị: Cộng Sản; Lao động (nông & ngư nghiệp): 73% dân số; truyền thông đại chúng: 7 triệu máy radio, 3 triệu máy truyền hình, Nhật báo Nhân Dân phát hành 200.000 tờ mỗi ngày; thu nhập bình quân đầu người 113 đô la.
12/01/2012(Xem: 6104)
Từ Trần Nhân Tông (ở ngôi 1279-1293) cho đến nay, Phật giáo nước ta về cơ bản vẫn chịu những ảnh hưởng bởi những thiết định của nền Phật giáo do dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, trực tiếp là nhà vua-thiền sư Trần Nhân Tông, đệ nhất Tổ thiết lập. Chúng ta sẽ tìm hiểu thời kỳ này qua hai giai đoạn: giai đoạn từ vua Trần Nhân Tông đến chúa Nguyễn Phúc Chu và từ chúa Nguyễn Phúc Chu đến cận đại.
12/01/2012(Xem: 5316)
Đây là một thời kỳ đặc biệt của Phật giáo Việt Nam, và đỉnh cao của nó là sự thành lập các nhà nước Phật giáo thời Lý, Trần với các chiến công hiển hách không chỉ trong việc nhiều lần đánh bại đế quốc xâm lược Nguyên-Mông bảo vệ trọn vẹn ranh giới của Tổ quốc, mà còn vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng đất nước và mở mang bờ cõi. Giai đoạn này đặc biệt sôi nổi với phong trào vận động xây dựng nền độc lập lâu dài cho nước ta, cùng với sự xuất hiện của các dòng Thiền lớn.
12/01/2012(Xem: 5935)
Phật giáo từ Ấn Độ du nhập Việt Nam đã trên hai ngàn năm. Ngay từ rất sớm, Phật giáo đã được tiếp nhận và trở thành một tư tưởng chủ đạo trong nền văn hóa dân tộc, dĩ nhiên là sau khi đã bản địa hóa Phật giáo. Suốt hơn hai ngàn năm lịch sử, Phật giáo luôn đồng cam cộng khổ với vận mệnh thăng trầm của xứ sở, trong công cuộc chống ngoại xâm cũng như sự nghiệp dựng nước, mở mang bờ cõi, đánh bạt âm mưu xâm lăng và nô dịch về văn hóa của thế lực phương Bắc trong nhiều giai đoạn.
19/11/2011(Xem: 8051)
Trong thời gian qua trên các phương tiện truyền thông Internet đã có những bài viết và phim ảnh ngụy tạo nhằm đánh phá Phật Giáo một cách tinh vi và có hệ thống qua việc xuyên tạc và mạo hóa lịch sử. Sự thật của lịch sử Phật Giáo Việt Nam trong ngày 11/6/1963 đã bị các thế lực thù nghịch Phật Giáo bóp méo, đặc biệt là tuyên truyền chuyện “đốt Hoà thượng Thích Quảng Đức”, như một đoạn phim “Youtube.com”, diễn lại toàn cảnh Hoà Thượng Thích Quảng Đức “bị thiêu”.
10/10/2011(Xem: 22535)
Khi tại thế, Ðức Phật đi hoằng hóa nhiều nước trong xứ Ấn Ðộ, đệ tử xuất gia của ngài có đến 1250 vị, trong đó có Bà Ma Ha Ba Xà Ba Ðề...
06/10/2011(Xem: 11607)
Không phải đến ngày 04.01.1964 khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập và công bố bản Hiến Chương GHPGVNTN thì mới có sự hợp nhất. Nguyện vọng thống nhất các tổ chức, hội đoàn Phật giáo toàn quốc đã được hoài bão từ lâu, chí ít là từ phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thập niên 1930, và đã được hình thành bằng một tổ chức thống hợp vào năm 1951 với danh xưng Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, qui tụ 51 đại biểu của 6 tập đoàn Bắc, Trung, Nam.
15/09/2011(Xem: 4905)
Trên quả Đại hồng chung chùa Thiên Mụ đúc năm 1710, chúa Nguyễn Phúc Chu (1675 - 1725) đã cho khắc những dòng chữ như sau: “Quốc chúa Đại Việt Nguyễn Phúc Chu, nối dòng Tào Động chánh tông đời thứ 30, pháp danh Hưng Long đúc hồng chung này nặng 3.285 cân an trí ở chùa Thiên Mụ thiền tự để vĩnh viễn cung phụng Tam bảo. Cầu nguyện gió hòa mưa thuận quốc thái dân an, chúng sinh trong pháp giới đều hoàn thành Đại viên chủng trí. Năm Vĩnh Thịnh thứ 6, ngày Phật đản tháng Tư Canh Dần”(1).
10/08/2011(Xem: 9855)
Bài kệ "Hữu cú vô cú" đã có nhiều người dịch, ngoài các bản dịch còn có bản giảng giải của Hòa Thượng Thích Thanh Từ. Tuy nhiên theo thiển ý của tôi hầu hết các bản dịch cũng như lời giảng vẫn còn nhiều chỗ chưa rõ ràng, nhất quán và thỏa đáng. Vì vậy tôi xin dịch và giảng lại bài này trong cách hiểu biết của tôi.