10_“Phục hồi môi trường để tạo sống chung hài hòa”

13/11/202417:00(Xem: 2253)
10_“Phục hồi môi trường để tạo sống chung hài hòa”
day 2-hoi thao (50)

“Phục hồi môi trường để tạo sống chung hài hòa”
  
Bhikkhu Sanghasena, Sáng lập viên và Chủ tịch, Mahabodhi Trung Tâm Thiền Quốc tế Ladakh, India
Phó Chủ tịch, Hội Đồng Tăng Già Phật giáo (WBSC)


Tôi xin gửi những lời chào ấm áp nhất từ những dãy núi cao Hi Mã Lạp Sơn (Himalyas)!

Tôi xin cảm ơn văn phòng trung ương Hội Đồng Tăng Già Phật Giáo Thế Giới (WBSC) đã mời tôi viết một bài ngắn về đề tài “Phục hồi môi trường để tạo sống chung hài hòa”. Tôi nghĩ răng WBSC đã rất sáng suốt và đúng dắn khi chọn vấn đề rất quan trọng này để nói về những thách thức rất nghiêm trọng mà thế giói ngày nay phải đối diện.

Đạo Phật có nhiều thành viên Tăng già được thụ phong nhất trên thế giới và chính vì vậy Đạo Phật có một sức mạnh và tiềm năng lớn lao để tạo ảnh hưởng và thay đổi cách ứng xử của con người và thái độ của họ với các vấn đề này.

Vì tôi tới từ Ladakh, nằm trên rặng Himalayas cao ngất, tôi muốn chia sẻ những thách thức cụ thể và nghiêm trọng mà chúng ta đang đối đầu trong một vùng quan trọng về mặt địa lý và có môi trường dễ bị tổn thương. “Him” có nghĩa là tuyết và “alaya” có nghĩa là núi. Những núi tuyết này cũng còn được gọi là “cực thứ ba” vì chúng là quần thể tuyết và nước đá lớn thứ ba trên hành tinh của chúng ta, sau Nam cực và Bắc cực.

Những sông băng đá (glaciers) của dãy Himalayas, "cực thứ ba", tiếp tế nguồn sống cho những con sông khổng lồ của Á Châu và  nuôi sống phân nửa nhân loại. Rặng Himalayas Lớn có khối nước đá lớn nhất ngoài những vùng Nam và Bắc cực và là nơi bắt nguồn của 10 con sông lớn nhất Á Châu: Amu Darya Indus, Ganges, Brahmaputra, Irrawaddy, Salween, Mekong, Yangtze, Yellow, và Tarim. Tính chung, các lưu vực này cung cấp nước cho khoảng 1.3 tỷ người và vô số súc vật.

Tại vùng Ladakh trên dãy Himalayas, thay đổi khí hậu có những hậu quả sâu xa. Tuyết và nước đá tan chảy là những nguồn nước duy nhất tại Ladakh, và 90% nông dân tùy thuộc vào lượng nước này để tưới ruộng vườn và sinh sống. Nông nghiệp cần nước đúng lúc đặc biệt trong mùa trồng trọt ngắn ngủi. Nước đá tan chảy từ rặng Himalayas là nguồn nước ngọt lớn nhất cho miền Bắc Ấn Độ và cung cấp hơn phân nửa số lượng nước của sông Ganges. Từ nhiều thế kỷ, tuyết và nước đá tan chảy đã giúp cho con người sống còn tại Ladakh.

Thay đổi khí hậu ảnh hưởng tới điều này! Các sông băng đá đã lùi lên ở các độ cao hơn, tại đó chúng chỉ bát đầu tan chảy vào giữa tháng Sáu. Kết quả là có một sự thiếu hụt nước trầm trọng  giữa những tháng Tư và tháng Bảy, điều này gây hậu quả tai hại cho nông nghiệp. Câu hỏi mà nhiều người đang hỏi là: điều gì sẽ xảy ra khi mà các sông băng đá cuối cùng biến mất? Bớt tuyết rơi cũng có nghĩa là ít có tuyết tụ lại trên các sông băng đá, và hậu quả là ít nước chảy trong suối hơn. Thời kỳ tuyết rơi ngắn hơn mà chúng tôi đang hứng chịu mỗi mùa đông ngăn ít tuyết nào còn rơi biến  thành tinh thể đá cứng. 

Do đó, có thêm lượng sông băng đá bị tan chảy khi cái nóng của mùa hè kéo tới. Thay đổi khí hậu cũng đưa đến mưa, hơn là tuyết, đổ trên những nơi ở độ cao hơn nữa. Điều này cũng làm cho các sông băng đá tăng tốc tan chảy. Trong khi đó, các cơn mưa lớn, trước dây không ai biết dến chúng trên vùng sa mạc ở độ cao Ladakh, đã trở nên thường xuyên hơn, gây ra ngập lụt chớp nhoáng, cuốn trôi nhà cửa vườn tược, cây cối và gia súc.

Một số hậu quả tàn phá dữ dội nhất do việc nước đá tan chảy xảy ra khi các hồ đóng băng tràn bờ và hiện tượng Ngập Lụt do Hồ Đóng Băng Tràn Bờ (( Glacial Lake Outburst Floods (GLOFs)) diễn ra. Khí hậu thay đổi do đó đầu tiên là dẫn tới ngập lụt khắp nơi, nhưng về lâu dài khi mà tuyết biến mất sẽ có hạn hán vào mùa hè. Tren sông Ganges, lượng nước do nước đá tan chảy bị mất đi làm giảm lưu lượng thấp trong các tháng Bảy - Chín dến hai phần ba, gây ra thiếu nước cho 500 triệu người và 37 phần trăm đất được tưới.

Theo Hội Đồng Liên Chính Phủ về Thay Đổi Khí Hậu (IPCC) “ các sông băng đá trên dãy Himalayas đang lùi dần nhanh hơn ở bất cứ nơi nào trên thế giới và nếu mức lùi hiện nay tiếp tục, khả năng chúng biến mất vào năm 2035, và có thể sớm hơn rất là cao nếu trái đất tiếp tục nóng lên theo mức hiện tại”. Theo báo cáo của IPCC diện tích tổng cộng các sông băng đá trên dãy Himalayas sẽ teo lại từ 1,930,051 dặm vuông xuống còn 38,000 dặm vuông. Việc thay đổi khí hậu có thể có những hậu quả nghiêm trọng trong vùng. Nếu không được xử lý nhanh chóng, điều này có thể là một thảm họa. Cuộc sống của hàng tỷ người đang lâm nguy!

Không có thách thức nào lớn hơn cho những thế hệ hiện nay và tương lai hơn sự thay đổi khí hậu. Khi ngập lụt tràn đến, mây bùng nổ, thay đổi khí hậu diễn ra, chúng ta gọi đó là thiên tai. “Những chúng không phải là thiên tai, chúng là tai họa do con người taọ ra! Mối đe dọa nghiêm trọng mà thay đổi khí hậu đặt ra cho chính sự sống còn của chúng ta  là kết quả trực tiếp của sự can thiệp của con người vào thiên nhiên. Trong cuộc theo đuổi không ngùng nghỉ những ham muốn của chúng ta, cố gắng thỏa mãn lòng tham của mình, ngưới ta đã và tiếp tục tàn phá không xót thương sự tinh khiết của thế giới tự nhiên: làm ô nhiễm nước và không khí, phá hủy rừng cây để nhường chỗ cho nông nghiệp thương mại và tạo ta những rừng già không tự nhiên với các tòa nhà cao tầng bằng thép, xi măng, nhựa và kiếng.

Tất cả chúng ta ý thức được nhu cầu phát triển. Mọi người, từ nghèo nhất đến giàu nhất, từ ngu dốt đến học thức thật cao, từ làng xóm hẻo lánh nhất đến các thành phố lớn nhất, đều mong muốn phát triển tiên tiến. Họ muốn “hoàn toàn nói đến Phát triển” như Nước Đức hay Nhật, nhưng phát triển thực sự là gì vẫn còn là một câu hỏi lớn. Chúng ta chưa học được cách phân biệt đúng đắn giữa ham muốn phát triển theo nhu cầu và phát triển theo lòng tham. Cái mà chúng ta gọi là “phât triển”, như thể các cao ốc, kỹ thuật phức tạp vân vân đã diễn ra với một giá phải trả rất cao cho môi trường tự nhiên, đó chắc chắn không thể được coi là “phát triển”: các hệ sinh thái và chổ ở của chúng ta trong thế giới tự nhiên đang bị đe dọa. Cộng đồng nhân loại cũng phân tán và suy sụp do chính sự tiến bộ mà chúng ta đang tìm kiếm, gây ra bất an, sợ hãi và tranh chấp trên khắp thé giới.

Vì con người đang ngày càng trở nên những bộ phận phụ của kỹ thuật tân tiến và thị trường thế giói, chúng ta đang đối diện một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, sống còn trong khi chúng ta phải đấu tranh để xác định chỗ đứng và mục đích của mình “trong thế giới mới”. Sự thách thức căn bản truớc mặt chúng ta là thiết lập một sự cân bằng toàn diện và hài hòa giữa những gì bề ngoài có vẻ như những lực và ưu tiên đối chọi nhau, bồi đắp lập một sự cân bằng toàn diện và hài hòa giữa phát triển đạo đức, xã hội và tâm lý, trau dồi một sự cân bằng toàn diện và hài hòa giữa khoa học và tôn giáo.

Sự phát triển kinh tế không đúng đắn đang tàn phá cấu trúc của đời sống: không khí, nước, cây cối, đất. Bất cứ hình thức phát triển nào mà đe dọa cấu trúc cuộc sống không được coi là “phát triển”. Tất cả mọi cố gắng của chúng ta phải nhằm chận đứng kiểu “phát triển” như vậy.  

 

 

“Con đường Trung Đạo” của Đức Phật:

Đức Phật đã chứng tỏ là người bảo vệ môi trường và sinh thái vĩ đại nhất. Ngài được sinh ra dưới gốc cây và thực hành thiền trong rừng. Ngài đạt giác ngộ dưới gốc cây và sống suốt đời, cùng với hàng ngàn đệ tử dưới gốc cây. Ngài chứng tỏ sự tôn trọng cao độ đối với thiên nhiên: yêu thương súc vật và bảo vệ môi trường. Ngài dạy đệ tử không phung phì dù chỉ một giọt nước, không cắt dù chỉ một cái lá mà không có lý do thật chính đáng. Những lời dạy của Đức Phật trong Tứ Diệu Đế nằm ngay trong tâm điểm triết lý và cuộc sống giác ngộ. Đó là Trung Đạo (Majjhimā-patipadã) vì đường này tránh hai thái cực: một thái cực là đi tìm hạnh phúc qua khoái lạc của giác quan, điều này được coi là thấp kém, bình dân, không có lợi và là cách của những người tầm thường; thái cực kia là đi tìm hạnh phúc qua việc tự hành hạ thân xác và đi theo những hình thức khổ hạnh, điều này được coi như gây đau đớn, không đáng để làm và không có lợi. Sau khi chính mình đã trải qua những thái cực này và nhận ra chúng không có hiệu quả Đức Phật khám phá ra, một lần nữa bằng kinh nghiệm của chính bản thân, “Con Đường Trung Đạo”, con đường đưa đến tầm nhìn xa và hiểu biết, dẫn đến bình an, sáng suốt, giác ngộ, niết bàn. Con Đường Trung Đạo thường được gọi là Bát Chánh Đạo (Ariya Atthangika Magga) vì gồm có tám loại.

Đức Phật đạt đến Con Đường Trung Đạo thông qua chính kinh nghiệm sống của mình, đầu tiên là người thừa hưởng một ngai vàng, sống cuộc đời khoái lạc; về sau là con người tâm linh từng trải nghiệm khổ hạnh. Sau khi nhận ra là không có thái cực nào – buông thả lẫn tự chối từ thân mình – đem đến sự mãn nguyện, Ngài bênh vực cho Con Đường Trung Đạo, một cách tuyệt hảo, cân bằng bên trong mỗi con người với bên ngoài và một sự ôn hòa dựa trên sống theo Bát Chánh Đạo, điều này bao gồm đúng đắn trong nhận thức, chủ ý, lời nói, hành động, cuộc sống, cố gắng, quan tâm và tập trung. Nhận diện lòng tham, thù hận và hoang tưởng là những vấn nạn căn bản của cá nhân, gia đình và thế giới, Đức Phật ủng hộ cho vô ngã và việc trau dồi trí tuệ, lòng độ lượng và từ bi, coi đây như là nền móng cho hạnh phúc của nhân loại, trong khi những lời Phật dạy và “Con Đường Trung Đạo” hướng về giác ngộ của cá nhân. Những điều này cũng quan trọng và đóng vai trò thực tiễn trong việc thay đổi xã hội mà nhiều người thấy rất cần thiết ngày nay.

Những lời Phật dạy về bất bạo động, sự dung thứ, ôn hòa, rộng lượng và từ bi không chỉ giới hạn trong giới Phật tử. Những giáo lý và đạo đức trong “Con Đường Trung Đạo” áp dụng được và thích hợp cho toàn nhân loại. Học giả và thày tu người Mỹ Bhikkhu Bodhi viết:” Con Đường Trung Đạo” không phải là sự thỏa hiệp giữa hai thái cực mà là một con đường vươn lên cao bên trên hai thái cực đó, tránh những chỗ bẫy mà chúng đưa “Con Đường Trung Đạo” vào, con đường này là một lựa chọn khác thay cho những hệ tư tưởng cực đoan. Sự ổn định và hạnh phúc, theo định nghĩa, đòi hỏi sự cân bằng và ôn hòa, không thiên vị, dù cho đó là tiêu thụ nhiều quá hay ít quá, một nền kinh tế trì trệ hay tăng trưởng dồn dập.

“Con Đường Trung Đạo” của Đức Phật nhấn mạnh sự chủ ý đúng: những hình thức đạo đức như sự rộng lượng, từ bi và trí tuệ soi sáng quá trình quyết định về những vấn đề phát triển, sản xuất và tiêu thụ tân tiến, bao gồm việc sử dụng các kỹ thuật tân tiến, những ký thuật thân thiện với môi trường và tốt cho hệ sinh thái, nói cách khác là “ổn định”. Chúng ta hãy áp dụng công thức trong “Tứ Diệu Đế” của Phật (CattariAriyasaccâni) vào vấn đề trọng đại là thay đổi khí hậu và sự hủy hoại  môi trường:

Thánh đế thứ nhất là đau khổ

Thánh đế thứ hai là nguyên nhân của đau khổ

Thánh đế thứ ba là sự chấm dứt đau khổ

Thánh đế thứ tư là con đường hay cách dẫn đến chấm dứt đau khổ

Giờ đây, sự đau khổ của thời đại chúng ta là thay đổi khí hậu và sự hủy hoại môi trường; đây là thánh đế đầu tiên. Thánh đế thứ hai, lý do của khủng hoảng môi trường hay đâu khổ, là sự tham lam của con người. Khi cố gắng thỏa mãn lòng tham con người đang làm ô nhiễm và tàn phá môi trường tự nhiên. Thánh đế thứ ba là sự bảo đảm có một giải pháp giúp loại bỏ cuộc khủng hoảng môi trường của chúng ta và mọi đau khổ nảy sinh từ cuộc khủng hoảng đó.

Khủng hoảng thay đổi khí hậu bao vây thế giới là do con người tạo ra. Do đó, bất kỳ điều gì được con người tạo ra có thể được chận lại và chúng ta có khả năng để chận chúng lại. Thánh đế thứ tư là con đường, kỹ thuật hay những cách và phương tiện dùng để chận những cách ứng xử của con người đang tạo ra khủng hoảng thay đổi khí hậu. Để hiểu cách dẫn đến chỗ chấm dút sự hủy hoại môi trường và thay đổi khí hậu chúng ta cần phân biệt giữa lòng tham và nhu cầu chân chính. Chúng ta cần hiểu là lòng tham/ích kỷ luôn luôn là nguyên do của đau khổ.. Sự đau khổ của chúng ta giờ đây là sự thay đổi khí hậu và sự hủy hoại môi trường do lòng tham của con người. Do đó, mọi hoạt động phát triển gây ra thay đổi khí hậu và hủy hoại môi trường phải được chận đứng ngay tức khắc.

 

Cầu xin nền đạo đức, sự mãn nguyện và lòng độ lượng phổ biến và lan tỏa

Cầu xin con ma lòng tham và mọi hoạt động không thân thiện vói môi trường và sinh thái chấm dút và biến mất

Cầu xin mọi người thực sự phát tâm tôn trọng, chăm lo, thương yêu, mở rộng lòng độ lượng và từ bi với mẹ trái đất, nước, cây và súc vật

Cầu xin mọi người không bao giờ sử dụng các tài nguyên thiên nhiên nhiều hơn thật sự cần thiết

Cầu xin trí tuệ phổ biến rộng khắp cho mọi người cùng làm việc để cứu hành tinh đẹp đẽ này!

Cầu xin những mục tiêu của Thượng Đỉnh Phát Triển Ổn Định 2015 thành công!

Cầu xin cho nhân loại lớn lên với cơ thể mạnh mẽ

Cầu xin cho nhân loại lớn lên với tinh thần chói sáng

Cầu xin cho nhân loại lớn lên với nền văn hóa giàu có

Cầu xin cho nhân loại lớn lên với tinh thần đạo đức đồ sộ

Cầu xin cho nhân loại lớn lên với giác ngộ tâm linh

Cầu xin cho nhân loại lớn lên với hài hòa xã hội

Cầu xin cho nhân loại lớn lên với vật chất phồn thịnh

Cầu xin cho nhân loại lớn lên trong tình thân thiện trên khắp trái đất

Cầu xin cho nhân loại lớn lên trong môi trường hòa bình

 

Chơn Thanh Chu Bảo Cảnh chuyễn ngữ

 

***HẾT***

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/06/2016(Xem: 13081)
Tôi tới một miền quê, kề bên một trận địa vào một buổi chiều hoe nắng. Ở đây, cánh đồng loáng nước nằm dài vắng bóng người nông dân cần mẫn. Nhìn vào thôn xóm không một bóng người, khóm tre xơ xác, mái im lìm ! Qua một đêm, ngủ đỗ, sáng hôm sau trở dậy lên đường. Trong ánh nắng sớm mai, đố ai biết có gì đổi khác. Nhìn vào thôn xóm vẫn không một bóng người, vẫn khóm tre xơ xác, mái tranh im lìm. Nhưng giải đồng loáng nước chiều qua đã xanh rì ngọn mạ. Tôi nghĩ tới bóng trăng đêm trước, đến những đoàn người lũ lụt trở về đây, đến những bàn tay mềm mại cấy từng hàng mạ trên giải đồng rộng mênh mông. Trong lúc bom đạn cứ tơi bời trên các đô thành làng mạc, trong lúc chiến tranh cứ tiếp tục gieo rắc tang tóc và đổ nát thì ở đây, nguời dân ViệtNam thản nhiên gieo nguồn sống. Nhành lúa mới như một tuổi xuân vùng trổi dậy, tượng trưng cho sức sống mảnh liệt cho cả một dân tộc. (tác giả Thích Nhất Hạnh)
19/05/2016(Xem: 50581)
Bắt đầu từ ngày 06 tháng 4 năm 2016, cá biển tự nhiên và cá nuôi lồng bè của ngư dân ven biển chết hàng loạt, bắt nguồn từ khu kinh tế Vũng Áng (thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh), lan xuống các tỉnh lân cận (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam-Đà Nẵng…) suốt dọc trên 200 cây số bờ biển. Ngay cả rạn san hô, “nhà ở” của các sinh vật dưới biển, cách bờ biển từ 1-6 hải lý, chạy dài từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh Quảng Bình, cũng đã bị phá hủy trong các đợt cá chết vừa qua; san hô chết, nhiều sinh vật biển chết theo (theo báo cáo ngày 06.5.2016 của chính quyền địa phương thôn Nhân Nam, xã Nhân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình).
01/05/2016(Xem: 7305)
Tỳ Kheo Ni Thubten Chodron trở thành vị nữ tu sĩ Phật Giáo kể từ năm 1977. Lớn lên tại Los Angeles, ni trưởng tốt nghiệp với bằng danh dự trong ngành lịch sử từ Đại Học UCLA và tốt nghiệp ngành giáo dục tại Đại Học USC. Sau nhiều năm nghiên cứu và dạy Phật Học tại Châu Á, Châu Âu, và Hoa Kỳ, ni trưởng trở thành người khai sơn và trú trì Tu Viện Sravasti Abbey tại Tiểu Bang Washington
27/12/2015(Xem: 7173)
Thiên Đồng Thiền Tự (天童禅寺) nằm tại làng Thiên Đồng ở dưới chân núi Thái Bạch của Ngân huyện, thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang và được gọi là "Đông Nam Phật Quốc-東南佛國" hay “Ninh Ba Thiên Đồng Thiền Tự Pháp Vân Tuệ Nhật Thiên Phật Thiên Tăng- 寧波天童禪寺法雲慧日千佛千僧” vì là một trong năm Tòng lâm lớn nhất Trung Quốc. Ngôi Già lam Cổ Tự được kiến tạo vào đầu thế kỷ thứ IV, đời Tây Tấn năm Vĩnh Khang Nguyên (300), ban đầu chỉ là một Thảo am trên diện tích rất nhỏ nhưng theo thời gian đã lên đến 45 nghìn mét vuông, có đến khoảng 20 quần thể kiến trúc cổ như Thiên Vương điện, Đại Hùng Bảo điện, Thiên Phật các, Ngự Thư lâu, Hồi Quang lâu, Phản Minh lâu, Chung lâu, Pháp đường, Lục Thảo đường, Giới đường, La Hán đường . . . Điện đường, Lầu, Gác, Phòng liêu có đến 30 tòa, gồm 999 gian điện thất rất quy mô hùng vĩ. Hiện còn 730 gian, diện tích 7.640.000 mét vuông, diện tích xây dựng 28.800 mét vuông.
27/12/2015(Xem: 6253)
Hôm thứ Sáu, 25/12/2015, tại thành phố Nakhon Pathom, miền Trung Thái Lan đã diễn ra buổi lễ dựng Đài Tưởng niệm Sư tổ Phramongkolthepmuni, người sáng lập ra dòng thiền Dhammakaya (Pháp Thân) và cũng là Bổn sư của Ni trưởng Khun Yay, người sáng lập Trung tâm Dhammakaya (Pháp Thân Tự).
21/12/2015(Xem: 11318)
Mùa hạ năm Ất Mùi – 2015, khi đến dự hội nghị giảng sư của học viện, Thượng tọa tổng thư ký TW Giáo hội Phật Giáo Việt Nam giao cho chúng con nhiệm vụ liên lạc với ban tổ chức Diễn đàn Quốc Tế Sùng Thánh – 2015 để chuẩn bị cho phái đoàn của học viện tham dự diễn đàn. Từ hội nghị Hội đồng trị sự TW ở Sài Gòn, Thượng tọa tổng thư ký gọi điện về báo chốt danh sách thành viên phái đoàn để chính thức báo cho ban tổ chức diễn đàn làm thiệp thỉnh. Sau khi dự hội nghị Hội đồng trị sự trung ương trở về, Hòa thượng viện trưởng lại giao cho chúng con thêm một công việc lớn là xây dựng chương trình, liên lạc, bố trí sắp đặt để sau khi tham dự diễn đàn kết thúc, phái đoàn sẽ thực hiện chương trình tìm về tổ đình nơi Sơ tổ Thiền phái Tào Động Việt Nam đã cầu đạo và đắc pháp.
27/04/2015(Xem: 13290)
Tờ Thời Luận San Francisco (San Francisco Chronicle) một nhật báo lớn của Mỹ, ngày 17 tháng 9 năm 2008 có đăng một bài mang tựa: "Đạo Ki-tô đang phát triển nhanh chóng ở Mông Cổ, các nhà truyền giáo đã cải đạo cho hàng nghìn người trong khi những người Phật Giáo đang nơm nớp lo sợ là truyền thống văn hóa của mình sẽ bị mất đi" (Christianity growing fast in Mongolia, Missionaries convert thousands while Buddhists fear losing traditional culture), tác giả là Michael Khon một ký giả trong nhóm bình luận gia thời sự quốc tế trong ban biên tập của tờ báo này. Bài báo khá xưa, cách nay đã hơn sáu năm, thế nhưng cũng không hẳn là lỗi thời, bởi vì tình trạng trên đây chẳng những vẫn còn đang tiếp diễn ở Mông Cổ mà cả nhiều nơi khác trên thế giới. Bài báo cũng đã được một trang mạng Phật Giáo có tầm cỡ quốc tế với 9 thứ tiếng khác nhau là Buddachannel dịch sang tiếng Pháp và đăng tải ngày 6 tháng 2 năm 2009, với tựa ngắn hơn: "Phật Giáo Mông Cổ đang bị mất đà" (Le Bouddhisme Mongol en perte de
06/04/2015(Xem: 9274)
Khi Mâu Tử, một tri thức Tàu, tị nạn tại Giao Châu và viết trong Lý Hoặc Luận vào cuối thế kỷ thứ 2 sau tây lịch rằng, “Đất Hán chưa chắc là trung tâm của trời đất,”[1] cho thấy tại Giao Châu lúc bấy giờ, đã là một lãnh địa hùng cứ ở phương Nam không thua kém gì nước Tàu tại phương Bắc. Sử gia Lê Mạnh Thát nhận định về điều này như sau trong bộ Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam:
24/03/2015(Xem: 6000)
Tôi vẫn say mê với Phật Giáo Thái Lan từ những hình tượng lạ, bí ẩn trên các trang sách thiếu nhi – đúng ra, một phần là các hình khắc trên tường ở hai vách Chùa Xá Lợi (Sài Gòn). Đây là một ngôi chùa có ngọn tháp kiểu các chùa Bắc Tông Miền Trung, nơi tầng thứ nhì của tháp là thư viện, nơi đầy những kinh sách rất mực bí ẩn đối với bọn thiếu nhi chúng tôi lúc đó. Nhưng các vách tường chính điện là điêu khắc kiểu Phật Giáo Nam Tông, những hình tượng cổ cũng rất mực bí ẩn theo hướng chuyện cổ Jataka Tales.
22/03/2015(Xem: 9841)
Mirza Hussain mới 26 tuổi khi những kẻ chỉ huy khủng bố Taliban ấn vào tay ông khối thuốc nổ và bảo đem nó đặt vào các pho tượng Phật lớn nhất thế giới tại quê hương ông, tỉnh Bamiyan của Afghanistan. Các tượng cổ xưa được khắc sâu vào núi, từng là những pho tượng Phật cao nhất thế giới, đã bị phá hủy trong loạt hành động điên rồ của phiến quân Hồi giáo cực đoan năm 2001. Hành động đó đã tạo tiền lệ nguy hiểm cho những kẻ thuộc Nhà nước Hồi giáo tự xưng tiến hành những cuộc đập phá các di sản kiến trúc và tôn giáo thời gian gần đây.