10_“Phục hồi môi trường để tạo sống chung hài hòa”

13/11/202417:00(Xem: 2252)
10_“Phục hồi môi trường để tạo sống chung hài hòa”
day 2-hoi thao (50)

“Phục hồi môi trường để tạo sống chung hài hòa”
  
Bhikkhu Sanghasena, Sáng lập viên và Chủ tịch, Mahabodhi Trung Tâm Thiền Quốc tế Ladakh, India
Phó Chủ tịch, Hội Đồng Tăng Già Phật giáo (WBSC)


Tôi xin gửi những lời chào ấm áp nhất từ những dãy núi cao Hi Mã Lạp Sơn (Himalyas)!

Tôi xin cảm ơn văn phòng trung ương Hội Đồng Tăng Già Phật Giáo Thế Giới (WBSC) đã mời tôi viết một bài ngắn về đề tài “Phục hồi môi trường để tạo sống chung hài hòa”. Tôi nghĩ răng WBSC đã rất sáng suốt và đúng dắn khi chọn vấn đề rất quan trọng này để nói về những thách thức rất nghiêm trọng mà thế giói ngày nay phải đối diện.

Đạo Phật có nhiều thành viên Tăng già được thụ phong nhất trên thế giới và chính vì vậy Đạo Phật có một sức mạnh và tiềm năng lớn lao để tạo ảnh hưởng và thay đổi cách ứng xử của con người và thái độ của họ với các vấn đề này.

Vì tôi tới từ Ladakh, nằm trên rặng Himalayas cao ngất, tôi muốn chia sẻ những thách thức cụ thể và nghiêm trọng mà chúng ta đang đối đầu trong một vùng quan trọng về mặt địa lý và có môi trường dễ bị tổn thương. “Him” có nghĩa là tuyết và “alaya” có nghĩa là núi. Những núi tuyết này cũng còn được gọi là “cực thứ ba” vì chúng là quần thể tuyết và nước đá lớn thứ ba trên hành tinh của chúng ta, sau Nam cực và Bắc cực.

Những sông băng đá (glaciers) của dãy Himalayas, "cực thứ ba", tiếp tế nguồn sống cho những con sông khổng lồ của Á Châu và  nuôi sống phân nửa nhân loại. Rặng Himalayas Lớn có khối nước đá lớn nhất ngoài những vùng Nam và Bắc cực và là nơi bắt nguồn của 10 con sông lớn nhất Á Châu: Amu Darya Indus, Ganges, Brahmaputra, Irrawaddy, Salween, Mekong, Yangtze, Yellow, và Tarim. Tính chung, các lưu vực này cung cấp nước cho khoảng 1.3 tỷ người và vô số súc vật.

Tại vùng Ladakh trên dãy Himalayas, thay đổi khí hậu có những hậu quả sâu xa. Tuyết và nước đá tan chảy là những nguồn nước duy nhất tại Ladakh, và 90% nông dân tùy thuộc vào lượng nước này để tưới ruộng vườn và sinh sống. Nông nghiệp cần nước đúng lúc đặc biệt trong mùa trồng trọt ngắn ngủi. Nước đá tan chảy từ rặng Himalayas là nguồn nước ngọt lớn nhất cho miền Bắc Ấn Độ và cung cấp hơn phân nửa số lượng nước của sông Ganges. Từ nhiều thế kỷ, tuyết và nước đá tan chảy đã giúp cho con người sống còn tại Ladakh.

Thay đổi khí hậu ảnh hưởng tới điều này! Các sông băng đá đã lùi lên ở các độ cao hơn, tại đó chúng chỉ bát đầu tan chảy vào giữa tháng Sáu. Kết quả là có một sự thiếu hụt nước trầm trọng  giữa những tháng Tư và tháng Bảy, điều này gây hậu quả tai hại cho nông nghiệp. Câu hỏi mà nhiều người đang hỏi là: điều gì sẽ xảy ra khi mà các sông băng đá cuối cùng biến mất? Bớt tuyết rơi cũng có nghĩa là ít có tuyết tụ lại trên các sông băng đá, và hậu quả là ít nước chảy trong suối hơn. Thời kỳ tuyết rơi ngắn hơn mà chúng tôi đang hứng chịu mỗi mùa đông ngăn ít tuyết nào còn rơi biến  thành tinh thể đá cứng. 

Do đó, có thêm lượng sông băng đá bị tan chảy khi cái nóng của mùa hè kéo tới. Thay đổi khí hậu cũng đưa đến mưa, hơn là tuyết, đổ trên những nơi ở độ cao hơn nữa. Điều này cũng làm cho các sông băng đá tăng tốc tan chảy. Trong khi đó, các cơn mưa lớn, trước dây không ai biết dến chúng trên vùng sa mạc ở độ cao Ladakh, đã trở nên thường xuyên hơn, gây ra ngập lụt chớp nhoáng, cuốn trôi nhà cửa vườn tược, cây cối và gia súc.

Một số hậu quả tàn phá dữ dội nhất do việc nước đá tan chảy xảy ra khi các hồ đóng băng tràn bờ và hiện tượng Ngập Lụt do Hồ Đóng Băng Tràn Bờ (( Glacial Lake Outburst Floods (GLOFs)) diễn ra. Khí hậu thay đổi do đó đầu tiên là dẫn tới ngập lụt khắp nơi, nhưng về lâu dài khi mà tuyết biến mất sẽ có hạn hán vào mùa hè. Tren sông Ganges, lượng nước do nước đá tan chảy bị mất đi làm giảm lưu lượng thấp trong các tháng Bảy - Chín dến hai phần ba, gây ra thiếu nước cho 500 triệu người và 37 phần trăm đất được tưới.

Theo Hội Đồng Liên Chính Phủ về Thay Đổi Khí Hậu (IPCC) “ các sông băng đá trên dãy Himalayas đang lùi dần nhanh hơn ở bất cứ nơi nào trên thế giới và nếu mức lùi hiện nay tiếp tục, khả năng chúng biến mất vào năm 2035, và có thể sớm hơn rất là cao nếu trái đất tiếp tục nóng lên theo mức hiện tại”. Theo báo cáo của IPCC diện tích tổng cộng các sông băng đá trên dãy Himalayas sẽ teo lại từ 1,930,051 dặm vuông xuống còn 38,000 dặm vuông. Việc thay đổi khí hậu có thể có những hậu quả nghiêm trọng trong vùng. Nếu không được xử lý nhanh chóng, điều này có thể là một thảm họa. Cuộc sống của hàng tỷ người đang lâm nguy!

Không có thách thức nào lớn hơn cho những thế hệ hiện nay và tương lai hơn sự thay đổi khí hậu. Khi ngập lụt tràn đến, mây bùng nổ, thay đổi khí hậu diễn ra, chúng ta gọi đó là thiên tai. “Những chúng không phải là thiên tai, chúng là tai họa do con người taọ ra! Mối đe dọa nghiêm trọng mà thay đổi khí hậu đặt ra cho chính sự sống còn của chúng ta  là kết quả trực tiếp của sự can thiệp của con người vào thiên nhiên. Trong cuộc theo đuổi không ngùng nghỉ những ham muốn của chúng ta, cố gắng thỏa mãn lòng tham của mình, ngưới ta đã và tiếp tục tàn phá không xót thương sự tinh khiết của thế giới tự nhiên: làm ô nhiễm nước và không khí, phá hủy rừng cây để nhường chỗ cho nông nghiệp thương mại và tạo ta những rừng già không tự nhiên với các tòa nhà cao tầng bằng thép, xi măng, nhựa và kiếng.

Tất cả chúng ta ý thức được nhu cầu phát triển. Mọi người, từ nghèo nhất đến giàu nhất, từ ngu dốt đến học thức thật cao, từ làng xóm hẻo lánh nhất đến các thành phố lớn nhất, đều mong muốn phát triển tiên tiến. Họ muốn “hoàn toàn nói đến Phát triển” như Nước Đức hay Nhật, nhưng phát triển thực sự là gì vẫn còn là một câu hỏi lớn. Chúng ta chưa học được cách phân biệt đúng đắn giữa ham muốn phát triển theo nhu cầu và phát triển theo lòng tham. Cái mà chúng ta gọi là “phât triển”, như thể các cao ốc, kỹ thuật phức tạp vân vân đã diễn ra với một giá phải trả rất cao cho môi trường tự nhiên, đó chắc chắn không thể được coi là “phát triển”: các hệ sinh thái và chổ ở của chúng ta trong thế giới tự nhiên đang bị đe dọa. Cộng đồng nhân loại cũng phân tán và suy sụp do chính sự tiến bộ mà chúng ta đang tìm kiếm, gây ra bất an, sợ hãi và tranh chấp trên khắp thé giới.

Vì con người đang ngày càng trở nên những bộ phận phụ của kỹ thuật tân tiến và thị trường thế giói, chúng ta đang đối diện một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, sống còn trong khi chúng ta phải đấu tranh để xác định chỗ đứng và mục đích của mình “trong thế giới mới”. Sự thách thức căn bản truớc mặt chúng ta là thiết lập một sự cân bằng toàn diện và hài hòa giữa những gì bề ngoài có vẻ như những lực và ưu tiên đối chọi nhau, bồi đắp lập một sự cân bằng toàn diện và hài hòa giữa phát triển đạo đức, xã hội và tâm lý, trau dồi một sự cân bằng toàn diện và hài hòa giữa khoa học và tôn giáo.

Sự phát triển kinh tế không đúng đắn đang tàn phá cấu trúc của đời sống: không khí, nước, cây cối, đất. Bất cứ hình thức phát triển nào mà đe dọa cấu trúc cuộc sống không được coi là “phát triển”. Tất cả mọi cố gắng của chúng ta phải nhằm chận đứng kiểu “phát triển” như vậy.  

 

 

“Con đường Trung Đạo” của Đức Phật:

Đức Phật đã chứng tỏ là người bảo vệ môi trường và sinh thái vĩ đại nhất. Ngài được sinh ra dưới gốc cây và thực hành thiền trong rừng. Ngài đạt giác ngộ dưới gốc cây và sống suốt đời, cùng với hàng ngàn đệ tử dưới gốc cây. Ngài chứng tỏ sự tôn trọng cao độ đối với thiên nhiên: yêu thương súc vật và bảo vệ môi trường. Ngài dạy đệ tử không phung phì dù chỉ một giọt nước, không cắt dù chỉ một cái lá mà không có lý do thật chính đáng. Những lời dạy của Đức Phật trong Tứ Diệu Đế nằm ngay trong tâm điểm triết lý và cuộc sống giác ngộ. Đó là Trung Đạo (Majjhimā-patipadã) vì đường này tránh hai thái cực: một thái cực là đi tìm hạnh phúc qua khoái lạc của giác quan, điều này được coi là thấp kém, bình dân, không có lợi và là cách của những người tầm thường; thái cực kia là đi tìm hạnh phúc qua việc tự hành hạ thân xác và đi theo những hình thức khổ hạnh, điều này được coi như gây đau đớn, không đáng để làm và không có lợi. Sau khi chính mình đã trải qua những thái cực này và nhận ra chúng không có hiệu quả Đức Phật khám phá ra, một lần nữa bằng kinh nghiệm của chính bản thân, “Con Đường Trung Đạo”, con đường đưa đến tầm nhìn xa và hiểu biết, dẫn đến bình an, sáng suốt, giác ngộ, niết bàn. Con Đường Trung Đạo thường được gọi là Bát Chánh Đạo (Ariya Atthangika Magga) vì gồm có tám loại.

Đức Phật đạt đến Con Đường Trung Đạo thông qua chính kinh nghiệm sống của mình, đầu tiên là người thừa hưởng một ngai vàng, sống cuộc đời khoái lạc; về sau là con người tâm linh từng trải nghiệm khổ hạnh. Sau khi nhận ra là không có thái cực nào – buông thả lẫn tự chối từ thân mình – đem đến sự mãn nguyện, Ngài bênh vực cho Con Đường Trung Đạo, một cách tuyệt hảo, cân bằng bên trong mỗi con người với bên ngoài và một sự ôn hòa dựa trên sống theo Bát Chánh Đạo, điều này bao gồm đúng đắn trong nhận thức, chủ ý, lời nói, hành động, cuộc sống, cố gắng, quan tâm và tập trung. Nhận diện lòng tham, thù hận và hoang tưởng là những vấn nạn căn bản của cá nhân, gia đình và thế giới, Đức Phật ủng hộ cho vô ngã và việc trau dồi trí tuệ, lòng độ lượng và từ bi, coi đây như là nền móng cho hạnh phúc của nhân loại, trong khi những lời Phật dạy và “Con Đường Trung Đạo” hướng về giác ngộ của cá nhân. Những điều này cũng quan trọng và đóng vai trò thực tiễn trong việc thay đổi xã hội mà nhiều người thấy rất cần thiết ngày nay.

Những lời Phật dạy về bất bạo động, sự dung thứ, ôn hòa, rộng lượng và từ bi không chỉ giới hạn trong giới Phật tử. Những giáo lý và đạo đức trong “Con Đường Trung Đạo” áp dụng được và thích hợp cho toàn nhân loại. Học giả và thày tu người Mỹ Bhikkhu Bodhi viết:” Con Đường Trung Đạo” không phải là sự thỏa hiệp giữa hai thái cực mà là một con đường vươn lên cao bên trên hai thái cực đó, tránh những chỗ bẫy mà chúng đưa “Con Đường Trung Đạo” vào, con đường này là một lựa chọn khác thay cho những hệ tư tưởng cực đoan. Sự ổn định và hạnh phúc, theo định nghĩa, đòi hỏi sự cân bằng và ôn hòa, không thiên vị, dù cho đó là tiêu thụ nhiều quá hay ít quá, một nền kinh tế trì trệ hay tăng trưởng dồn dập.

“Con Đường Trung Đạo” của Đức Phật nhấn mạnh sự chủ ý đúng: những hình thức đạo đức như sự rộng lượng, từ bi và trí tuệ soi sáng quá trình quyết định về những vấn đề phát triển, sản xuất và tiêu thụ tân tiến, bao gồm việc sử dụng các kỹ thuật tân tiến, những ký thuật thân thiện với môi trường và tốt cho hệ sinh thái, nói cách khác là “ổn định”. Chúng ta hãy áp dụng công thức trong “Tứ Diệu Đế” của Phật (CattariAriyasaccâni) vào vấn đề trọng đại là thay đổi khí hậu và sự hủy hoại  môi trường:

Thánh đế thứ nhất là đau khổ

Thánh đế thứ hai là nguyên nhân của đau khổ

Thánh đế thứ ba là sự chấm dứt đau khổ

Thánh đế thứ tư là con đường hay cách dẫn đến chấm dứt đau khổ

Giờ đây, sự đau khổ của thời đại chúng ta là thay đổi khí hậu và sự hủy hoại môi trường; đây là thánh đế đầu tiên. Thánh đế thứ hai, lý do của khủng hoảng môi trường hay đâu khổ, là sự tham lam của con người. Khi cố gắng thỏa mãn lòng tham con người đang làm ô nhiễm và tàn phá môi trường tự nhiên. Thánh đế thứ ba là sự bảo đảm có một giải pháp giúp loại bỏ cuộc khủng hoảng môi trường của chúng ta và mọi đau khổ nảy sinh từ cuộc khủng hoảng đó.

Khủng hoảng thay đổi khí hậu bao vây thế giới là do con người tạo ra. Do đó, bất kỳ điều gì được con người tạo ra có thể được chận lại và chúng ta có khả năng để chận chúng lại. Thánh đế thứ tư là con đường, kỹ thuật hay những cách và phương tiện dùng để chận những cách ứng xử của con người đang tạo ra khủng hoảng thay đổi khí hậu. Để hiểu cách dẫn đến chỗ chấm dút sự hủy hoại môi trường và thay đổi khí hậu chúng ta cần phân biệt giữa lòng tham và nhu cầu chân chính. Chúng ta cần hiểu là lòng tham/ích kỷ luôn luôn là nguyên do của đau khổ.. Sự đau khổ của chúng ta giờ đây là sự thay đổi khí hậu và sự hủy hoại môi trường do lòng tham của con người. Do đó, mọi hoạt động phát triển gây ra thay đổi khí hậu và hủy hoại môi trường phải được chận đứng ngay tức khắc.

 

Cầu xin nền đạo đức, sự mãn nguyện và lòng độ lượng phổ biến và lan tỏa

Cầu xin con ma lòng tham và mọi hoạt động không thân thiện vói môi trường và sinh thái chấm dút và biến mất

Cầu xin mọi người thực sự phát tâm tôn trọng, chăm lo, thương yêu, mở rộng lòng độ lượng và từ bi với mẹ trái đất, nước, cây và súc vật

Cầu xin mọi người không bao giờ sử dụng các tài nguyên thiên nhiên nhiều hơn thật sự cần thiết

Cầu xin trí tuệ phổ biến rộng khắp cho mọi người cùng làm việc để cứu hành tinh đẹp đẽ này!

Cầu xin những mục tiêu của Thượng Đỉnh Phát Triển Ổn Định 2015 thành công!

Cầu xin cho nhân loại lớn lên với cơ thể mạnh mẽ

Cầu xin cho nhân loại lớn lên với tinh thần chói sáng

Cầu xin cho nhân loại lớn lên với nền văn hóa giàu có

Cầu xin cho nhân loại lớn lên với tinh thần đạo đức đồ sộ

Cầu xin cho nhân loại lớn lên với giác ngộ tâm linh

Cầu xin cho nhân loại lớn lên với hài hòa xã hội

Cầu xin cho nhân loại lớn lên với vật chất phồn thịnh

Cầu xin cho nhân loại lớn lên trong tình thân thiện trên khắp trái đất

Cầu xin cho nhân loại lớn lên trong môi trường hòa bình

 

Chơn Thanh Chu Bảo Cảnh chuyễn ngữ

 

***HẾT***

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/03/2015(Xem: 11379)
Với mục tiêu giúp mọi người hướng đến đời sống tâm linh, tổ chức Dhammakaya đã thiết lập nhiều hoạt động nhằm tác động đến đời sống đạo đức tâm linh xã hội hiện đại, nâng cao phẩm giá của con người, hướng đến một nền hòa bình, hòa hợp cho thế giới mà mọi người chúng ta đang tìm cầu. Thời gian gần đây, hoạt động của Dhammakaya đã thu hút người mộ đạo từ Thái lan đến khắp nơi trên thế giới.Trung tâm luôn duy trì những hoạt động này, vì nó đã đem lại thiết thực cho con người tăng trưởng nhân tâm và phát triển xã hội.
10/02/2015(Xem: 7427)
Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới đã được thành lập 65 năm, Đại hội lần thứ 17 được tổ chức từ 16 đến 18 tháng 10 năm 2014 tại thành phố Bảo Kê, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Nói đến lịch sử thành lập Hội, không thể không nhắc đến người đề xướng ý tưởng thành lập đầu tiên là Ngài Thái Hư Đại Sư và người đệ tử lớn của Ngài là Pháp Sư Pháp Phảng. Bài viết này trình bày công đức của Pháp Sư Pháp Phản trong việc thành lập Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới.
07/11/2014(Xem: 39209)
Nói "Chùa Khánh Anh sau 30 năm" có nghĩa là đã bắt đầu bước sang năm thứ 30+1... Thật vậy, chùa Khánh Anh bắt đầu sinh hoạt từ Lễ Phật Đản 1974, tức 1 năm trước biến cố lịch sử 30/4/1975. Tại sao lại không phải là sau ngày 30/4/75 như nhiều nơi khác, và nhiều chùa khác ở hải ngoại? Thưa quý vị và bà con cô bác, đó mới là có chuyện để kể lại. Và cái đoạn này có nhiều chuyện để kể lắm. Nghĩa là nguyên nhân do đâu, và từ bao giờ đưa đến việc thành lập chùa Khánh Anh trước năm 75 và sinh hoạt cho đến ngày hôm nay?
22/10/2014(Xem: 9037)
ÚC ĐẠI LỢI: Trung tâm Phật học Nam Thiên được xây lên từ khu đất hoang Wollongong, New South Wales – Tại một khu đất hoang được mua từ hội đồng địa phương với giá một đô la, một tòa nhà lấy cảm hứng từ hoa sen đã được xây dựng nên và một ngày nào đó nó có thể là hiện thân của trường đại học Phật giáo đầu tiên của Úc Đại Lợi. “Nó rất có tính biểu tượng – tòa nhà hoa sen vươn khỏi khu đất hoang này”, nhà toán học John Loxton, viện trưởng sáng lập viện Nam Thiên nói. Tọa lạc ở nam Wollongong, tòa nhà trong khuôn viên khu đại học vươn lên không gian với những phần bê tông uốn cong với kiểu dáng đẹp. Bên ngoài, các tấm chắn và ngói màu đất sét của tòa nhà hài hòa với ngôi chùa Nam Thiên có mái đất nung truyền thống nằm liền kề. Giáo sư Loxton nói rằng tất cả đã bắt đầu với các dịch vụ sau đại học về nghiên cứu Phật giáo ứng dụng, và học viện có kế hoạch xây dựng thêm nhiều khóa học hơn để đáp ứng về kinh doanh và cuộc sống chuyên nghiệp. (The Australian – October 15, 2014)
19/10/2014(Xem: 47616)
Cuốn PHẬT GIÁO KHẮP THẾ GIỚI, do Tỷ khưu Nguyên Tạng viết, là một đề tài hấp dẫn mà đáng lẽ phải có từ lâu. Ðối với người con Phật ở Việt Nam / châu Á thì sự kiện nổi bật nhất ở nửa cuối thế kỷ XX không hẳn là cuộc cách mạng Tin học, mà là sự phát triển ngoạn mục của Phật giáo tại Tây AÂu và Bắc Mỹ. Thực ra, cuộc cách mạng giác ngộ nhân chủ khởi nguyên từ hậu bán thế kỷ XVIII là do sự thức tỉnh của giới trí thức phương Tây sớm biết tìm đến với Ðạo Phật, và đã lái lịch sử thế giới đi vào con đường giải thoát thân phận con người khỏi khổ đau, mê tối, và giải phóng các dân tộc nhược tiểu thoát cảnh thù địch, lạc hậu – Phải chờ hơn hai thế kỷ.
16/10/2014(Xem: 12400)
Chaman Lan và một số học giả Hoa Kỳ cho rằng không phải ông Columbus đầu tiên tìm ra Châu Mỹ mà chính những người di dân Hindu từ Ấn Độ. Lý luận mới lạ này được dựa vào một số truyền thống thịnh hành ở Trung Mỹ và Mexico. Nhưng giả thiết này thiếu sự ủng hộ của bằng chứng văn học. Tuy nhiên chúng ta cũng có ít nhất là một điểm được ghi lại trong lịch sử Trung Hoa nói đến một đoàn tu sĩ Phật Giáo đến Châu Mỹ vào thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch và đã đưa Phật Giáo vào dạy cho những người dân ở đó.
02/09/2014(Xem: 12824)
Các tổ chức cá nhân trên thế giới đã tập hợp để bày tỏ lo ngại ngôi Borobudur (Bà La Tự viện quần-婆羅浮屠寺院群) Đại Già lam lớn nhất thế giới, bởi mối đe dọa gần đây của nhà nước Hồi giáo (IS). Ngôi Borobudur (Bà La Tự viện quần-婆羅浮屠寺院群) Đại Già lam lớn nhất thế giới, là một ngôi Chùa Tháp Phật giáo quy mô, miền Trung đảo Java, Indonesia.
17/08/2014(Xem: 37624)
Đại Sư tên là Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sinh ra ngài nhằm giờ tý, ngày mùng tám tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12. Khi ấy, hào quang từ nhà ngài chiếu sáng lên không trung, mùi hương lạ tỏa lan khắp nhà. Đến tảng sáng, có hai vị tăng lạ mặt đến thăm, bảo cha ngài rằng: “Khuya nay ông vừa sinh quý tử, chúng tôi đến đây là để đặt tên cho cháu bé. Ông nên đặt trước là chữ Huệ, sau là chữ Năng.”
17/08/2014(Xem: 10512)
Vào thời đại Silla (Tân La) ở Hàn Quốc, khoảng hơn Nghìn năm trước, có một cậu bé tên là Kim Đại Thành (Kim Dae-seong 김대성-金大城) sống ở làng Moryang. Vì hoàn cảnh gia đình gặp phải khó khăn về kinh tế, cho nên cậu phải rày đây mai đó làm thuê mướn để đổi lấy bát cơm manh áo và phụ giúp gia đình. Một hôm, sau khi dự buổi thính pháp đàm của một vị Pháp sư giảng giáo lý Phật đà, cậu liền về nhà thuyết phục mẹ mình cúng dường mảnh ruộng vườn, tài sản duy nhất của gia đình để tích phúc đức.
23/07/2014(Xem: 8346)
Bằng việc cho phép phụ nữ gia nhập Tăng đoàn, Đức Phật 2.500 năm trước đã đặt phụ nữ bình đẳng với nam giới ở Ấn Độ. Nhưng ngày nay ở hầu hết các quốc gia Phật giáo châu Á nữ tu đang chiến đấu một trận chiến khó khăn để được công nhận là người truyền bá Giáo pháp. Một người phụ nữ Nepal có thể đã vô tình thay đổi nhận thức này bằng cách hát về Giáo pháp.