Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Dr. Y khoa Marc Lieberman, Người đã Làm Nhịp Cầu nối giữa Do Thái giáo và Phật giáo đã về Cõi Phật

11/08/202116:35(Xem: 370)
Dr. Y khoa Marc Lieberman, Người đã Làm Nhịp Cầu nối giữa Do Thái giáo và Phật giáo đã về Cõi Phật


Dr. Y khoa Marc Lieberman, Người đã Làm Nhịp Cầu nối giữa Do Thái giáo
và Phật giáo đã về Cõi Phật 
(Marc Lieberman, who brought Jews and Buddhists together, dies at 72)


Dr. Y khoa Marc Lieberman, Người đã Làm Nhịp Cầu nối giữa Do Thái giáo và Phật giáo đã về Cõi Phật 1

Tiến sĩ Marc Lieberman (7.8.1949-2.8.2021), một bác sĩ nhãn khoa và tự xưng mình là "Phật tử Do Thái", người đi tiên phong trong đối thoại Do Thái giáo-Phật giáo, khi ông điều trị bệnh nhãn áp, đã tổ chức một cuộc đối thoại giữa các học giả Do Thái và Đức Đạt Lai Lạt Ma. và người sau này đã mang thị giác trở lại cho hàng nghìn người Tây Tạng bị đục thủy tinh thể. Do tuổi cao sức yếu, và đã trút hơi thở mãn báo thân, thần thức về cõi Phật vào ngày 2 tháng 8 năm 2021 tại tư gia ở San Francisco, Hoa Kỳ. Hưởng thọ 72 tuổi. Theo con trai của ông, Michael, cho biết nguyên nhân là do ung thư tuyến tiền liệt. 

 

Ông trưởng thành trong một hộ gia đình Do Thái Cải cách ở Baltimore "balkanized" một thành phố độc lập thuộc tiểu bang Maryland, bờ biển phía Đông Hoa Kỳ, của những năm 1950, nơi các khu dân cư được xác định theo chủng tộc, tôn giáo và dân tộc. Anh trai và chú của ông trở thành Giáo sĩ Do Thái giáo. 

Tiến sĩ Marc Lieberman, người tự gọi mình là "JuBu", vẫn giữ đức tin Do Thái giáo của mình nhưng kết hợp các khía cạnh của giáo lý và thực hành Thiền định Phật giáo. Ông vẫn giữ Gìn giữ Kosher (một phần giá trị trong đời sống của người Do thái) và các Ngày sabát (một ngày hàng tuần của nghỉ ngơi hoặc thời gian thờ phượng trong Kinh thánh như ngày thứ bảy), nhưng ông vẫn dành thời gian tu tập thiền định Phật giáo nhiều lần trong ngày. Ông đã nghiên cứu kinh Torah (giáo lý là văn bản thiêng liêng của người Do Thái), nhưng ông đã nỗ lực xây dựng một Tu viện Phật giáo ở Bắc Cailifornia, Hoa Kỳ.

Điều này có vẻ mâu thuẫn với một số người, thì ông lại đồng ý với điều ấy, khi nhìn cả hai tôn giáo đều có sự theo đuổi bổ sung chân lý và con đường hóa giải những nỗi khổ niềm đau trong cuộc sống thế nhân.

Vào những thập niên 1980, ông đã trở thành nhà lãnh đạo cộng đồng Phật tử tại gia ở Vùng Vịnh, tổ chức các cuộc họp hàng tuần trong phòng khách của mình, và long trọng cung nghinh chư tôn tịnh đức Tăng già Phật giáo đến thăm từ khắp nơi trên thế giới. Đúng là duyên Bồ đề quyến thuộc Phật pháp, một điểm liên lạc rõ ràng khi Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần nhân dân và Chính phủ lưu vong Tây Tạng, thông báo rằng, Ngài đang lên kế hoạch cho chuyến viếng thăm Hoa Kỳ vào năm 1989, và rằng Ngài muốn giao lưu tìm hiểu thêm về Do Thái giáo.


Một người bạn trong Văn phòng của Đại diện Tom Lantos, một đảng viên Dân chủ California, đã hỏi liệu  Tiến sĩ Marc Lieberman có tạo điều kiện cho một cuộc đối thoại giữa vị Thánh tăng Phật giáo Tây Tạng và các nhà lãnh đạo Do Thái giáo tại Mỹ hay không.  Thế là ông đã bắt tay vào hành động, tập hợp cái mà ông gọi là "đội trong mơ" gồm các giáo sĩ Do Thái giáo, cho cuộc hội ngộ một ngày với vị Thánh tăng Phật giáo Tây Tạng, tại một ngôi già lam tự viện Phật giáo Tây Tạng ở New Jerey, một tiểu bang ở vùng Trung Đại Tây Dương và Đông Bắc của Hoa Kỳ.  Đây là một thành công mỹ mãn, dù thời gian ngắn, thật khó để gói ghém truyền thống tôn sư trọng đạo hàng nghìn năm, vào một cuộc đối thoại liên tôn trong một buổi chiều. Nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma đã từ giả rất ấn tượng, và Tiến sĩ Marc Lieberman quyết định hành trình rộng hơn. 

Năm tiếp theo, ông đi cùng nhóm tám người ban đầu đến Dharmasala, thị trấn ở miền bắc Ấn Độ, nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma sống lưu vong. Trong bốn ngày, các tư tưởng gia Do Thái và Phật giáo đã thảo luận những trải nghiệm chung của hai đức tin đối với những nỗi khổ niềm đau trần thế, những quan niệm khác nhau của họ về Đức Chúa Trời và vai trò của thuyết Thần bí đối với mỗi người.


Dr. Y khoa Marc Lieberman, Người đã Làm Nhịp Cầu nối giữa Do Thái giáo và Phật giáo đã về Cõi Phật 2

Năm 1990, ông quyết định cho mình trở thành một "Phật tử Do Thái", sau cuộc đối thoại với Đức Đạt Lai Lạt Ma, để giúp những người Tây Tạng có thể phục hồi nhãn quang. 

Năm 1995, ông thành lập Dự án Tầm nhìn Tây Tạng, một tên gọi lớn cho những gì phần lớn là một hoạt động đơn lẻ: Hai lần một năm, đôi khi cùng một đồng nghiệp, ông đi du lịch đến Tây Tạng, nơi ông giám sát các ca phẫu thuật đục thủy tinh thể, và đào tạo 20 Bác sĩ Tây Tạng chuyên khoa phẫu thuật. Trong 20 năm sau đó, khoảng 5.000 người lấy lại được thị lực hoàn toàn nhờ Tiến sĩ Marc Lieberman. Được Đức Đạt Lai Lạt Ma tán thán ông rằng: "một tấm lòng nhân ái và nghĩa cử cao đẹp tuyệt vời"

Ông có thể nói đó là Mitzvah tối thượng cho một dân tộc và một nhà lãnh đạo, người đã cho ông rất nhiều điều.

Cùng quan sát là Cư sĩ Rodger Kamenetz, nhà thơ và tác giả người Mỹ từng là bạn của Tiến sĩ Marc Lieberman từ thời thơ ấu. Tại thời điểm khủng hoảng trong cuộc sống của mình, Cư sĩ Rodger Kamenetz nhận thấy chuyến đi đang chuyển động, và ông ghi lại trải nghiệm đó trong một cuốn sách "The Jew in the Lotus: Rediscovered by a Poet of Identity Jewish in Buddhist India" (1994). (Người Do Thái trong Hoa sen: Khám phá lại bản sắc Do Thái của một nhà thơ Phật giáo ở Ấn Độ). 

Cuốn sách đã bán chạy và thúc đẩy hàng nghìn người nước Mỹ, người Do Thái và không phải người Do Thái khám phá Phật giáo - đồng thời khiến những người khác thấy tiềm năng của một đạo Do Thái, thần bí hơn. 

Cư sĩ Rodger Kamenetz nói trong một cuộc phỏng vấn: "Thực sự Tiến sĩ Marc Lieberman xứng đáng được ghi nhận cho cuộc đối thoại này, vì đã mở ra cho người Do Thái những truyền thống Thiền định Phật giáo và bí truyền của riêng họ". 

Trong cuộc hội ngộ với Đức Đạt Lai Lạt Ma và đoàn tùy tùng, Tiến sĩ Marc Lieberman đã biết được rằng, nhờ có tia cực tím khắc nghiệt chiếu vào Cao nguyên Tây Tạng rộng 15.000 foot, 15% người Tây Tạng trên 40 tuổi – và 50% người trên 70 tuổi – bị đục thủy tinh thể.

Cư sĩ Rodger Kamenetz nhớ lại: "Tôi nhớ anh ấy đã nói với Đức Đạt Lai Lạt Ma," Khi Ngài trở về Tây Tạng, tôi muốn người dân Tây Tạng nhìn thấy Ngài". 

Marc Frank Lieberman sinh ngày 7 tháng 7 năm 1949 tại Baltimore là một thành phố độc lập thuộc tiểu bang Maryland, bờ biển phía Đông Hoa Kỳ, là con trai của cụ ông Alfred và Annette (Filzer) Lieberman. Phụ thân của ông là một Bác sĩ chuyên khoa phẫu thuật; Hiền mẫu của ông làm việc cho một trường tư thục địa phương, và sau đó là phụ trách khu vực chương trình làm cha mẹ có kế hoạch. 

Mặc dù chú của ông là Morris Lieberman là Giáo sĩ Do Thái tại một trong những Giáo đường Cải cách hàng đầu ở Baltimore, ông lớn lên quan tâm đến các khía cạnh trí thức và hoạt động của Do Thái giáo hơn là chính đức tin. 

Ông thi vào Tôn giáo học tại Đại học Reed ở Portland, Oregon, trường giáo dục khai phóng đầu tiên ở Tây Bắc nước Mỹ, và sau khi tốt nghiệp, theo học các khóa học tiền Y học tại Viện Đại học Hebrew của Jerusalem, trường đại học lâu đời thứ hai ở Israel, sau trường Technion. Thời gian ở Israel, ông gặp Alicia Friedman, người đã se duyên kết tóc trở thành người vợ đầu tiên của ông. Ông trở nên sùng đạo hơn, giữ đạo và tuân theo ngày Sa-bát.

Ông theo học chuyên Y khoa tại  Trường Đại học Johns Hopkins là trường đại học tư thục lớn và uy tín nhất của nước Mỹ, và hoàn thành thời gian cư trú tại thành phố Ann Arbor, MI. Ann Arbor, sau đó định cư tại San Francisco, nơi ông mở một cơ sở tư nhân chuyên điều trị bệnh tăng nhãn áp, rồi mở rộng ra ba văn phòng xung quanh Khu vực Vịnh. 

Mặc dù thành công về mặc chuyên môn, Tiến sĩ Marc Lieberman, người là tác giả sách Giáo khoa thành công, và là Giáo sư Lâm sàng tại Đại học California, San Francisco.

Đó là một cái giá đắt mà tôi phải trả để trải qua quá trình huấn luyện khắc nghiệt,” ông nói trong “Thăm quan Tây Tạng,Một bộ phim tài liệu năm 2006 về công việc của ông ấy. “Có rất ít hình mẫu về những người kết nối với bệnh nhân như những con người khác, và chính những lý do thúc đẩy tôi theo đuổi ngành y ngày càng trở nên xa vời khi tôi càng tiến xa hơn trong lĩnh vực này.”

Tại một lớp học Yoga năm 1982, ông gặp Nancy Garfield, người đã giới thiệu ông với cộng đồng Phật giáo của Vùng Vịnh. Sau khi cả hai tham dự một khóa tu tập Thiền định Phật giáo tại một Tu viện gần Santa Cruz, ông đã nhận ra và tìm ra các giải đáp cho những thất vọng của mình, hoặc ít nhất là một đại lộ để giải quyết chúng. 

Năm 1986, ông và nàng Garfield lại kết tóc se duyên trong một buổi lễ Phật giáo. Cuộc hôn nhân đó, cũng giống như cuộc hôn nhân đầu tiên của ông, kết thúc bằng ly hôn.

Ngay sau khi cuộc ly hôn thứ hai, ông đã có chuyến hành hương chiêm bái Phật tích miền bắc Ấn Độ, theo lời mời của một nhóm Bác sĩ Ấn Độ. Ông nhận thấy trải nghiệm này có thể hoán chuyển. 

 Khám phá tuyệt vời đối với tôi ở Ấn Độ là thấy việc thực hành y học có giá trị tâm linh như thế nào,” ông nói trong bộ phim tài liệu. “Các trung tâm y tế ở Ấn Độ, những nơi tôi may mắn được đến thăm, là những ngôi đền, đền thờ của tình yêu và sự phục vụ.”

Ông bắt đầu thường xuyên đến thăm Ấn Độ, làm việc với các bác sĩ địa phương và mang về những cuốn sách Phật giáo, các vật phẩm sùng kính và bí truyền, chất đầy nhà của ông.

“Tại bàn,” Cư sĩ Rodger Kamenetz viết, một vị khách sẽ tìm thấy nến Shabbat; trong phòng khách, hương; ở ngưỡng cửa, một mezuzah; trong phòng thiền, một vị Phật cao năm thước. Nếu ông liếc nhìn giá sách, anh ta sẽ thấy giáo pháp và kabbalah đang tranh giành không gian, và một người có khả năng tìm thấy tiếng Pali là tiếng Do Thái ”.

Tiến sĩ Marc Lieberman không đồng tình với thuật ngữ “JuBu” và ông không phải là người đầu tiên đề xướng việc tích hợp các khía cạnh của Phật giáo vào đức tin của người Do Thái – nhà thơ Allen Ginsberg nằm trong số những người đi trước ông – nhưng ông đã trở thành một trong những người nổi bật nhất.

Ông đấu tranh để giữ sự tập trung vào đối thoại liên tôn và bỏ chính trị sang một bên. Nhưng nhiều chuyến đi đến Tây Tạng khiến ông chán nản với chính phủ Trung Quốc, chính phủ đã sáp nhập khu vực này vào năm 1959 và đuổi các nhà lãnh đạo tôn giáo của họ, sau đó tìm cách áp đảo văn hóa Tây Tạng bằng chính văn hóa của họ.

Vào năm 2006, trong một cuộc phỏng vấn với The Los Angeles Times, Tiến sĩ Marc Lieberman nói: "Tôi là một bức tranh lành mạnh của Do Thái giáo và đạo Phật. Schmair công bằng! Đây là con người của tôi."

Bắc Kinh cũng không nghĩ nhiều về Tiến sĩ Marc Lieberman; ông thường xuyên bị quấy rối ở biên giới và buộc phải đợi nhiều tuần ở Kathmandu, Nepal, để được cấp thị thực. Bắt đầu từ năm 2008, nhà cầm quyền Đảng Cộng sản Trung Quốc dần dần cấm tất cả các tổ chức phi chính phủ nước ngoài khỏi Tây Tạng, khiến nỗ lực của Tiến sĩ Lieberman chấm dứt.

Không lâu trước khi Tiến sĩ Marc Lieberman mãn báo thân, thần thứ về cõi Phật, Cư sĩ Rodger Kamenetz đã đến thăm ông ở San Francisco. Một ngày nọ, ông đi cùng bạn mình đến một cuộc hẹn hóa trị.

Cư sĩ Rodger Kamenetz nhớ lại: “Chúng tôi thực sự thích thú với những cây hoa ở San Francisco, chỉ chăm chăm vào từng bông hoa, từng cây. Đương nhiên chúng ta đang nói về sự vô thường. Và anh ấy đã nói điều tuyệt vời nhất: rằng vô thường không chỉ có nghĩa là mọi thứ biến mất, mà còn là luôn có một cái gì đó mới xuất hiện trong tâm điểm.  Anh ấy nói, ‘Bất cứ điều gì nảy sinh đều là sự kiện đẹp đẽ không thể thiếu đang phát sinh.'”

Triết lý chung của Tiến sĩ Marc Lieberman là đối xử với bệnh nhân của mình như một thành viên trong gia đình. Anh ấy linh hoạt với các cuộc hẹn và khám cho hơn 95% bệnh nhân của mình trong vòng 15 phút so với thời gian đã lên lịch của họ.

Tiến sĩ Marc Lieberman sống và làm việc tại San Francisco, nơi ông có một nghề Y tế thành công. Trước đó, ông đã giảng dạy chuyên Nhãn khoa ở Ấn Độ 10 năm, và giảng dạy tại một số trường Đại học ở Mỹ. Trong 12 năm, ông đặt chân cất bước hành hương xứ Tây Tạng huyền bí, để điều hành các phòng khám vùng nông thôn, và đào tạo các Bác sĩ địa phương, ông đã tận mắt thấy những thay đổi đáng kể diễn ra ở đó. Ông cũng đã học được cách điều hướng nền chính trị phức tạp của một quốc gia mà nhiều người coi là dưới sự chiếm đóng của nhà cầm quyền Đảng Cộng sản Trung Quốc. 

Thích Vân Phong biên dịch

(Nguồn: Associated Press News)

facebook-1

***
youtube
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/04/201312:58(Xem: 9279)
Chơn Ngôn Tông Nhật Bản. - Satoo Ryoosei & Komine Ichiin. Thích Như Điển Dịch
17/10/202121:20(Xem: 53)
Chương trình tiêm chủng ngừa Covid-19 tại Vương quốc Phật giáo Campuchia, đã giành được sự tán dương, ca ngợi từ nhiều quốc gia trên thế giới, đã một lần nữa cho thấy khả năng tiêm chủng cho trẻ em từ 6 đến 12 tuổi.
01/12/201210:59(Xem: 9417)
Thật không ngoa chút nào, khi tạp chí Chùa cổ Bình Dương cho rằng, chùa Tây Tạng là "dấu ấn đầu tiên của Mật tông”.
10/04/201313:32(Xem: 5320)
Sau 30 năm sinh hoạt Phật sự tại Đức, tôi ngồi tính sổ lại thời gian, nhân duyên, cơ hội cũng như những phạm trù khác để gởi đến quý Phật Tử xa gần, với những người lâu nay hằng hộ trì cho Phật pháp tại Đức nói riêng và các nơi khác tại Âu Châu cũng như trên thế giới nói chung với tinh thần của người con Phật và với tư cách là một Trưởng Tử của Như Lai.
17/10/202121:07(Xem: 60)
Các cộng đồng Phật giáo còn sót lại tại Cộng hòa Hồi giáo Pakistan đang trên nguy cơ diệt vong do thiếu cơ sở tự viện, chư tôn tịnh đức tăng già và Phật tử, sự hỗ của Chính phủ, theo một phái đoàn Phật tử gồm 5 thành viên từ huyện Naushahro Feroze, tỉnh Sindh, họ đã đến viếng thăm triển lãm Gandhara "Nguồn gốc và tuyến trình: Khám phá lịch sử đạo Phật và Kỳ Na giáo của Pakistan" (Roots or Routes: Exploring Pakistan’s Buddhist and Jain Histories) tại Bảo tàng Taxila gần Islamabad vào tuần trước; Bảo tàng Taxila, nơi lưu giữ một bộ sưu tập nghệ thuật Gandharan có ý nghĩa và toàn diện từ thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 7.
06/07/201100:09(Xem: 2101)
Công Trình Xây Dựng Tượng Di Lặc Tại Ấn Độ, Đức Phật Di lặc (Maitreya, The Future Buddha) sẽ giáng trần và truyền Pháp độ sanh sau khi chánh Pháp của Đức Phật Thích Ca không còn trên thế gian này. Trong Khế Kinh ghi rằng đức Phật Di lặc sẽ giáng sanh và chứng đạo tại thánh địa Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng), Ấn Độ nơi đức Thích Ca Mưu ni đã chứng quả hơn 2500 năm về trước. Hàng năm cứ hàng ngàn khách hành hương trên khắp thế giới về thăm Thánh tích này. Để cho mọi Phật tử trong mười phương "Gieo duyên" với đức Phật Di lặc, cách đây khoảng 10 năm, cố Đại sư Thubten Yeshe, sáng lập viên "Hội Bảo Vệ Truyền Thống Phật Giáo Đại Thừa" (FPMT) thuộc Phật giáo Tây Tạng đã phác thảo một kế hoạch xây dựng tượng Di lặc tại Bodhgaya. Kế hoạch đó nay sắp trở thành hiện thực. Vào ngày 20, 21 và 23 tháng 3 năm 1996 tại Bodhgaya, (về sau công trình này đã dời về địa điểm Kushinagar, Uttar Pradesh), Giới Phật giáo Tây Tạng và Ấn Độ đã long trọng tổ chức lễ đặt đá và khởi công xây dựng tượng Di lặ
09/10/202122:47(Xem: 176)
Cư sĩ Shakti Sinha, một nhân vật cốt cán trong tổ chức Phật giáo lớn nhất của Ấn Độ đã thanh thản trút hơi thở về cõi Phật vào hôm thứ Hai, ngày 4/10/2021, hưởng thọ 64 tuổi. Cư sĩ Shakti Sinha là Tổng giám đốc Liên đoàn Phật giáo Quốc tế (International Buddhist Confederation, IBC).
10/04/201312:18(Xem: 5113)
Ngài Huyền Trang là Cao Tăng đời nhà Đường. Ngài phụng mệnh Đường Thái Tông sang Ấn Độ thỉnh Kinh. Hành trình trên 10 năm thỉnh về hơn 650 bộ Kinh. Sau đó, Ngài đã cùng đệ tử dịch ra Hán Văn được 75 bộ gồm 1335 quyển. Đối với sự phát triển của Phật Giáo Trung Quốc. Ngài là một người có công rất lớn.
06/09/202110:00(Xem: 458)
Đàn áp Stalin tại Mông Cổ (Их Хэлмэгдүүлэлт) đề cập đến một thời kỳ bạo lực và khủng bố chính trị ở Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ từ năm 1937 đến năm 1939. Stalin là vị chúa tể độc tài đã từng cai trị Liên bang Xô Viết bằng bàn tay sắt trong suốt 30 năm trời (1922-1953). Ông là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, là Đại nguyên soái, Tổng tư lệnh tối cao các Lực lượng vũ trang Liên Xô.
11/08/202117:12(Xem: 536)
ANGKOK (AP) - Với số ca tử vong do đại dịch virus corona đang gia tăng ở quốc gia Phật giáo Myanmar, ngày càng thêm nhiều người dân và các nhà hoạt động nhân quyền cáo buộc rằng, Chính quyền quân sự Myanmar, đã nắm quyền kiểm soát vào tháng 2 vừa qua, đang sử dụng đại dịch Civid-19 để củng cố quyền lực, và đè bẹp phe đối lập.