14. Từ “Sáu Bài Ca Kim Cương”

09/01/201106:25(Xem: 7213)
14. Từ “Sáu Bài Ca Kim Cương”

14

Từ “Sáu Bài Ca Kim Cương”


Một lần nọ, Jetsušn và Rechungpa đi cùng với nhau một cuộc du hành lâu dài. Tới phía bắc của dòng sông Tsangpo, họ đến một nơi gọi là So. Ở đó có nhiều người chăn gia súc ; thế nên các ngài đi khất thực. Một người đàn ông nói với họ, “Khất thực mỗi ngày là một vấn đề khó khăn. Tôi sẽ cho các vị một cái bao để các vị có thể cất thức ăn từ những người ở đây. Các vị còn không có áo quần thích hợp để ở lại đây dù ít lâu.”

Như thế Jetsušn hát cho ông ta bài ca này :

Bậc cứu độ quý giá, vô thượng của chúng sanh
Xin hãy đến ngự trên đỉnh đầu của chúng tôi,
Và hướng dẫn chúng tôi với sự chú tâm không lay động
Xin hãy để những ân phước cho thành tựu rơi xuống như mưa.

Này các thí chủ đầy đủ đức tin,
Do món quà cái bao để mang của các bạn
Và lời khuyên chu đáo
Mong rằng những kho của các bạn được hoàn thành
Và những che chướng được xóa sạch.

Chỉ có một hơi thở mong manh
Trên biên giới của đời này và đời tới.
Không biết tôi có còn ở đây đến sáng mai hay không,
Vậy tại sao cố gắng đánh lừa cái chết
Bằng những chương trình của cuộc đời cho một tương lai trường tồn ?
Tôi ăn thứ gì tôi có được ;
Dùng sự nuôi dưỡng như những nhà khổ hạnh vẫn dùng.
Tôi đã làm thế suốt cuộc đời làm người của mình,
Và bây giờ sẽ tiếp tục cách bình thường của tôi.
Tôi không muốn cái bao của những thí chủ.

Xúc động bởi niềm tin mạnh mẽ, người chăn đàn gia súc đảnh lễ, nói, “Tôi không có áo bông lành lặn. Xin hãy chấp nhận cái áo nỉ này.”

Để trả lời Mila hát một bài khác :

Bị dẫn dắt bởi phiền não và hành động do mê lầm gây nên,
Tâm thức trần truồng, không bản chất này
Lang thang trong thành phố của sáu cõi huyễn mộng
Và ngủ trên những đại lộ của sanh, chết và trung ấm.

Nó bị dẫn dắt bởi những cơn sóng của tham dục ám ảnh,
Đốt cháy bởi những ngọn lửa của thù hận bừng bừng,
Và bọc kín trong đám mây tối tăm của vô minh.

Lung lay trên vực thẳm từ chót đỉnh của lòng kiêu mạn,
Bị quất giật bởi ngọn gió lạnh buốt của ghen ghét,
Nó chìm trong bãi lầy của thèm thuồng sanh tử.

Leo nơi vách đá của trung ấm và giấc mộng,
Nó rơi vào vực thẳm của phiền muộn và bản năng,
Bị cuốn trôi bởi dòng hành động xấu xa, mê tối.

Cháy bừng với những ý niệm mê vọng về cái bên ngoài giả dối,
Nó chỉ nghỉ ngơi trong bóng tối của vô thức.
Chiến đấu qua trung ấm vực thẳm đến sự tái sanh
Nó bị thổi tung bởi những ngọn gió nghiệp mạnh mẽ đi khắp mười phương.

Bốn đại trong thân của nó trở lại chống chính nó ;
Địa đại bão hòa với nước,
Không đại hoàn toàn cháy tiêu trong lửa.
Bóng tối thăm thẳm của nghiệp phủ xuống
Khi nó chìm vào bãi lầy của những cảm thọ dữ dội, sợ khiếp.

Nhưng từ một lama có năng lực để ban phước
Hãy cầu xin những giáo huấn sâu xa cho con đường
Nó dẫn dắt đến nơi giải thoát
Khỏi những biến cố đáng sợ do những hành động như thế mang lại.

Hãy phát giác trạng thái chân thực của sanh, chết và trung ấm !
Hãy xé rách toang cái bao những lừa dối của trung ấm và giấc mộng !
Hãy phá bung bày lộ bản tánh chân thật của trung ấm tái sanh !
Hãy dẹp tắt mọi huyễn hoặc bên trong !
Hãy nhìn thấy tinh túy thực sự của tâm.

Hãy để sự chứng ngộ trạng thái tự nhiên được chiếu sáng.
Vứt đi sự luyến bám của chấp ngã.
Hãy giải thoát sự chấp trụ gắn vào sự vật.

Với hơi nóng phúc lạc của tummo cháy trong thân tôi
Cái áo vải đơn giản này là đã đủ.
Tôi ăn thức ăn làm sẵn của định,
Rút vào tinh túy của tầm ma và đá.(25)
Giải cơn khát của tôi ở dòng giác ngộ.
Ngay cả nếm một ít nước tiểu và phân của chính tôi.(26)

Tôi nương tựa sự sung túc thường trực của sự bằng lòng,
Và buồn bã cho những người bạn trong sáu cõi sanh tử.
Đôi khi tôi đi khất thực không chọn lựa chỗ nào,
Luôn luôn lang thang ở nơi hoang vu không mục đích.

Mùa đông tôi ngủ trong những chốn ẩn cư núi non,
Áo vải bông cháy như đám lửa
Mùa hè tôi ngủ trong những thung lũng nóng và khô,
Áo vải bông mát lạnh như ngọn gió.

Vào xuân tôi ở trên những hẻm núi,
Áo vải bông như len.
Vào thu tôi ra ngoài khất thực,
Áo vải bông nhẹ như một lông chim.
Bạn thật sự hạnh phúc, phải thế không, thiền giả ?
Có ai khác hạnh phúc như tôi ?

Với bài ca này ngài từ chối áo nỉ. Mọi người đều cảm xúc mạnh mẽ và cầu xin đi vào giáo pháp với ngài. Vị thí chủ đặc biệt ấy bỏ tất cả công việc của mình và theo Jetsušn, cuối cùng trở thành một thiền giả với một vị trí vững chắc trên đường đạo.

Sau khi vượt sông Tsangpo, họ du hành về phía Nam, xuống những cánh đồng và trang trại xứ Mar. Ở một góc làng, một đám đông đang tụ hội và Jetsušn kêu lên, “Người nào có lòng tin – hãy cho hai thiền giả chúng tôi thực phẩm ngày hôm nay !”

Một người trẻ trả lời, “Tôi đã thấy những người ăn mày, nhưng không ai tồi tàn bằng hai người ! Các ông không có áo để che thân hay một cái bao đựng thức ăn hay ngay cả một thái độ khiêm tốn. Các ông khỏi phải xin tôi – các ông đã cho tôi một màn trình diễn chính cống !”

Một người đàn bà trẻ sửa soạn bột lúa mạch và đưa cho cùng với bơ và một chén ya-ua, nói rằng, “Bây giờ các vị có thể thu nhận đồ ăn từ những người khác nữa.”

Jetsušn trả lời, “Đủ cho hôm nay rồi. Chúng tôi giữ lời nguyện chỉ khất thực ở “cửa nhà đầu tiên”. Dù nếu chúng tôi khất thực ở những người khác, chúng tôi cũng không có đồ đựng hay bao bị để mang chúng.”

Người trẻ tuổi lại nói, “Các ông không có bài ca, khúc hát, không trống, không ban phước, không cầu nguyện, không cảm kích, không cám ơn, không áo quần và không biết hổ thẹn.”

Người đàn ông khác thêm vào, “Nếu các ông có bài ca nào, hãy hát đi.”

Thế nên Jetsušn hát bài ca này :

Lama quý báu, người hướng dẫn con đường chân chánh,
Con cầu nguyện ngài – cho con ân phước.

Giờ hãy nghe, người đàn ông trẻ hùng biện :
Bằng lòng tốt của lama-cha độc nhất của tôi
Tôi được nuôi nấng với phương tiện và tình thương thuộc cha,
Dưỡng dục nơi vú trí huệ tánh Không thuộc mẹ,
Và sống bằng thực phẩm của sự hợp nhất sâu xa.

Giờ tôi đã hoàn thiện kinh nghiệm và thiện xảo.
Sự chuyển hóa do quán tưởng thành cái thiêng liêng,
Với tỉnh giác đầy thần lực về trạng thái tự nhiên,
Sức mạnh bên trong của cái thấy, thiền định và thực hành,
Và hơi nóng phúc lạc của AH của tummo ngời sáng trong thân.

Cỡi con ngựa huyễn của tâm và khí.
Tôi phóng xa khỏi tầm với của Thần Chết.
Và đi qua thành phố của giải thoát đầy phúc lạc.
Nhờ công đức của tặng vật của người đàn bà này
Nguyện cho tất cả chúng sanh, dẫn đầu là bà,
Có cuộc đời mạnh khỏe, dài lâu và hạnh phúc –
Và cuối cùng đạt đến Phật tánh hoàn hảo.
Hỡi người đàn ông trẻ, vào thời điểm chết của ông,
Mong ông được vào tịnh quang của pháp thân
Với tâm thức và trí nhớ không bị che ám,
Trải nghiệm những giai đoạn của cái chết đến khi tịnh quang mọc lên.

Mọi người kính lễ và bao quanh ngài. Người đàn ông trẻ tạ lỗi, và trong sự tin tưởng lớn lao người đàn bà trẻ thỉnh cầu chỉ dạy, cởi một viên ngọc bích từ cổ làm vật cúng dường. Jetsušn, từ chối bằng bài ca :

Con cầu nguyện những lama của con –
Xin các ngài ban phước cho những người tín mộ này.

Viên ngọc quý này của tịnh quang
Của nhất thiết trí thanh tịnh bổn nhiên
Được giữ chặt trong cái móc gài của đại bi và tánh Không,
Được đánh bóng bởi sự sáng tỏ của nội quán,
Và xâu trên xâu chuỗi của trạng thái tự nhiên.

Đây là hòn đá nơi sanh ra của tôi, người hành thiền.
Tôi không muốn vật quý giá của bà ;
Nhưng do công đức cúng dường nó cho tôi
Với lòng tin và sùng mộ,
Nguyện bà hoàn thành hai kho công đức và trí huệ.
Và may mắn có được sắc thân tuyệt hảo
Trang hoàng với tất cả tướng tốt.

Mong bà có may mắn được cuộc đời sống lâu sung túc.
Mong bà có may mắn được hạnh phúc bây giờ
Mong bà có may mắn được niết bàn vào lúc cuối
Mong bà có may mắn được pháp thân cho chính bà,
Và sắc thân vì lợi lạc của những người khác.

Được dân chúng mời, họ ở lại vài ngày để dạy đạo, sau đó họ đi du hành một ngày qua Tra Rum. Họ ở trong một căn nhà bỏ hoang đêm ấy và bỏ đi sáng sớm hôm sau. Trên đường họ gặp một người đàn bà xách nước. Mila cầm gấu áo bà và nói, “Nào, cho những thiền giả chúng tôi chút đồ ăn sáng !”

“Các thiền giả tham ăn !”, bà trả lời, giật gấu áo lại, “Các vị đến từ đâu, mà chộp lấy tôi và hỏi tôi có gì cung cấp cho cái bụng của các vị ? Các vị cần để ý đến cái bao tử của tôi ! Tôi chắc chắn các vị có một chỗ cho riêng các vị – hãy đi canh tác nó mà ăn. Các vị cũng có một thân thể như tôi vậy.”

Như thế Mila hát cho bà bài ca này về sự phân biệt cái tương tự :

Tâm đích thực, trong sáng và trống không,
Giống như hư không –
Nhưng sự so sánh tâm với hư không sẽ không vững,
Vì tâm thì biết, dù trống không,
Trong khi hư không thì trống không, không có thức giác.
Chúng tương tự trong sự trống không của chúng,
Nhưng thực tế rất khác nhau.

Tâm đích thực, trong sáng và trống không,
Giống như mặt trời và mặt trăng –
Nhưng sự so sánh tâm với mặt trời và mặt trăng sẽ không vững,
Vì tâm thì trong sáng và không chất thể ;
Trong khi mặt trời và mặt trăng thì trong sáng nhưng cứng đặc.
Chúng tương tự trong sự trong sáng của chúng,
Nhưng thực tế rất khác nhau.

Tâm hiện thực này, trong sáng và trống không,
Giống như trái núi trụ vững ở đây –
Nhưng sự so sánh tâm với trái núi sẽ không vững,
Vì tâm thì không hợp tạo
Trong khi trái núi kia tạo thành bởi các nguyên tử.
Chúng tương tự trong sự không biến động của chúng,
Nhưng thực tế rất khác nhau.

Tâm hiện thực này, trong sáng và trống không,
Giống như dòng sông chảy xuống ở đây –
Nhưng sự so sánh tâm với dòng sông sẽ không vững,
Vì tâm thì không hợp tạo
Trong khi dòng sông kia là sự tụ hội của nhiều dòng suối.
Chúng tương tự trong sự trôi chảy thường trực của chúng
Nhưng thực tế rất khác nhau.

Tâm hiện thực này, trong sáng và trống không,
Giống như nhau giữa tôi và bà –
Nhưng sự so sánh giữa tôi với bà sẽ không vững.
Bà đắm mình trong những công việc thế gian :
Phóng dật với lao nhọc buồn chán suốt ngày,
Mê mờ với giấc ngủ ban đêm,
Một kẻ nô lệ cho tham ái từ bình minh đến hoàng hôn.

Tôi là một thiền giả khổ hạnh :
Tôi làm việc cho lợi lạc của chúng sanh suốt ngày,
Tôi đắm mình trong tịnh quang suốt đêm,
Thờ cúng với những torma từ bình minh đến hoàng hôn.
Chúng ta tương tự trong thân thể người,
Nhưng rất khác nhau trong thành công của đời sống chúng ta.

Người đàn bà cực kỳ xúc động và cuối cùng mời họ vào nhà và tiếp đãi rất tôn kính. Bà cắt tóc, đổi tên và thỉnh cầu giáo huấn về thực hành đại ấn, dâng cúng một cục vàng cho lễ nhập môn. Về sau bà trở thành một người đàn bà chứng ngộ tuyệt hảo.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/03/2018(Xem: 22725)
Chúng ta đang ở vào năm thứ 18 của Thế Kỷ 21 và chỉ còn 82 năm nữa nhân loại sẽ bước vào Thế Kỷ 22. Có rất nhiều biến động của thế kỷ trước mà chúng ta đã quên mất rồi. Nhân dịp về hưu rảnh rỗi tôi lục lại cuốn Biên Niên Sử Thế Kỷ 20 (Chronicle of the 20th Century) để xem nhân loại phát minh ra những gì, chịu những thống khổ, những vui buồn như thế nào và có bao nhiêu cuộc chiến tranh giữa các đế quốc. Sự thực phũ phàng của 118 năm qua là, một quốc gia tuy nhỏ bé nhưng có vũ khí tối tân và bộ máy quân sự khổng lồ vẫn có thể bá chủ thế giới và biến các quốc gia to rộng gấp mười lần mình thành nô lệ. Do đó muốn tồn tại trong độc lập, ngoài phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học, lúc nào cũng phải tăng cường binh bị, vũ khí cho kịp đà tiến triển của nhân loại. Sách lược ngoại giao cũng là một vũ khí nhưng sức mạnh quân sự của một quốc gia là loại vũ khí vững chắc nhất.
02/02/2018(Xem: 12102)
Rắc Rối Về Phật Giáo Của Bà San Suu Kyi. "Aung San Suu Kyi’ s Buddhism Problem” Tại sao biểu tượng dân chủ của Miến Điện lại không lên tiếng bênh vực các sắc dân thiểu số và chống lại chủ nghĩa quốc gia, tinh thần kỳ thị chủng tộc, bài ngoại và thỉnh thoảng bạo động của tín đồ Phật Giáo chiếm đa số trên đất nước Miến Điện? (Bài viết của William McGowan đăng trên tạp chí Foreign Policy ngày 17/9/2012) Suốt đoạn đường đấu tranh lâu dài chống lại các ông tướng của Miến Điện, Bà Aung San Suy Kyi – biểu tượng của nền dân chủ- phần lớn dựa vào tinh thần Phật Giáo. Bà đã tán dương một tôn giáo đã giúp bà tìm thấy tự do ở trong tâm tưởng suốt 15 năm bị quản thúc tại gia và nói rằng giáo lý, chẳng hạn như “bao dung” (loving kindness) có thể giúp
01/01/2018(Xem: 51582)
Đại Bảo tháp Phật giáo cổ xưa Nelakondapalli ở huyện Khammam đang ở giai đoạn cuối của việc tu sửa. Với kinh phí khoảng 6 triệu Rupee, Cục Khảo cổ học và Bảo tàng đã thực hiện công việc để Đại Bảo tháp khôi phục lại vinh quang ban đầu và để bảo tồn kiến trúc cổ xưa này cho hậu thế. Di tích Phật giáo này, tọa lạc cách thị trấn Khammam khoảng 22 km, là một trong những điểm đến du lịch nổi tiếng nhất của bang Andhra Pradesh. Đại Bảo tháp đồ sộ, vốn đã tồn tại qua nhiều thế kỷ của sự hao mòn, đang được tu sửa sau khi cư dân và các sử gia địa phương nhiều lần cầu xin để bảo tồn di tích lịch sử có tầm quan trọng lớn lao về khảo cổ học này. Cục khảo cổ học cho biết loại gạch đặc biệt được đặt làm cũng như các vật chất kết nối tự nhiên đã được sử dụng để tăng cường cho cấu trúc của Đại Bảo tháp. (bignewsnetwork – April 18, 2015)
15/11/2017(Xem: 13521)
Phật Giáo Hoa Tông theo dòng lịch sử - HT Thích Thiện Nhơn
01/11/2017(Xem: 5511)
Phật Giáo Tại Hoa Kỳ - Thích Nguyên Tạng, Hoa Kỳ, một quốc gia ở lục địa Bắc Mỹ, gồm 50 tiểu bang. Diện tích 9,4 triệu m2, dân số 326,766,748 triệu người (thống kê 2018, dân số Hoa Kỳ đứng hàng thứ ba thế giới, sau Trung Quốc và Ấn Độ), mật độ dân cư: 26,6 người/km2 . Tuổi thọ trung bình: 75,9 tuổi; học sinh cấp 2: 98%; thu nhập bình quân đầu người: 55.925 đô la. Đây là một quốc gia được thành lập từ cuối thế kỷ 18 (từ 13 thuộc địa của Anh quốc). Nhưng đến cuối thế kỷ 19 đã trở thành một nước tư bản phát triển đến giai đoạn chủ nghĩa, bắt đầu đi xâm lược và mở rộng thị trường trên khắp hoàn cầu. Từ sau thế chiến thứ hai, Hoa Kỳ đã trở thành một nước tư bản độc quyền, đứng đầu hệ thống các nước tư bản chủ nghĩa trên thế giới. Hoa Kỳ cũng được xem là một quốc gia có nền dân chủ xưa nhất trong các nền dân chủ lớn hiện đại.
18/10/2017(Xem: 9953)
Lịch sử Phật Giáo qua tem bưu chính, Trần Thanh Lý biên soạn
08/06/2017(Xem: 8271)
Ngũ Tổ Tự là đạo tràng hoằng pháp của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, là một trong những ngôi đại già lam quan trọng của Phật Giáo thuộc địa khu Hán tộc. Chùa được kiến lập vào năm 654 (Vĩnh Huy [永徽] 5) nhà Đường. Sau khi Hoằng Nhẫn khai sáng đạo tràng tại Đông Sơn (東山), gây chấn động toàn quốc, môn đồ thường trú đương thời có khi lên đến cả ngàn người. Từ khi Võ Tắc Thiên (武則天, tại vị 684-705) tức vị, phật giáo được xem trọng hơn.
20/04/2017(Xem: 11774)
Với tôi, tiếng Nhật là ngoại ngữ thứ 3 mà tôi phải học (sau tiếng Anh và tiếng Pháp) vào năm 1972 khi tôi mới đến Nhật. Lúc ấy hầu như tôi không biết một tiếng Nhật nào cả. Là một Tăng Sĩ của Phật Giáo Việt Nam, năm 1971 sau khi học xong Trung Học Đệ Nhị cấp tại Việt Nam, vì thích đi du học tại Nhật Bản nên tôi liền đến Tòa Đại Sứ của Nhật tại miền Nam Việt Nam để tìm hiểu và nộp đơn xin du học. Kết quả là vào ngày 22 tháng 2 năm 1972 tôi đã đến Nhật.
26/12/2016(Xem: 7100)
Đạo Phật đang phát triển nhanh chóng tại Úc Châu, nơi các Hội đồng Phật giáo không kịp đào tạo các giáo viên thiện nguyện cho các trường công để đáp ứng làn sóng học sinh muốn tìm học về tôn giáo hòa bình này. Nhiều trường công lập Úc châu có tiết học dài 30 phút về tôn giáo, trên nguyên tắc không phải là truyền giáo nhưng là
26/12/2016(Xem: 10170)
Châu Phi cho đến bây giờ vẫn là lục địa đen nghèo đói, bệnh tật và lạc hậu trong con mắt thế giới. Nhưng có một góc khác của châu Phi ít có người biết đến Phật giáo ở Châu Phi. Phật pháp đã được ươm mầm trên mảnh đất khô cằn Châu Phi, người dân bắt đầu biết đến Phật, Pháp và Tăng, tuy nhiên có những chuyện Phật bi hài chỉ có ở lục địa đen mà không thể có ở những xứ khác.